Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày 18/9/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Thanh Hương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông: Nguyễn Văn Hồng

2. Bà: Hoàng Thị Thu Lâm

Thư ký phiên tòa: Bà Võ Thị Lệ Thủy - Thư ký Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh tham gia phiên tòa: Ông Trần Đăng Ánh - Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hình sự thụ lý số 52/2024/TLST-HS ngày 09/08/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 55/2024/QĐXXST-HS ngày 23/8/2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Trịnh Văn Đ. Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam. Sinh ngày 25 tháng 7 năm 1990. Quê quán: xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Nơi thường trú và chỗ ở hiện nay: xóm F, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Dân tộc: Kinh; Quốc tịch: Việt Nam; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: Lớp 09/12. Nghề nghiệp: Lái xe. Chức vụ, đoàn thể, đảng phái: Quần chúng. Con ông: Trịnh Văn C; Sinh năm: 1961. Con bà: Bùi Thị R; Sinh năm: 1967. Cả bố và mẹ đều lao động tự do và trú tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định. Anh, chị, em ruột: Có 03 người, bị cáo là con thứ ba. Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị áp dụng biện pháp ngăn chặn: Cấm đi khỏi nơi cư trú, tại xã G, huyện G, tỉnh Nam Định kể từ ngày 31/5/2024 cho đến nay (Có mặt).

* Người bị hại: Ông, Võ Xuân K; sinh năm 1950; trú tại: Xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (Tử vong).

* Đại diện gia đình người bị hại: Bà, Bùi Thị T; sinh năm1958; nghề nghiệp: Lao động tự do; trú tại: Thôn T, xã K, thị xã K (Có đơn xin xét xử vắng mặt).

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Công ty TNHH Ô; người đại diện theo pháp luật: Ông Trần Quốc N; sinh năm 1970; chức vụ: Giám đốc; địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn N, huyện G, tỉnh Nam Định(Vắng mặt).

* Người đại diện theo ủy quyền cho người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan và là người làm chứng: Ông Hoàng Văn T1; sinh năm 1979; nghề nghiệp: Phụ xe; nơi cư trú: Xóm G, xã G, huyện G, tỉnh Nam Định(Có đơn xin xét xử vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Khoảng 16 giờ 40 phút ngày 09/05/2024, Trịnh Văn Đ (có giấy phép lái xe hợp lệ), điều khiển xe ô tô khách BKS:18B-012.14 chạy trên đường Q, theo hướng từ Bắc vào N. Khi đi đến Km 591+300 Quốc lộ A, thuộc địa bàn thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, mặc dù có biển cảnh báo nguy hiểm và nhìn thấy xe gắn máy đi cùng chiều phía trước bật đèn xi nhan để sang đường, nhưng do chủ quan nên Trịnh Văn Đ không giảm tốc độ để bảo đảm an toàn. Khi chỉ còn cách xe gắn máy đang đi sang đường khoảng 08m thì Trịnh Văn Đ mới đạp phanh để phòng tránh, nhưng do khoảng cách quá gần, nên xe ô tô BKS: 18B-012.14 do Trịnh Văn Đ điều khiển đã đâm vào thân xe phía sau bên trái xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 do ông Võ Xuân K điều khiển. Hậu quả vụ tai nạn làm ông Võ Xuân K tử vong trên đường đi cấp cứu, xe gắn máy bị hư hỏng, thiệt hại 220.000₫.

Với hành vi trên, Cáo trạng số 54/CT-VKS-TXKA ngày 07 tháng 8 năm 2024, Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố bị cáo Trịnh Văn Đ về tội “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 260 của Bộ luật Hình sự.

Tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội của mình như nội dung bản Cáo trạng đã nêu và nhất trí với quyết định truy tố.

Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh vẫn giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử tuyên bố bị cáo Trịnh Văn Đ phạm tội: “Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ” và căn cứ Điểm a, Khoản 1, Khoản 5, Điều 260; Điểm b, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 65, Điều 38, Điều 41 Bộ luật Hình sự; xử phạt: Trịnh Văn Đ mức án từ 12 đến 15 tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách là 24 - 30 tháng; về hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe đối với bị cáo 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật. Về trách nhiệm Dân sự, vật chứng: Không; về biện pháp tư pháp: Tạm giữ theo hồ sơ 01(Một) Giấy phép lái xe ô tô số: [...], hạng E, mang tên Trịnh Văn Đ để đảm bảo công tác thi hành án và được trả lại khi hết thời gian cấm công việc lái xe ô tô.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Lời nói sau cùng của bị cáo: Bị cáo thừa nhận hành vi phạm tội của mình, đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng án treo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1]. Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thị xã K, Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh, điều tra viên, kiểm sát viên quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo, đại diện người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, người làm chứng không có ý kiến gì khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đúng theo trình tự thủ tục luật định, hợp pháp.

[2]. Tại phiên tòa, bị cáo Trịnh Văn Đ đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình. Lời khai của bị cáo phù hợp với lời khai tại Cơ quan điều tra, lời khai của đại diện cho bị hại, người liên quan, người làm chứng, phù hợp với biên bản khám nghiệm hiện trường, kết luận định giá, kết luận giám định dấu vết cơ học, biên bản khám phương tiện, biên bản khám nghiệm tử thi và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, do đó có đủ cơ sở kết luận: Trịnh Văn Đ có giấy phép lái xe hợp lệ, hợp đồng lái xe ô tô chở khách, điều khiển xe ô tô khách BKS: 18B-012.14 từ tỉnh Nam Định chở khách đi thành phố Hồ Chí Minh. Khoảng 16 giờ 40 phút cùng ngày, xe ô tô do Trịnh Văn Đ điều khiển đi đến Km 591+300, đường Q, thuộc địa bàn thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh (đường đôi, nơi có khoảng mở của dải phân cách cứng cố định; đoạn đường có các biển báo: biển cảnh báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên”, biển cảnh báo nguy hiểm “Đi chậm” và biển báo “Đường người đi bộ sang ngang” thì phát hiện về phía trước có xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 do ông Võ Xuân K điều khiển đi cùng chiều trên làn đường xe thô sơ bên phải, bật đèn xi nhan chuyển hướng sang trái, qua khoảng mở của dải phân cách cứng cố định để sang đường. Do nghĩ rằng xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 do ông Võ Xuân K điều khiển sẽ đi qua trước khi xe ô tô của mình đi tới, nên Trịnh Văn Đ không giảm tốc độ mà điều khiển xe ô tô đi thẳng trên làn đường xe cơ giới thứ hai (làn đường sát dải phân cách). Khi xe ô tô chỉ còn cách xe gắn máy do ông Võ Xuân K điều khiển khoảng 08m thì Trịnh Văn Đ mới đạp phanh để phòng tránh, nhưng do khoảng cách quá gần không kịp xử lý, nên xe ô tô do Trịnh Văn Đ điều khiển va chạm vào thân xe phía sau bên trái của xe gắn máy do ông Võ Xuân K điều khiển, làm cả người và xe gắn máy ngã xuống đường. Hậu quả vụ tai nạn làm ông Võ Xuân K bị tử vong trên đường đi cấp cứu, xe gắn máy bị hư hỏng nhẹ, gây thiệt hại 220.000₫.

* Tại biên bản khám nghiệm hiện trường do Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thị xã K lập hồi 17 giờ 30 phút, ngày 09/5/2024 phản ánh: Vụ tai nạn giao thông xảy ra tại Km 591+300, Quốc lộ A, thuộc địa phận thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh. Mặt đường rải nhựa bằng phẳng, rộng 18m, có dải phân cách cứng cố định ở giữa chia mặt đường thành hai chiều xe chạy riêng biệt, mỗi chiều rộng 09m. Trên lề đường bên phải theo hướng từ Bắc vào N, cách hiện trường 77,5m về phía Bắc có biển cảnh báo nguy hiểm “Giao nhau với đường không ưu tiên”, cách hiện trường 27,5m về phía Bắc có biển cảnh báo nguy hiểm “Đi chậm”. Tại khu vực điểm mở dải phân cách cứng cố định (nơi xảy ra vụ tai nạn), điểm mở dải phân cách rộng 27m, có biển báo “Cấm đi ngược chiều” và biển báo “Đường người đi bộ sang ngang”. Các dấu vết để lại hiện trường như sau (tính theo hướng từ Bắc vào N).

Cách cột mốc Km H3/591 về phía Nam 77,5m là vị trí xe ô tô khách BKS: 18B-012.14; xe ô tô khách dừng trên làn đường xe cơ giới bên phải (làn đường sát dải phân cách cứng), đầu xe hướng vào N, đuôi xe hướng ra Bắc; trục bánh trước bên phải cách mép đường nhựa bên phải 6,45m; trục bánh sau bên phải cách mép đường nhựa bên phải 6,26m. Cách trục bánh sau bên phải xe ô tô 06m về phía Nam là điểm đầu vết cày xước mặt đường, vết cày nằm trên làn đường xe cơ giới bên phải (nơi điểm mở của dải phân cách cứng), vết cày đứt quãng, dài 02m; điểm đầu vết cày cách mép đường nhựa bên phải 8,5m; điểm cuối vết cày nằm phía dưới bàn để chân bên phải (bàn để chân phía trước) của xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 và cách mép đường nhựa bên phải 9,05m. Xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 ngã nghiêng về phía tay lái bên phải, trên làn đường xe cơ giới (làn đường sát dải phân cách cứng), đầu xe chếch chéo về hướng Bắc (ra phía dải phân cách cứng), đuôi xe hướng vào N; trục bánh trước cách mép đường nhựa bên phải 9,35m, trục bánh sau cách mép đường nhựa bên phải 8,7m. Cách trục bánh trước xe gắn máy 02m về phía Nam là tâm vết máu, vết máu nằm trên làn đường xe cơ giới (làn đường sát dải phân cách cứng) của phần đường ngược chiều, vết máu có màu nâu đỏ, kích thước (0,15x0,25)cm, tâm vết máu cách mép đường nhựa bên phải 10,87m.

* Biên bản khám xe ô tô khách BKS: 18B-012.14 liên quan đến tai nạn, phản ánh: Cản trước tại vị trí dưới chữ HAT (cách thành xe bên trái 92cm) có vết trượt xước, mất sơn, kích thước (19x2)cm. Góc bên dưới phần bên trái cản trước (cách thành xe bên trái 69cm) có vết trượt xước, mất nhựa, bong tróc sơn, kích thước (2,5x1)cm. Góc bên dưới phần bên trái cản trước xe ô tô (cách thành xe bên trái 49cm) có vết trượt xước, gãy nhựa, bề mặt bám dính chất màu đen, kích thước (18x5)cm. Góc bên trái cản trước (cách thành xe phía bên trái 27cm) có vết trượt xước, mất sơn, bề mặt bám dính chất màu đen, xanh, kích thước (18x13)cm. Góc phía dưới mặt bên trái cản trước có vết trượt xước, bong tróc sơn, kích thước (4,5x3,5)cm. Mặt ngoài cách cửa cốp bảo vệ hệ thống điện, ắc quy bên trái đầu xe có vết trượt xước, mài mòn nhựa, tróc sơn, kích thước (13x3)cm.

* Biên bản khám xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 liên quan đến tai nạn, phản ánh: Cần số bị xô lệch, mặt ngoài cần số có vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ, trắng (dạng sơn), kích thước (7x3,5)cm. Mặt ngoài lốc máy bên trái có vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ, trắng (dạng sơn), kích thước (5x4,5)cm. Mặt ngoài ốp nhựa thân xe bên trái có vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ (dạng sơn), kích thước (15x4,5)cm. Mặt ngoài ốp nhựa bảo vệ hộp xích có vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ, kích thước (10x3)cm. Ốc định vị cố định (phía dưới) giảm xóc phía sau bên trái có vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ, kích thước (1,5x1,5)cm. Bàn đạp chân phía trước bên trái bị xô lệch, đầu mút bàn đạp chân có vết trượt xước, mất sơn, kích thước (0,8x0,1)cm. Giá để chân phía sau bên trái bị cong gập, mặt ngoài bám dính chất màu đỏ, trắng, kích thước (2x1,5)cm. Càng bên trái chân chống giữa có vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ, kích thước (2x0,6)cm. Mặt ngoài khung kim loại bảo vệ đèn xi nhan phía sau bên trái có vết trượt xước, bám dính chất màu đỏ, kích thước (11,5x3)cm. Giá để chân phía trước bên phải bị xô lệch. Góc dưới cần khởi động có vết trượt xước mài mòn kim loại, kích thước (4,5x1,5)cm. Mặt ngoài giá để chân phía sau bên phải có vết trượt xước, mài mòn kim loại, kích thước (1,7x0,6)cm. Mặt ngoài ốp bảo vệ ống xả có vết trượt xước, kích thước (1,5x4)cm.

* Tại bản Kết luận giám định dấu vết cơ học số 748/KL-KTHS ngày 28/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Xe ô tô khách BKS: 18B-012.14 và xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 va chạm vuông góc với nhau. Cản trước, vị trí dưới chữ “HAT” (cách thành xe bên trái 92cm) xe ô tô khách BKS: 18B-012.14 va chạm với K2 bảo vệ đèn xi nhan phía sau bên trái xe gắn máy BKS: 38AK-024.93; Góc dưới phần bên trái cản trước (cách thành xe bên trái 49cm) xe ô tô khách BKS: 18B-012.14 va chạm với mặt ngoài giá để chân phía sau bên trái xe gắn máy BKS: 38AK-024.93. Vị trí va chạm giữa hai phương tiện nằm trên làn xe cơ giới liền kề dải phân cách cứng, phần đường bên phải hướng từ Bắc vào N, đường Q thuộc địa bàn thôn T, xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh.

* Biên bản khám nghiệm tử thi và Bản kết luận giám định pháp y số 713/KL-KTHS_ngày 18/5/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh H, kết luận: Nạn nhân là ông Võ Xuân K, sinh năm 1950, trú tại xã K, thị xã K, tỉnh Hà Tĩnh, các dấu vết để lại như sau: Vùng chẩm phải, cách sau đỉnh vành tai phải 8cm, cách đường chân tóc gáy 4cm có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước (6x5)cm, trên nền sưng nề có vết thương, kích thước (1x1,5)cm; Vùng lưng bên phải, cách đường giữa lưng 7cm, cách dưới mỏm cùng vai 5cm có đám sưng nề, bầm tụ máu trên diện (11x6)cm; Vùng ngực, cách trong núm vú phải 6cm có đám sưng nề, bầm tụ máu, kích thước (17x10)cm; Gãy sập toàn bộ cung trước xương sườn hai bên; Tụ máu dưới da đầu vùng chẩm; Vỡ xương hộp sọ vùng chẩm. Nguyên nhân tử vong do đa chấn thương.

* Tại bản Kết luận định giá số 32 /KL-HĐĐG ngày 23/7/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự thị xã K kết luận: Giá trị thiệt hại đối với chiếc xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 của ông Võ Xuân K là 220.000đ.

Hành vi của Trịnh Văn Đ đã vi phạm Khoản 1, Điều 9 Luật Giao thông đường bộ; Khoản 1 và Khoản 8, Điều 5 Thông tư số 31/2029/TT-BGTVT ngày 29/8/2019 của Bộ G quy định về tốc độ và khoảng cách an toàn của xe cơ giới, xe máy chuyên dùng tham gia giao thông đường bộ.

Khoản 1, Điều 9 Luật giao thông đường bộ quy định: Người tham gia giao thông phải đi bên phải theo chiều đi của mình, đi đúng làn đường, phần đường quy định và phải chấp hành hệ thống báo hiệu đường bộ.

Điều 5, Thông tư số 31/2019/TT-BGTVT, ngày 29/8/2019 quy định: Người điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau:.........

1. Có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm.......

8. Khi có tín hiệu xin đường của xe đi phía trước.

Người bị hại là ôngVõ Xuân Kể đã vi phạm Khoản 2, Điều 15 Luật giao thông đường bộ.

Khoản 2, Điều 15 Luật giao thông đường bộ quy định: Trong khi chuyển hướng, người lái xe, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

Như vậy, hành vi của Trịnh Văn Đ đã phạm vào tội “Vi phạm quy định về tham gia giao thông đường bộ”, theo quy định tại Điểm a, Khoản 1, Điều 260 Bộ luật Hình sự. Do đó Viện kiểm sát nhân dân thị xã Kỳ Anh đã truy tố và đề nghị Tòa án nhân dân thị xã Kỳ Anh đưa xét xử bị cáo với tội danh và điều luật trên là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật không có gì oan sai.

[3]. Hành vi nêu trên của bị cáo Trịnh Văn Đ là nguy hiểm cho xã hội. Lỗi trong vụ án này là lỗi vô ý. Nguyên nhân của vụ tai nạn do lỗi hỗn hợp, trong đó lỗi chính thuộc về Trịnh Văn Đ khi điều khiển phương tiện tham gia giao thông đường bộ phải giảm tốc độ để có thể dừng lại một cách an toàn trong các trường hợp sau khi có báo hiệu cảnh báo nguy hiểm, khi có tín hiệu xin đường của xe đi phía trước. Người bị hại là ông Võ Xuân K cũng có lỗi là trong khi chuyển hướng, người điều khiển xe máy chuyên dùng phải nhường quyền đi trước cho người đi bộ, người đi xe đạp đang đi trên phần đường dành riêng cho họ, nhường đường cho các xe đi ngược chiều, nhường đường cho xe chạy trên làn đường ưu tiên và chỉ cho xe chuyển hướng khi quan sát thấy không gây trở ngại hoặc nguy hiểm cho người và phương tiện khác.

[4]. Về tình tiết định khung: Hành vi của bị cáo Trịnh Văn Đ không vi phạm tình tiết định khung nên chỉ bị xét xử tại Điểm a Khoản 1 Điều 260 Bộ luật Hình sự:

[5]. Về tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm Hình sự: Không

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm Hình sự: Bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ; Người phạm tội thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; tự nguyên bồi thường thiệt hại; đại diện gia đình bị hại có đề nghị giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; bản thân bị cáo có tham gia Q, có ông nội tham gia kháng chiến được Nhà nước tặng thưởng Huy chương kháng chiến chống Mỹ hạng ba. Bị hại cũng có một phần lỗi. Những tình tiết giảm nhẹ trên được qui định tại Điểm b, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

[6]. Sau khi xem xét các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ cũng như lời đề nghị của vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thị Xã Kỳ Anh là phù hợp với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, Hội đồng xét xử xét thấy; Bị cáo Trịnh Văn Đ, bản thân chưa có tiền án, tiền sự; phạm tội lần đầu; phạm tội do lỗi vô ý; có nhân thân tốt; luôn chấp hành đầy đủ mọi chủ trương chính sách của Đảng, pháp luật của Nhà nước và thực hiện đầy đủ các nghĩa vụ của công dân nơi cư trú; có 02 tình tiết giảm nhẹ được qui định tại Khoản 1 và nhiều tình tiết giảm nhẹ được quy định tại Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Lỗi một phần do người bị hại, qua trích xuất dữ liệu ca mê ra thì thấy khi bị hại điều khiển xe gắn máy chuyển hướng lúc đó nhiều phương tiện sang đường bình thường nhưng bị hại không sang và khi bị hại sang đường lại không quan sát phương tiện phía sau đang lưu thông trên làn đường ưu tiên và còn dùng chân để đẩy xe máy. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nghĩ cần tạo cho bị cáo một cơ hội để sửa chữa sai lầm, không cần thiết phải áp dụng hình phạt tù. Việc cho bị cáo được hưởng án treo không gây nguy hiểm cho xã hội, không gây ảnh hưởng đến an ninh trật tự, an toàn xã hội; và phù hợp với Nghị quyết của Tòa án nhân dân tối cao hướng dẫn. Nên cần căn cứ Điều 65 - Bộ luật Hình sự, cho bị cáo được hưởng án treo và xử bị cáo mức án khởi điểm như đại diện Viện kiểm sát đề nghị cũng đủ nghiêm.

* Về hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe đối với Trịnh Văn Đ thời hạn là 12 tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

* Về trách nhiệm Dân sự: Sau khi tai nạn xảy ra, Trịnh Văn Đ cùng với chủ sở hữu xe ô tô khách là công ty TNHH Ô đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình người bị hại Võ Xuân K, do bà Bùi Thị T (vợ của bị hại Võ Xuân K) làm đại diện với tổng số tiền 140.000.000 đ, trong đó: bị can Trịnh Văn Đ bồi thường 70.000.000đ và công ty TNHH Ô bồi thường 70.000.000đ. Nay đại diện gia đình người bị hại không có yêu cầu gì thêm về bồi thường thiệt hại và có đơn xin miễn trách nhiệm hình sự cho bị cáo nên Hội đồng xét xử miễn xét.

* Về vật chứng thu giữ và xử lý: Cơ quan điều tra Công an thị xã K đã tạm giữ 01 chiếc xe ô tô khách BKS: 18B-012.14 cùng các giấy tờ liên quan gồm: giấy chứng nhận đăng ký xe ô tô mang tên chủ xe là công ty TNHH Ô, giấy chứng nhận kiểm định xe cơ giới, giấy chứng nhận bảo hiểm trách nhiệm dân sự xe cơ giới và giấy phép lái xe ô tô số: [...], hạng E, mang tên Trịnh Văn Đ; Tạm giữ tại hiện trường chiếc xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 và tạm giữ

của bà Bùi Thị T (vợ nạn nhân Võ Xuân K) giấy chứng nhận đăng ký xe gắn máy mang tên chủ xe là ông Võ Xuân K; Xe ô tô khách BKS: 18B-012.14 và các giấy tờ liên quan đã trả cho chủ sở hữu; Xe gắn máy BKS: 38AK-024.93 cùng các giấy tờ liên quan đã trả cho người đại diện của bị hại là bà Bùi Thị T. Nay họ không có yêu cầu gì thêm nên Hội đồng xét xử miễn xét.

* Còn 01 giấy phép lái xe ô tô số: [...], hạng E, mang tên Trịnh Văn Đ cần tạm giữ theo hồ sơ để đảm bảo công tác thi hành án và được trả lại khi hết thời gian cấm công việc lái xe ô tô.

Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí theo quy định của pháp luật.

Bị cáo, đại diện gia đình người bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo theo qui định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ Điểm a, Khoản 1, Khoản 5 Điều 260; Điểm b, Điểm s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51, Điều 41, Điều 65, Điều 38 Bộ luật Hình sự;

Căn cứ Khoản 2 Điều 136, Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng Hình sự. Điều 3, Khoản 1 Điều 21; Điểm a Khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 và mục A Danh mục án phí, lệ phí Tòa án, ban hành kèm theo Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Ủy ban thường vụ Q1; tuyên xử:

1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo; Trịnh Văn Đ phạm tội:“Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ”.

2. Về hình phạt chính:

1.1. Xử phạt; Trịnh Văn Đ 15(Mười lăm) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 30 (Ba mươi) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Trịnh Văn Đ cho Ủy ban nhân xã G, huyện G, tỉnh Nam Định giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Gia đình bị cáo có trách nhiệm phối hợp với chính quyền địa phương trong việc giám sát, giáo dục bị cáo.

Trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo qui định tại Điều 92 Luật thi hành án Hình sự

Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ theo qui định của Luật Thi hành án Hình sự 02(Hai) lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

1.2. Về hình phạt bổ sung: Cấm hành nghề lái xe ô tô đối với bị cáo Trịnh Văn Đ thời hạn là 12(Mười hai) tháng kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.

3. Về trách nhiệm Dân sự, vật chứng,: Không

4. Biện pháp tư pháp: Tạm giữ theo hồ sơ 01(Một) Giấy phép lái xe ô tô số [...], hạng E, mang tên Trịnh Văn Đ và được trả lại khi hết thời gian cấm hành nghề lái xe ô tô.

5.Về án phí: Xử buộc bị cáo Trịnh Văn Đ phải nộp 200.000đ(Hai trăm nghìn đồng) án phí Hình sự sơ thẩm.

6. Về quyền kháng cáo đối với bản án: Bị cáo, được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Đại diện gia đình bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo bản án về những vấn đề trực tiếp liên quan đến quyền lợi và nghĩa vụ của mình trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND, VKSND, Sở tư pháp tỉnh HT;
  • - Công an, VKSND, Chi cục THADS thị xã Kỳ Anh;
  • - UBND xã Giao Long, huyện Giao Thủy, tỉnh Nam Định
  • - Bị cáo; đại diện gia đình bị hại, người liên quan,
  • - Lưu: HS; VP-TA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Trần Thanh Hương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 18/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH về hình sự (vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ)

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Vi phạm qui định về tham gia giao thông đường bộ)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/09/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THỊ XÃ KỲ ANH, TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: 57
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger