Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN C

TỈNH KHÁNH HÒA

Bản án số: 57/2024/HSST

Ngày 23 tháng 8 năm 2024

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH KHÁNH HÒA

T phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Hằng
  • - Các hội thẩm nhân dân:
    • Ông Nguyễn Minh
    • Ông Võ Thu

Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Ngọc Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hòa tham gia phiên tòa: Ông Trần Danh Cảnh - Kiểm sát viên.

Ngày 23/8/2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện C, tỉnh Khánh Hoà xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 61/2024/HSST ngày 12 tháng 7 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 8 năm 2024 đối với các bị cáo:

1/ Huỳnh Văn T- sinh ngày 01/8/1996 tại Khánh Hòa; nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố 2, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: lao động tự do; học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: không; quốc tịch: Việt Nam; Cha (không rõ); Mẹ: Huỳnh Thị C (sinh năm 1976); Vợ, con: chưa. Tiền án, tiền sự: không.

Nhân thân: Ngày 03/11/2017 bị Công an huyện C xử phạt vi phạm hành chính về hành vi đánh bạc trái phép (Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 112/QĐ-XPHC ngày 03/11/2017)

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 11/4/2024 và đang tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an huyện C. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

2/ Đỗ Khát V- sinh ngày 15/12/1998 tại Đồng Nai; nơi đăng ký thường trú: tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện C, tỉnh Khánh Hòa; nghề nghiệp: thợ hớt tóc; học vấn: 11/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; Cha: Đỗ Quang I (đã chết); Mẹ: Phạm Thị Đ (sinh năm 1964); Vợ, con: chưa. Tiền án, tiền sự: không.

Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú. (Bị cáo có mặt tại phiên tòa).

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1964

Địa chỉ: Tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện C, Khánh Hòa. (Có mặt tại phiên tòa).

* Người làm chứng:

  • - Ông Ngô Hữu Th, sinh năm 1994
  • Địa chỉ: Tổ dân phố B, thị trấn Đ, huyện C, Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).

  • - Ông Nguyễn Duy A, sinh năm 1991
  • Địa chỉ: Thôn G, xã H, huyện C, Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).

  • - Ông Nguyễn Hữu P, sinh năm 1994
  • Địa chỉ: Tổ dân phố 1, thị trấn Đ, huyện C, Khánh Hòa. (Vắng mặt tại phiên tòa).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào ngày 26/5/2023, Huỳnh Văn T mua 13 bịch ma túy đá của một nam thanh niên tên “Chó" (chưa xác định nhân thân, lai lịch) ở khu vực kho đạn thuộc tổ dân phố A, phường N, T phố R với giá 01 triệu đồng, đem về vừa bán lại kiếm lời, vừa sử dụng cho nhu cầu của bản thân. Trong hai ngày 26/5/2023 và 27/5/2023, T lấy 02 bịch ma túy ra sử dụng, còn lại 11 bịch T cất giấu tại nhà. Khoảng 22 giờ ngày 28/5/2023, Đỗ Khát V gọi điện thoại cho T hỏi mua 300.000 đồng tiền ma túy đá và rủ T cùng sử dụng thì T đồng ý. Do sử dụng chung ma túy nên T chỉ lấy của V số tiền 200.000 đồng. Sau đó, V điều khiển xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner, gắn biển số 79Z1 - 483.39 đến nhà đón T. Khi đi, T đem theo 01 túi nylon bên trong chứa 11 bịch ma túy đá và 01 bộ dụng cụ sử dụng ma túy, đi cùng V đến khu vực Cầu Máng thuộc tổ dân phố N, thị trấn Đ để sử dụng. Trên đường đi, phát hiện bộ dụng cụ còn thiếu chai nhựa nên cả hai quay lại nhà V lấy 01 chai nước suối bằng nhựa nhãn hiệu Sanna. Khi đến Cầu Máng, T lấy ra 01 bịch ma túy đá đổ ra nỏ thủy tinh, dùng bật lửa hơ nóng để cả hai cùng thay phiên nhau sử dụng. Sau khi sử dụng xong, cả hai thu gom các dụng cụ và vứt lại chai nhựa Sanna, V điều khiển xe mô tô chở T về nhà.

Khoảng 00 giờ 10 phút ngày 29/5/2023, cả hai đi đến đoạn đường Đại Hàn thuộc tổ dân phố 2, thị trấn Đ thì nhìn thấy Tổ tuần tra của Công an thị trấn Đ. Sợ bị phát hiện nên T thọc tay vào túi quần bên phải lấy túi nylon bên trong có chứa 10 bịch ma túy đá ném xuống lề đường để phi tang nhưng do túi nylon bị hở nên lúc T lấy ra ngoài đã có 01 bịch ma túy rơi ra và nằm lại trong túi quần của T. Sau đó, V tiếp tục chở T đi thêm một đoạn khoảng 10m nữa thì bị Tổ tuần tra yêu cầu dừng xe lại kiểm tra, phát hiện trong túi quần bên phải của T có 01 bịch nylon kích thước (3x1)cm, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể dạng rắn màu trắng (được niêm phong trong phong bì ký hiệu A) và trong túi áo khoác của T có 01 nỏ thủy tinh, bên trong có bám dính chất tinh thể màu nâu (được niêm phong trong phong bì ký hiệu C), 01 ống hút nhựa, 01 bật lửa gaz, 01 cái kéo. Mở rộng phạm vi tìm kiếm, Tổ tuần tra phát hiện và thu giữ 01 túi nylon màu trắng, kích thước (6x4)cm, một đầu hở, bên trong có chứa 09 bịch nylon màu trắng, mỗi bịch kích thước (3x1)cm, được hàn kín hai đầu, bên trong chứa chất tinh thể dạng rắn màu trắng (tất cả được niêm phong trong phong bì ký hiệu B). Tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của Huỳnh Văn T tại tổ dân phố 2, thị trấn Đ, Cơ quan điều tra đã thu giữ 02 túi nylon, 04 đoạn ống hút nhựa theo T khai là để đựng chất ma túy còn sót lại sau những lần T sử dụng ma túy trước đây. Xét nghiệm nhanh chất ma túy đối với Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V cho kết quả dương tính với chất Methamphetamine (ma túy đá).

Quá trình điều tra, Cơ quan điều tra còn xác định: Ngoài việc bán ma túy cho V nêu trên thì vào đầu tháng 5/2023 (không rõ ngày giờ), V còn liên hệ mua ma túy đá của T với giá 300.000 đồng và giao tại khu vực gần trường THPT Trần Bình Trọng thuộc tổ dân phố 1, thị trấn Đ. Ngày 25/5/2023, V tiếp tục liên hệ với T để mua 300.000 đồng tiền ma túy đá và giao tại khu vực đường vào Trường Trung cấp nghề C thuộc thôn 2, xã H; Nguyễn Duy A (Cào) đã liên hệ mua ma túy đá của T 02 lần vào các ngày 13/5/2023 và 18/5/2023, mỗi lần mua A trả cho T 200.000 đồng tiền mặt, cả hai lần A và T đều giao nhận ma túy tại khu vực rẫy xoài thuộc tổ dân phố 2, thị trấn Đ; Ngô Hữu Th đã liên hệ mua ma túy đá của T 02 lần vào ngày 22/5/2023 và 24/5/2023, mỗi lần T bán cho Th 01 bịch ma túy đá với giá 300.000 đồng và giao tại khu vực đầu đường vào Trường Trung cấp Nghề C; ngoài ra, trong tháng 5/2023, T còn bán ma túy đá cho 02 thanh niên lạ mặt nhưng T không xác định được nhân thân, lai lịch của 02 người này. Tại Cơ quan điều tra, Huỳnh Văn T, Đỗ Khát V, Nguyễn Duy A và Ngô Hữu Th đã khai nhận hành vi của mình như nội dung nêu trên.

Tại Kết luận giám định số 323/2023/KL-KTHS ngày 11/7/2023 của Phòng Kỹ thuật hình sự Công an tỉnh Khánh Hòa kết luận:

  • + Tinh thể màu trắng trong gói nylon của mẫu ký hiệu A gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,1027g, là (loại) Methamphetamine.
  • + Tinh thể màu trắng trong gói nylon của mẫu ký hiệu B gửi giám định là ma túy, có khối lượng 1,2612g, là (loại) Methamphetamine.
  • + Chất rắn màu nâu trong ống thủy tinh của mẫu ký hiệu C gửi giám định là ma túy, có khối lượng 0,0584g, là (loại) Methamphetamine

Số lượng ma túy đã sử dụng hết trong quá trình giám định; hoàn lại 01 ống thủy tinh trong mẫu ký hiệu C.

Tại Bản Cáo trạng số 61/CT-VKSCL ngày 12/7/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố bị cáo Huỳnh Văn T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy" theo điểm b khoản 2 Điều 251 và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; truy tố bị cáo Đỗ Khát V về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa:

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện C giữ nguyên quyết định truy tố các bị cáo Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V, đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T từ 07 năm 06 tháng đến 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy"; áp dụng Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017 tổng hợp hình phạt buộc bị caó chấp hành hình phạt cả hai tội là 09 năm 06 tháng tù đến 10 năm tù.
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Đỗ Khát V từ 02 năm đến 02 năm 06 tháng tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy".
  • - Không áp dụng hình phạt bổ sung “Phạt tiền” đối với các bị cáo Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V.

Các bị cáo Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V thừa nhận hành vi phạm tội, không tranh luận.

Trước khi Hội đồng xét xử nghị án, các bị cáo Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V năn hối cải, xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt; bị cáo Đỗ Khát V xin được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Các nhân chứng được Tòa án triệu tập đến phiên tòa nhưng vắng mặt. Xét thấy, việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc giải quyết vụ án nên căn cứ Điều 293 của Bộ luật tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo thủ tục chung.

[2] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện Kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Tại phiên toà, các bị cáo Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V đã khai nhận hành vi phạm tội của bị cáo. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại cơ quan điều tra và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hội đồng xét xử có căn cứ kết luận: Huỳnh Văn T là đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên sử dụng ma túy đá. Để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân, ngày 26/5/2023, T liên hệ với đối tượng tên "Chó" mua 13 bịch ma túy đá (Methamphetamine) với giá 1.000.000 đồng để vừa sử dụng cho bản thân, vừa bán lại kiếm lời. Khoảng 22 giờ ngày 28/5/2023, tại khu vực Cầu Máng thuộc tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện C, T đã bán cho Đỗ Khát V 01 bịch ma túy đá với giá 300.000 đồng. Ngoài ra, trong tháng 5/2023, tại địa bàn xã H và thị trấn Đ, huyện C, T còn bán ma túy đá cho V 02 lần, Nguyễn Duy A 02 lần, Ngô Hữu Th 02 lần và bán cho một số đối tượng khác (không rõ nhân thân, lai lịch) trên địa bàn huyện, mỗi lần bán 01 bịch ma túy đá với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì trong đêm 28/5/2023, Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V đã cùng nhau góp ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức sử dụng tại khu vực Cầu Máng thuộc tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện C. Hành vi của bị cáo Huỳnh Văn T đã đủ yếu tố cấu T tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hành vi của bị cáo Đỗ Khát V đã đủ yếu tố cấu T tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy" theo quy định tại khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.

Viện kiểm sát nhân dân huyện C truy tố các bị cáo Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V tại Cáo trạng số: 61/CT-VKSCL ngày 12/7/2024 là có căn cứ, đúng người, đúng tội.

[4] Hành vi phạm tội của các bị cáo Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quy định của nhà nước về quản lý và sử dụng các chất ma túy, gây nguy hại và gây mất trật tự an toàn xã hội, cần xử lý nghiêm minh, phải cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ tác dụng răn đe bị cáo và phòng ngừa chung trong xã hội. Tuy nhiên, trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo đã T khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy cần áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017, xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho các bị cáo để các bị cáo thấy được sự khoan hồng của pháp luật mà tích cực cải tạo.

Đối với các đối tượng “Chó”, “Siu Pôn”, “T Luân” quá trình điều tra chưa xác định được nhân thân, lai lịch; cơ quan điều tra vẫn đang tiếp tục xác minh làm rõ để xử lý theo quy định của pháp luật.

[5] Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:

  • - Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 nó thủy tỉnh chiều dài 13cm, bên trong có bám chất tinh thể dạng rắn màu nâu; 01 ống hút nhựa màu trắng - xanh dài 30cm, một đầu gắn vào nắp nhựa màu đỏ; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, kích thước (14x5)cm; 01 bật lửa màu trắng, kích thước (8x2)cm; 01 chai nhựa nhãn hiệu Sanna, dung tích 330ml; 02 túi nylon màu trắng có kích thước (2x1.5)cm, có khóa khằn miệng túi màu xanh; 04 đoạn ống hút nhựa bị cắt rời, mỗi đoạn có các chiều dài lần lượt là 04cm, 0,24cm, 0,23cm và 0,21cm.
  • - Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, dung lượng 64Gb, màu vàng, gắn sim số 0961527136 của Đỗ Khát V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11, màu xám, có gắn sim số 0899392615 của Huỳnh Văn T.

Tình trạng vật chứng theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện C.

Đối với xe mô tô nhãn hiệu Honda Winner màu đen - vàng - đồng, biển số 79Z1 - 483.39 là tài sản của bà Phan Thị Đ (mẹ ruột của Đỗ Khát V). Bà Đ không biết việc V sử dụng xe mô tô trên vào việc phạm tội nên Cơ quan điều tra đã trả lại xe mô tô cho bà Đ; bà Đ không yêu cầu bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Về án phí: Các bị cáo Huỳnh Văn T và Đỗ Khát V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định tại Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy Ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251, khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 55 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Huỳnh Văn T.
  • Xử phạt bị cáo Huỳnh Văn T 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; tổng hợp hình phạt của hai tội bị cáo phải chấp hành 09 (chín) năm 06 (sáu) tháng tù; thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt tạm giam: ngày 11/4/2024.

  • - Áp dụng khoản 1 Điều 255, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 đối với bị cáo Đỗ Khát V.
  • Xử phạt bị cáo Đỗ Khát V 02 (hai) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”; thời hạn phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án.

  • - Về vật chứng vụ án: Căn cứ điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ Luật tố tụng hình sự:
  • Tịch thu tiêu hủy đối với: 01 nó thủy tinh chiều dài 13cm, bên trong có bám chất tinh thể dạng rắn màu nâu; 01 ống hút nhựa màu trắng - xanh dài 30cm, một đầu gắn vào nắp nhựa màu đỏ; 01 cây kéo bằng kim loại màu trắng, kích thước (14x5)cm; 01 bật lửa màu trắng, kích thước (8x2)cm; 01 chai nhựa nhãn hiệu Sanna, dung tích 330ml; 02 túi nylon màu trắng có kích thước (2x1.5)cm, có khóa khằn miệng túi màu xanh; 04 đoạn ống hút nhựa bị cắt rời, mỗi đoạn có các chiều dài lần lượt là 04cm, 0,24cm, 0,23cm và 0,21cm.

    Tịch thu sung vào công quỹ nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Iphone Xs Max, dung lượng 64Gb, màu vàng, gắn sim số 0961527136 của Đỗ Khát V; 01 điện thoại di động nhãn hiệu Realme C11, màu xám, có gắn sim số 0899392615 của Huỳnh Văn T.

    Theo biên bản giao nhận vật chứng ngày 22/8/2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C và Chi cục thi hành án dân sự huyện C.

  • - Về án phí: Căn cứ Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • Bị cáo Huỳnh Văn T phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Bị cáo Đỗ Khát V phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.

    Các bị cáo Huỳnh Văn T, Đỗ Khát V; Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Phạm Thị Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND tỉnh Khánh Hòa;
  • - VKSND huyện C;
  • - Cơ quan CSĐT Công an huyện C;
  • - Cơ quan THAHS Công an huyện C;
  • - Chi cục THADS huyện C;
  • - Bị cáo;
  • - Lưu án văn, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Thu Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HSST ngày 23/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH KHÁNH HÒA về hình sự (về tội mua bán trái phép chất ma túy và tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 57/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Về tội Mua bán trái phép chất ma túy và Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN C - TỈNH KHÁNH HÒA
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Huỳnh Văn Tlà đối tượng không có nghề nghiệp ổn định, thường xuyên sử dụng ma túy đá. Để có tiền mua ma túy sử dụng và tiêu xài cá nhân, ngày 26/5/2023, T liên hệ với đối tượng tên "Chó" mua 13 bịch ma túy đã (Methamphetamine) với giá 1.000.000 đồng để vừa sử dụng cho bản thân, vừa bán lại kiếm lời. Khoảng 22 giờ ngày 28/5/2023, tại khu vực Cầu Máng thuộc tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện C, T đã bán cho Đỗ Khát V01 bịch ma túy đá với giá 300.000 đồng. Ngoài ra, trong tháng 5/2023, tại địa bàn xã H và thị trấn Đ, huyện C, T còn bán ma túy đá cho V 02 lần, Nguyễn Duy A 02 lần, Ngô Hữu Th 02 lần và bán cho một số đối tượng khác (không rõ nhân thân, lai lịch) trên địa bàn huyện, mỗi lần bán 01 bịch ma túy đá với giá từ 200.000 đồng đến 300.000 đồng. Ngoài hành vi mua bán trái phép chất ma túy thì trong đêm 28/5/2023, Huỳnh Văn Tvà Đỗ Khát Vđã cùng nhau góp ma túy đá và dụng cụ sử dụng ma túy để tổ chức sử dụng tại khu vực Cầu Máng thuộc tổ dân phố N, thị trấn Đ, huyện C.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger