Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN EA H'LEO

TỈNH ĐẮK LẮK

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HSST

Ngày: 20-6-2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên tòa: Ông Đỗ Xuân Cường.

Các Hội thẩm nhân dân:

Ông Nguyễn Khắc Vũ

Ông Trần Tiến Dũng

- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Thị Hòa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo, tỉnh Đắk Lắk

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo tham gia phiên tòa: Ông Phan Đình Toàn - Kiểm sát viên.

Ngày 20 tháng 6 năm 2024, tại Phòng xử án - Toà án nhân dân huyện Ea H'Leo xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 61/2024/HSST, ngày 10 tháng 05 năm 2024 và theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/QĐXXST-HS, ngày 06 tháng 06 năm 2024 đối với các bị cáo:

1. Họ tên: Vũ Văn C, sinh năm 1997; tại tỉnh: Tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Vũ Văn T, sinh năm 1971 và bà Vũ Thị P, sinh năm 1976; có vợ bà Bùi Thị H, sinh năm 1997 (đã ly hôn); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023, đến ngày 22/12/2023, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

2. Họ tên: Nguyễn Thành C1, sinh năm 1987; tại tỉnh: Tỉnh Bình Định; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố E, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Ngọc D, sinh năm 1957 và bà Lê Thị Ú, sinh năm 1958; có vợ bà Nguyễn Thị Bảo M, sinh năm 1989 (đã ly hôn); bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2008 và con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023, đến ngày 22/12/2023, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

3. Họ tên: Nguyễn Quốc C2, sinh năm 1986; tại tỉnh: Tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn P1, sinh năm 1953 và bà Lý Thị L, sinh năm 1959; có vợ bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1985; bị cáo có 03 người con, con lớn sinh năm 2012 và con nhỏ sinh năm 2021; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023, đến ngày 22/12/2023, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

4. Họ tên: Nguyễn Anh K, sinh năm 1995; tại tỉnh: Tỉnh Bình Định; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Thôn D, xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Văn Đ, sinh năm 1964 và bà Huỳnh Thị Thu V (Đã chết); Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023, đến ngày 22/12/2023, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

5. Họ tên: Phạm Văn T1, sinh năm 1992; tại tỉnh: Tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố I, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Phạm Văn T2, sinh năm 1965 và bà Phan Thị H1, sinh năm 1962; có vợ bà Trần Đoàn Phương T3, sinh năm 1997; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2019 và con nhỏ sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023, đến ngày 22/12/2023, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

6. Họ tên: Trần Hoàng C3, sinh năm 1988; tại tỉnh: Tỉnh Đắk Lắk; nơi cư trú và chỗ ở hiện nay: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; nghề nghiệp: Làm nông; trình độ học vấn: 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Trần Đình T4, sinh năm 1950 (đã chết) và bà Trần Thị H2, sinh năm 1953; có vợ bà Hoàng Thị H3, sinh năm 1988; bị cáo có 02 người con, con lớn sinh năm 2012 và con nhỏ sinh năm 2015; Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt tạm giữ từ ngày 20/12/2023, đến ngày 22/12/2023, được Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E, áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Trần Đình Đức Q, sinh năm 2000. Địa chỉ: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

- Người làm chứng: Chị Tô Thị Yến T5, sinh năm 1996. Địa chỉ: Tổ dân phố A, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk. Vắng mặt

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Vào khoảng 12 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, Vũ Văn C, Trần Hoàng C3, Phạm Văn T1, đi đến quán C6 thuộc tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E để uống nước. Tại đây, Văn C rủ C3, T1 đánh bạc dưới hình thức đánh “Bầu Cua” thắng thua bằng tiền trên ứng dụng điện thoại di động của Văn C thì C3T1 đồng ý. Sau đó, Văn C tải ứng dụng “BAU CUA 2024” về điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Realme C15 của mình, rồi Văn C bỏ ra số tiền 700.000 đồng, T1 bỏ ra 300.000 đồng, C3 bỏ ra 250.000 đồng để tham gia đánh bạc. Một lúc sau, Nguyễn Thành C1 đến bỏ ra số tiền 2.000.000 đồng, Nguyễn Quốc C2 bỏ ra 1.500.000 đồng, Nguyễn Anh K bỏ ra 1.000.000 đồng cùng tham gia đánh bạc. Tất cả thống nhất hình thức đánh bầu cua được thua bằng tiền như sau: Sử dụng mặt bàn bằng gỗ của quán cà phê R, được đặt ngang trước mặt của Vũ Văn C (người cầm cái) và quy ước các hình con vật gồm: Cá, G, N1, T6, C4 và hình trái Bầu. Theo đó, C1, C3, T1, KQuốc C2 ngầm hiểu vị trí của các con vật và hình trái bầu; cụ thể: Hàng thứ nhất trước mặt Văn Cường theo thứ tự từ trái qua phải là C5, C4, T6; hàng thứ 2 là N1, B, G; khi mở ứng dụng “BAU CUA 2024” thì có hình một cái đĩa đựng ba hột hình hộp vuông có 06 (sáu) mặt in hình các con vật C5, G, N1, T6, C4, hình trái B và hình một cái tô để úp lại. Sau đó, Vũ Văn C để điện thoại trên bàn và mở ứng dụng chơi bầu cua ra, rồi C bấm vào nút có chữ “Xóc” thì chiếc tô sẽ úp ba hột bầu cua lại. Lúc này, những người tham gia đánh bạc sẽ đặt tiền vào vị trí các con vật: Cá, G, N1, T6, C4 và hình trái B đã quy ước từ trước ở trên bàn theo ý thích của mình. Sau khi những người tham gia đánh bạc đã đặt tiền xong thì Văn C sẽ bấm vào nút có chữ “Mở” thì tô sẽ mở và cho ra kết quả. Trường hợp khi mở tô ra mà ba hột bầu cua ở trong đĩa thể hiện hình con vật nào (Cá, G, N1, T6, C4, trái Bầu nhìn theo hướng từ trên xuống) thì người tham gia đánh bạc đã đặt tiền cược vào ô có in hình con vật trùng với hình con vật của hột bầu cua ở trong đĩa là người thắng cược (người thắng sẽ được người làm cái chung cho số tiền tương ứng với số tiền đã đặt cược nếu trong đĩa có một hột bầu cua trùng với hình đã đặt cược; được chung gấp hai lần nếu trong đĩa có hai hột bầu cua trùng với hình đã đặt cược; được chung gấp ba lần nếu trong đĩa có ba hột bầu cua trùng với hình đã đặt cược). Trường hợp khi mở tô ra mà ba hột bầu cua ở trong đĩa thể hiện hình con vật nào (Cá, G, N1, T6, C4, trái Bầu nhìn theo hướng từ trên xuống) không có hột bầu cua nào trùng với hình mà những người tham gia đánh bạc đã đặt cược thì lúc này người làm cái là người thắng và sẽ lấy tiền của những người đã tham gia đặt cược. Quá trình tham gia đánh bạc thì quy ước đặt lớn nhất là 500.000 đồng, nhỏ nhất là 50.000 đồng; một người có thể được đặt nhiều mặt hoặc không đặt tiền trong cùng một ván đánh bạc. Sau khi kết thúc một lần xóc bầu cua, Văn C sẽ tiếp tục xóc và chơi ván tiếp theo, không quy định tiền xâu. Đến khoảng 14 giờ 30 phút cùng ngày khi tất cả đang đánh bạc thì bị Công an huyện E phát hiện, bắt quả tang. Thu giữ tổng số tiền sử dụng vào việc đánh bạc là 5.750.000 đồng; 01 cái bàn bằng gỗ màu xám; 03 cái ghế salon màu xám; 02 cái ghế bằng sắt màu đen và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Realme C15 màu xanh, không gắn sim số.

Tại bản cáo trạng số: 61/CT-VKS, ngày 09 tháng 05 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'Leo truy tố các bị cáo Vũ Văn C, Trần Hoàng C3, Phạm Văn T1, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Anh K, Nguyễn Quốc C2 về tội "Đánh bạc" theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát giữ nguyên quan điểm truy tố, đồng thời đánh giá về tính chất, mức độ, hành vi phạm tội của các bị cáo và xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Từ đó đề nghị Hội đồng xét xử:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn C, Trần Hoàng C3, Phạm Văn T1, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Anh K, Nguyễn Quốc C2 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn C từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án tuyên.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành C1 từ 09 tháng đến 12 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án tuyên.

  3. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc C2 từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án tuyên.

  4. Bị Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 khoản 2 và khoản 5 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh K từ 06 tháng đến 09 tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách bằng hai lần mức án tuyên.

  5. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 36 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T1 từ 12 đến 15 tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày từ ngày 20/12/2023 đến ngày 22/12/2023.

    Miễn khấu trừ thu nhập cá nhân vì bị cáo có công việc và thu nhập không ổn định.

  6. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 Điều 36 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng C3 từ 12 đến 15 tháng tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian tạm giữ từ ngày từ ngày 20/12/2023 đến ngày 22/12/2023.

    Miễn khấu trừ thu nhập cá nhân vì bị cáo có công việc và thu nhập không ổn định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Đối với số tiền 5.750.000 đồng các bị cáo sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Realme C15 màu xanh, không gắn sim số của Vũ Văn C sử dụng vào mục đích phạm tội nên cần tịch thu sung quỹ Nhà nước.

Đối với 01 cái bàn bằng gỗ màu xám; 03 cái ghế salon màu xám; 02 cái ghế bằng sắt màu đen do anh Trần Đình Đức Q (sinh năm 2000, trú tại: Tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E), là chủ quán cà phê R làm chủ sở hữu; việc các bị can sử dụng các công cụ nêu trên để đánh bạc, anh Q không biết. Vì vậy, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã ra Quyết định xử lý vật chứng giao trả cho anh Q là chủ sở hữu hợp pháp.

Đối với địa điểm là nơi các bị cáo đánh bạc. Khi các bị cáo đánh bạc anh Q là chủ quán không biết nên không có căn cứ để xử lý.

Tại phần tranh luận: Kiểm sát viên vẫn giữ nguyên quan điểm luận tội. Các bị cáo không có ý kiến gì về quyết định truy tố của Viện kiểm sát và không tranh luận gì với lời luận tội của đại diện Viện kiểm sát.

Các bị cáo nói lời sau cùng: Các bị cáo đều xin được giảm nhẹ hình phạt và được hưởng mức án nhẹ nhất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về tố tụng: Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện E, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Ea H'leo, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục, quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2]. Về nội dung: Vào khoảng 14 giờ 30 phút ngày 20/12/2023, tại quán C6 thuộc tổ dân phố D, thị trấn E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk; Vũ Văn C, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Quốc C2, Nguyễn Anh K, Phạm Văn T1Trần Hoàng C3 đang có hành vi đánh bạc dưới hình thức đánh bầu cua được thua bằng tiền, trên ứng dụng điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Realme C15 của Vũ Văn C, thì bị Công an huyện E phát hiện, bắt quả tang. Tổng số tiền thu giữ vào việc đánh bạc là 5.750.000 đồng.

Tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự quy định:

“1. Người nào đánh bạc trái phép dưới bất kỳ hình thức nào được thua bằng tiền hay hiện vật trị giá từ 5.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 5.000.000 đồng nhưng đã bị xử phạt vi phạm hành chính về hành vi này hoặc hành vi quy định tại Điều 322 của Bộ luật này hoặc đã bị kết án về tội này hoặc tội quy định tại Điều 322 của Bộ luật này, chưa được xóa án tích mà còn vi phạm, thì bị phạt tiền từ 20.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm.”.

Như vậy, có đủ căn cứ để xác định các bị cáo Vũ Văn C, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Quốc C2, Nguyễn Anh K, Phạm Văn T1Trần Hoàng C3 đã phạm tội “Đánh bạc”, theo khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự.

Về tội danh, điều luật áp dụng mà đại diện Viện kiểm sát đề nghị áp dụng đối với các bị cáo là có căn cứ, nên cần chấp nhận.

Hội đồng xét xử nhận định: Đây là vụ án có đồng phạm nhưng đồng phạm giản đơn, các bị cáo tham gia hành vi phạm tội với vai trò thực hành là chính. Tuy nhiên, khi thực hiện hành vi phạm tội vai trò của mỗi bị cáo là khác nhau, nên cần phân hóa hành vi của các bị cáo để khi áp dụng hình phạt cho tương xứng.

Đối với bị cáo Vũ Văn C là người khởi xướng rủ các bị cáo C3, T1 đánh bạc và là người chuẩn bị công cụ phạm tội cụ thể là chiếc điện thoại của Văn C. Do đó, cần áp dụng mức hình phạt đối với bị cáo Văn C nghiêm khắc và cao hơn so với các bị cáo còn lại.

Đối với các bị cáo Nguyễn Thành C1, Nguyễn Quốc C2 tham gia đánh bạc với vai trò tích cực. Các bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền lớn so với các bị cáo còn lại nên tính chất và hành vi hai bị cáo phạm tội khi tham gia đánh bạc là tương đương với nhau. Cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc và ngang bằng đối với hai bị cáo và thấp hơn so với bị cáo Văn C.

Đối với các bị cáo Nguyễn Anh K tham gia đánh bạc với vai trò tích cực. Bị cáo tham gia đánh bạc với số tiền thấp hơn hơn so với các bị cáo Nguyễn Thành C1, Nguyễn Quốc C2. Cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc và thấp hơi bị cáo Chung và Quốc C2.

Đối với các bị cáo Phạm Văn T1Trần Hoàng C3 tham gia đánh bạc với số tiền không lớn và tương đương nhau, nên cần áp dụng hình phạt nghiêm khắc nhưng thấp hơn so với các bị cáo còn lại.

[3]. Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo Vũ Văn C, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Quốc C2, Nguyễn Anh K, Phạm Văn T1Trần Hoàng C3 đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, các bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, nên cần áp dụng cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 điều 51 Bộ luật hình sự. Gia đình bị cáo Nguyễn Quốc C2 có hoàn cảnh kinh tế khó khăn được chính quyền địa phương xác nhận nên cần áp dụng cho bị cáo Quốc C2 được hưởng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm khoản 2 điều 51 Bộ luật hình sự.

Vì vậy, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo, để thể hiện chính sách khoan hồng của pháp luật. Đối với các bị cáo Vũ Văn C, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Quốc C2, Nguyễn Anh K, nhận thấy các bị cáo có nơi cư trú rõ ràng, ổn định, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, thiết nghĩ không cần thiết cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội mà chỉ cần áp dụng đối với các bị cáo bằng biện pháp miễn chấp hành hình phạt tù có điều kiện, cho bị cáo hưởng án treo để bị cáo tự rèn luyện mình dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe đối với bị cáo.

Đối với các bị cáo Phạm Văn T1Trần Hoàng C3 tham gia đánh bạc số tiền không lớn, nên cần áp dụng mức hình phạt cải tạo không giam giữ để bị cáo tự rèn luyện mình dưới sự giám sát của gia đình và chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng trừng trị, răn đe đối với bị cáo.

Các bị cáo được miễn khấu trừ thu nhập cá nhân vì các bị cáo có công việc và thu nhập không ổn định.

Đối với địa điểm là nơi các bị cáo đánh bạc. Khi các bị cáo đánh bạc anh Q là chủ quán không biết nên không có căn cứ để xử lý.

[4]. Về xử lý vật chứng:

Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Cần chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã giao trả 01 cái bàn bằng gỗ màu xám; 03 cái ghế salon màu xám; 02 cái ghế bằng sắt màu đen cho anh Trần Đình Đức Q là chủ sở hữu hợp pháp.

Cần tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc 5.750.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Realme C15 màu xanh, không gắn sim số của Vũ Văn C sử dụng vào mục đích phạm tội.

[5]. Về án phí: Các bị cáo phải chịu án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn C, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Quốc C2, Nguyễn Anh K, Phạm Văn T1Trần Hoàng C3 phạm tội “Đánh bạc”.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Vũ Văn C 01 (Một) năm tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 02 (Hai) năm. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Thành C1 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  3. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 khoản 2 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc C2 09 (Chín) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 (Mười tám) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

  4. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51; khoản 1 khoản 2 Điều 65 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Anh K 08 (Tám) tháng tù, nhưng cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 16 (Mười sáu) tháng. Thời hạn tính từ ngày tuyên án sơ thẩm.

Trong thời gian thử thách giao các bị cáo Vũ Văn C, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Quốc C2, cho Ủy ban nhân dân thị trấn E và bị cáo Nguyễn Anh K cho Ủy ban nhân dân xã E, huyện E, tỉnh Đắk Lắk giám sát, giáo dục. Gia đình các bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục các bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo quy định của Điều 92 Luật thi hành án hình sự.

Trong thời gian thử thách, nếu người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật thi hành án hình sự 02 lần trở lên, thì Tòa án có thể quyết định buộc người đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo. Trường hợp thực hiện hành vi phạm tội mới thì Tòa án buộc người đó phải chấp hành hình phạt của bản án trước và tổng hợp với hình phạt của bản án mới theo quy định tại Điều 56 của Bộ luật Hình sự.

  1. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Phạm Văn T1 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày từ ngày 20/12/2023 đến ngày 22/12/2023 là 03 ngày. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ còn lại là 01 năm 05 tháng 21 ngày.

  2. Áp dụng khoản 1 Điều 321 Bộ luật hình sự; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 36 Bộ luật hình sự.

    Xử phạt: Bị cáo Trần Hoàng C3 01 (Một) năm 06 (Sáu) tháng cải tạo không giam giữ. Được khấu trừ thời gian bị cáo bị tạm giữ từ ngày từ ngày 20/12/2023 đến ngày 22/12/2023 là 03 ngày. Buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt Cải tạo không giam giữ còn lại là 01 năm 05 tháng 21 ngày.

    Thời điểm bắt đầu chấp hành án phạt cải tạo không giam giữ tính từ ngày Cơ quan thi hành án hình sự Công an cấp huyện E nhận được quyết định thi hành án của các bị cáo Phạm Văn T1Trần Hoàng C3.

    Các bị cáo Phạm Văn T1Trần Hoàng C3 được miễn khấu trừ thu nhập vì các bị cáo có công việc và thu nhập không ổn định.

Về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 1 Điều 47 Bộ luật Hình sự và khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự.

Chấp nhận Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện E đã giao trả 01 cái bàn bằng gỗ màu xám; 03 cái ghế salon màu xám; 02 cái ghế bằng sắt màu đen cho anh Trần Đình Đức Q là chủ sở hữu hợp pháp.

Tịch thu sung công quỹ Nhà nước đối với số tiền các bị cáo sử dụng đánh bạc 5.750.000 đồng và 01 điện thoại di động nhãn hiệu Xiaomi Realme C15 màu xanh, không gắn sim số của Vũ Văn C sử dụng vào mục đích phạm tội.

Về án phí: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Quốc Hội.

Các bị cáo Vũ Văn C, Nguyễn Thành C1, Nguyễn Quốc C2, Nguyễn Anh K, Phạm Văn T1Trần Hoàng C3 mỗi bị cáo phải chịu số tiền 200.000 đồng án phí Hình sự sơ thẩm.

Về quyền kháng cáo: Các bị cáo có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc niêm yết bản án hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Đắk Lắk;
  • - Sở tư pháp tỉnh Đắk Lắk;
  • - VKSND huyện Ea H'Leo;
  • - Chi cục THADS huyện Ea H'Leo;
  • - Công an huyện Ea H'Leo;
  • - Bộ phận thi hành án hình sự;
  • - Các bị cáo;
  • - Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan;
  • - Lưu hồ sơ, VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TÒA

Đỗ Xuân Cường

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HSST ngày 20/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK về hình sự về tội "đánh bạc"

  • Số bản án: 57/2024/HSST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự về tội "Đánh bạc"
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 20/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN EA H'LEO TỈNH ĐẮK LẮK
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tuyên bố: Các bị cáo Vũ Văn Cường, Nguyễn Thành Chung, Nguyễn Quốc Cường, Nguyễn Anh Kiệt, Phạm Văn Tâm và Trần Hoàng Chương phạm tội “Đánh bạc”.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger