1
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN Bản án số: 57/2024/HSST Ngày: 19-7-2024 |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đoàn.
Ông Phạm Minh Hiếu.
- Thư ký ghi biên bản phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Thanh Xuân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc: Bà Trần Tiến Diễm Hoa – Kiểm sát viên.
Ngày 19 tháng 7 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST - HS ngày 08 tháng 7 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS, ngày 09 tháng 7 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Văn S, sinh ngày: 12/02/2001.
Nơi thường trú: ấp C, xã T, huyện C, tỉnh Long An; Nghề nghiệp: làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: nam; Tôn giáo: không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Nguyễn Văn T và bà Nguyễn Thị Cẩm N; Bản thân có vợ tên Nguyễn Thị Huyền T1, có 01 con, sinh năm 2023; Tiền án: không; Tiền sự: Quyết định số 16B/QĐ.XPHC, ngày 11/01/2024 của Ủy ban nhân dân xã L, huyện C xử phạt 2.500.000 đồng về hành vi “Trộm cắp tài sản”, đã nộp phạt ngày 30/01/2024. Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 05/7/2024 cho đến nay, có mặt tại phiên tòa.
Bị hại:
-
Nguyễn Thị Thu D, sinh năm: 1974 (vắng mặt).
Cư trú: ấp T, xã Đ, huyện C, tỉnh Long An.
-
Phan Thị D1, sinh năm: 1978 (có mặt).
Cư trú: Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An.
2
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
-
Phan Kim H, sinh năm: 1993 (vắng mặt).
Cư trú: ấp T, xã T, huyện C, tỉnh Long An.
-
Nguyễn Thị Huyền T1, sinh năm: 2003 (có mặt).
Cư trú: Ấp B, xã P, huyện C, tỉnh Long An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và qua quá trình xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 14 giờ 10 phút ngày 24/4/2024, Nguyễn Văn S là người có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, điều khiển xe mô tô trên đường Lấp A thuộc Ấp B, xã L, huyện C, tỉnh Long An thì thấy bà Phan Thị D1 đang ngủ trong nhà, nên S nảy sinh ý định đột nhập vào nhà bà D1 để lấy trộm tài sản. Sáng dựng xe bên ngoài rồi đi bộ vào trong nhà, lén lút lấy trộm 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus màu G, 128Gb gần chỗ bà D1 đang ngủ bỏ vào túi quần rồi nhanh chóng tẩu thoát. Qua truy xét, cơ quan công an đã mời Sáng về làm việc và S đã thừa nhận hành vi phạm tội của mình.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 24/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện C, xác định: 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu Gold, 128 GB, IMEI: 358628094732555, trị giá: 2.500.000 đồng (hai triệu năm trăm ngàn đồng).
Quá trình điều tra, S còn khai nhận thêm 01 lần trộm cắp tài sản tại ấp T, xã Đ, huyện C, cụ thể: Vào khoảng 11 giờ 00 phút, ngày 22/4/2024, S điều khiển xe mô tô trên đường đan thuộc ấp T, xã Đ, huyện C thì thấy nhà bà Nguyễn Thị Thu D không người trông coi, nên nảy sinh ý định đột nhập vào nhà lấy trộm tài sản. Sáng dừng xe và đi bộ xung quanh nhà quan sát phát hiện nhà không có ai trông coi, nên lén lút mở cửa sổ chui vào trong nhà lấy trộm 01 (một) điện thoại di động Realme 10 màu xanh đang cắm sạc pin, rồi đến tiệm C ở ấp T, xã T, huyện C do anh Phan Kim H làm chủ bán được 500.000 đồng. Số tiền này, S đã tiêu xài cá nhân hết.
Tại Kết luận định giá tài sản số: 25/KL-HĐĐGTS ngày 26/4/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự, xác định: 01 (một) điện thoại di động Realme 10, màu xanh đen, kiểu máy RMX3630, IMEI: 863562062292490, trị giá: 1.900.000 đồng (một triệu chín trăm ngàn đồng).
Tại bản cáo trạng số 59/CT-VKSCG, ngày 08/7/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cần Giuộc truy tố bị cáo về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
3
Kiểm sát viên giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố bị cáo như Bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn S từ 01 năm đến 01 năm 03 tháng tù.
Đề nghị không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra tạm giữ và hoàn trả cho bị hại Phan Thị D1 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus, bị hại Nguyễn Thị Thu D 01 (một) điện thoại di động Realme 10, là phù hợp và hoàn trả cho chị Nguyễn Thị Huyền T1 (vợ bị cáo S) 01 (một) xe mô tô hiệu Wave Alpha, màu xanh, không biển số, do chị T1 là chủ sở hữu việc bị cáo sử dụng xe làm phương tiện phạm tội, chị T1 không biết, là phù hợp.
Về trách nhiệm dân sự: quá trình điều tra bị cáo đã bồi thường cho anh Phan Kim H số tiền 500.000 đồng mua điện thoại, hiện anh H không yêu cầu và hai bị hại đã nhận lại tài sản và không yêu cầu, nên đề nghị không xem xét.
Bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt không có ý kiến tranh luận. Bị cáo không nói lời sau cùng.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự thủ tục, quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có người nào có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Bị cáo Nguyễn Văn S là người có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản. Vào ngày 22/4/2024 tại nhà bà Nguyễn Thị Thu D, bị cáo S đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm của bà D 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Realme 10 màu xanh, trị giá 1.900.000 đồng và ngày 24/4/2024, tại nhà bà Phan Thị D1, bị cáo S đã lén lút thực hiện hành vi lấy trộm của bà D1 01 (một) điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 8 Plus, màu Gold, 128 GB, trị giá 2.500.000 đồng. Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt là 4.400.000 đồng. Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị trên 2.000.000
4
đồng và dưới 50.000.000 đồng, nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo được thực hiện với lỗi cố ý trực tiếp, là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản hợp pháp của người khác được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự an toàn xã hội, gây mất an ninh trị an tại địa phương. Bị cáo nhận thức được hành vi lén lút lấy trộm tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện tội phạm.
[4] Xét về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo là người có tiền sự về hành vi trộm cắp tài sản, ngày 22/4/2024 và ngày 24/4/2024 bị cáo đã hai lần thực hiện hành vi trộm cắp tài sản đây là tình tiết tăng nặng “Phạm tội 02 lần trở lên” theo quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự.
[5] Xét về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo phạm tội nhưng đã tự nguyện hoàn trả số tiền bán điện thoại cho anh H, nhằm khắc phục hậu quả; phạm tội nhưng thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải là tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại điểm b, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự. Ngoài ra trong quá trình điều tra bị cáo đã tự nguyện khai nhận lần phạm tội trước đó vào ngày 22/4/2024, nên bị cáo còn được hưởng tình tiết giảm nhẹ theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.
[6] Xét thấy cần cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian, mới có thể giáo dục, cải tạo bị cáo trở thành người có ích cho xã hội. Xét thấy áp dụng hình phạt tù đối với bị cáo cũng đủ răn đe, nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 5 Điều 173 Bộ luật hình sự.
[7] Đối với anh Phan Kim H đã mua tài sản do bị cáo S bán, nhưng anh H không biết đó là tài sản do bị cáo S phạm tội mà có nên Cơ quan Cảnh sát điều tra không xem xét xử lý, là phù hợp.
[8] Tang vật: Quá trình điều tra, Cơ quan cảnh sát điều tra đã tạm giữ và hoàn trả cho bị hại Phan Thị D1 01 (một) điện thoại di động Iphone 8 Plus, màu G, 128 GB, bị hại Nguyễn Thị Thu D 01 (một) điện thoại di động Realme 10, màu xanh đen, là phù hợp. Ngoài ra Cơ quan cảnh sát điều tra xác định 01 (một) xe mô tô hiệu Wave Alpha, màu xanh, không biển số là tài sản hợp pháp của chị Nguyễn Thị Huyền T1 (là vợ bị cáo) giao cho bị cáo làm phương tiện đi lại, nhưng bị cáo sử dụng làm phương tiện thực hiện hành vi phạm tội, chị T1 không biết, nên Cơ quan cảnh sát điều tra đã trao trả xe cho chị T1, là phù hợp với quy định tại Điều 47 Bộ luật hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[10] Trách nhiệm dân sự: bị hại Phan Thị D1 và Nguyễn Thị Thu D đã nhận lại tài sản bị mất, tại phiên tòa bà D vắng mặt, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục
5
số 56) không yêu cầu, tại phiên tòa bà D1 cũng không yêu cầu, nên không xem xét. Anh Phan Kim H đã nhận số tiền 500.000 đồng do bị cáo bồi thường, tại phiên tòa vắng, nhưng theo hồ sơ thể hiện (bút lục số 104) không yêu cầu, nên không xem xét. Chị Nguyễn Thị Huyền T1 tại phiên tòa không yêu cầu, nên không xem xét.
[10] Về án phí: bị cáo phải chịu 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Xử phạt: Nguyễn Văn S 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/7/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (19/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa NGUYỄN ĐỨC BẢO |
|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC TỈNH LONG AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc Cần Giuộc, ngày 19 tháng 7 năm 2024 |
6
BIÊN BẢN NGHỊ ÁN
Vào hồi 14 giờ 30 phút ngày 19 tháng 7 năm 2024.
Tại: trụ sở Tòa án nhân dân huyện Cần Giuộc, tỉnh Long An.
Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Đức Bảo.
Các hội thẩm nhân dân: Ông Trần Văn Đoàn.
Ông Phạm Minh Hiếu.
Tiến hành nghị án vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 55/2024/TLST-HS, ngày 08/7/2024 đối với bị cáo: Nguyễn Văn Sáng.
Căn cứ vào Điều 299 và Điều 326 của Bộ luật Tố tụng hình sự.
Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, các quy định của pháp luật.
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẢO LUẬN, BIỂU QUYẾT, QUYẾT ĐỊNH
CÁC VẤN ĐỀ CỦA VỤ ÁN NHƯ SAU:
1. Về tội danh:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Văn Sáng phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
2. Về Điều luật áp dụng:
Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm g khoản 1 Điều 52; Điều 38; Điều 50 Bộ luật hình sự.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
3. Về hình phạt:
Xử phạt: Nguyễn Văn Sáng 01 (một) năm tù. Thời hạn tù được tính từ ngày 05/7/2024.
Căn cứ Điều 329 Bộ luật tố tụng hình sự tạm giam bị cáo 45 ngày kể từ ngày tuyên án (19/7/2024) để đảm bảo việc kháng cáo, kháng nghị và thi hành án.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
4. Các vấn đề khác:
Về án phí: bị cáo phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
Án xử sơ thẩm công khai báo cho bị cáo, bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có mặt biết được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án
7
vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.
Kết quả biểu quyết: 3/3.
Nghị án kết thúc vào hồi 14 giờ 45 phút, cùng ngày.
Biên bản nghị án đã được đọc lại cho tất cả các thành viên của Hội đồng xét xử cùng nghe và ký tên.
|
HỘI THẨM NHÂN DÂN |
CHỦ TỌA |
TRẦN VĂN ĐOÀN – PHẠM MINH HIẾU NGUYỄN ĐỨC BẢO
8
Bản án số 57/2024/HSST ngày 19/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN về trộm cắp tài sản (vụ án hình sự)
- Số bản án: 57/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Vụ án hình sự)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 19/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CẦN GIUỘC – TỈNH LONG AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Văn S phạm tội "Trộm cắp tài sản"
