Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày 29-8-2024

 

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI

Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Tạ Thị Kim Anh.

- Các Hội thẩm nhân dân: Ông Vũ Ngọc Ánh, bà Nguyễn Thị Băng.

- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Tiến Giang - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Huy Tú - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 8 năm 2024, Tòa án nhân dân thành phố Yên Bái, tỉnh Yên Bái xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 51/TLST-HS ngày 31-7-2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 62/QĐXXST- HS ngày 15-8-2024 đối với các bị cáo:

  1. Trần Anh T; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 02 tháng 5 năm 1990 tại tỉnh Yên Bái; đăng ký thường trú: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái; nơi ở khi phạm tội: Thôn T, xã B, huyện T, tỉnh Yên Bái và tổ G, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 11/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Trần Văn T1, sinh năm 1963 và bà: Nguyễn Thị H, sinh năm: 1966; vợ: Bàn Thị Hồng K, sinh năm 1989 (đã ly hôn); con: Có 02 con, lớn sinh năm 2011, nhỏ sinh năm 2013; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ ngày 07-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.
  2. Ngô Thị Quỳnh H1; tên gọi khác: Không; sinh ngày 20 tháng 6 năm 1998 tại tỉnh Yên Bái; đăng ký thường trú: Tổ C, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nơi ở khi phạm tội: Tổ A, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 6/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nữ; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Ngô Xuân T2, sinh năm: 1945 (đã chết) và bà: Nguyễn Thị P, sinh năm 1957; chồng: Đặng Tiến V, sinh năm 1992; con: Có 01 con sinh năm 2023; tiền án, tiền sự: Không. Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 07-4-2024 đến ngày 11-4-2024 được thay thế biện pháp ngăn chặn tạm giữ bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú. Có mặt.
  3. Nguyễn Mạnh C; tên gọi khác: Không; sinh ngày: 02 tháng 5 năm 1995 tại tỉnh Yên Bái; nơi cư trú: Tổ D, phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái; nghề nghiệp: Không; trình độ văn hóa: 8/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông: Nguyễn Tá N, sinh năm 1966 và bà: Phạm Thị Thu H2, sinh năm: 1971; vợ, con: Chưa có; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: 03. Năm 2014, bị Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định số 158/QĐ-XPVPHC ngày 03-9-2014. Năm 2015, bị Công an phường H, thành phố Y, tỉnh Yên Bái xử phạt vi phạm hành chính về hành vi “Đánh nhau” theo Quyết định số 23/QĐ-XPHC ngày 07-8-2015. Năm 2018, bị phòng Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an tỉnh Y xử phạt về hành vi “Sử dụng trái phép chất ma túy” theo Quyết định số 43/QĐ-XPVPHC ngày 04-12-2018. Bị cáo bị tạm giam ngày 13-4-2024, hiện đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Có mặt.

* Người làm chứng:

- Anh Bùi Tùng L; sinh năm 1994; địa chỉ: Tổ N, phường N, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

- Anh Nguyễn Hoài T3; sinh năm 1974; địa chỉ: Tổ C, phường Y, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

* Người chứng kiến:

- Ông Nguyễn Văn T4; sinh năm 1960; địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

- Bà Lương Thị T5; sinh năm 1958; địa chỉ: Tổ G, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Qua các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Ngày 03-4-2024, Trần Anh T đi từ nhà trọ ở tổ G, phường Đ, thành phố Y vào xã M, thành phố Y tìm mua ma túy (Methamphetamine). T gặp một người phụ nữ ở ven đường, giới thiệu tên H2 và hỏi mua 7.500.000 đồng được 01 túi nilon màu tím, có khóa kẹp viền bên trong chứa nhiều viên ma túy. Sau khi mua được ma túy, T mang về phòng trọ chia số ma túy thành 02 phần, một phần để trong túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền màu đỏ cất giấu trong chiếc túi xách màu nâu để trên giường ngủ, phần ma túy còn lại T sử dụng chiếc túi nilon ban đầu gói lại cất giấu tại khe đệm trên giường ngủ, mục đích để sử dụng và bán kiếm lời. Trong các ngày từ ngày 03-4-2024 đến ngày 07-4-2024, T đã bán ma túy cho Nguyễn Mạnh C và Ngô Thị Quỳnh H1. Ngô Thị Quỳnh H1 sau khi mua được ma túy của T đã bán cho Bùi Tùng L và Nguyễn Hoài T3 vào các ngày từ 05-4-2024 đến 07-4-2024. Đồng thời, Trần Anh T và Ngô Thị Quỳnh H1 còn có hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của T tại tổ G, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Hành vi của các bị cáo cụ thể như sau:

* Về hành vi mua bán trái phép chất ma túy của Trần Anh T:

- Trần Anh T đã 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Mạnh C.

Lần 1: Khoảng 17 giờ 30 phút ngày 03-4-2024, Nguyễn Mạnh C gọi điện cho T qua ứng dụng Z, hỏi mua 04 viên ma túy (Methamphetamine). T đồng ý bán cho C với giá 70.000 đồng/ 01 viên và hẹn C đến khu vực ngã 3 đường, thuộc tổ G, phường Đ, thành phố Y, gần nhà trọ của T để mua bán ma túy. Khi C đến, C đưa T 280.000 đồng, T nhận tiền và đưa C 04 viên ma túy (loại Methamphetamine) đựng trong túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền màu đỏ, C mang số ma túy này về sử dụng hết cho bản thân.

Lần 2: Khoảng 9 giờ 00 phút ngày 07-4-2024, Nguyễn Mạnh C gọi điện và nhắn tin cho T qua ứng dụng Zalo hỏi mua 12 viên ma túy (Methamphetamine), T đồng ý bán cho C với giá 1.000.000 đồng. Sau đó, C sử dụng tài khoản Nguyễn Mạnh C số [...] ngân hàng TMCP C2 (V2) chuyển số tiền 1.000.000 đồng đến tài khoản Trần Anh T qua số điện thoại 0949.256.xxx (tức tài khoản số [...]) ngân hàng V2. Sau khi nhận tiền, T lấy 12 viên ma túy (Methamphetamine) cho vào túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền màu đỏ, gói vào mảnh giấy bạc màu vàng cho vào vỏ bao thuốc lá Thăng Long rồi để tại hành lang bên phải trước cửa phòng trọ đầu tiên của dãy trọ. T nhắn tin cho C “Bao thuốc anh để dưới chỗ phòng trọ đầu tiên nhé, dưới đất ý”, C nhắn lại “ok”. Khi C đến khu vực phòng trọ của T để lấy số ma túy mua của T thì phát hiện thấy đông người và có lực lượng Công an thành phố Y đang làm nhiệm vụ, C bỏ về không lấy được số ma túy nêu trên.

- Trần Anh T đã 02 lần bán ma túy cho Ngô Thị Quỳnh H1.

Lần 1: Khoảng 22 giờ 00 phút ngày 05-4-2024, Ngô Thị Quỳnh H1 gọi điện thoại cho Trần Anh T hỏi mua 500.000 đồng ma túy (Methamphetamine) nhưng cho H1 nợ lại tiền, T đồng ý và hẹn H1 đến ngã 3 đường rẽ vào phòng trọ của T để mua bán ma túy. Tại đây, T đưa H1 06 viên ma túy (Methamphetamine) gói trong túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền màu đỏ, H1 cầm số ma túy đi về.

Lần 2: Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 06-4-2024, Ngô Thị Quỳnh H1 tiếp tục gọi điện thoại cho T hỏi mua 1.000.000 đồng ma túy (Methamphetamine) và cho H1 nợ tiền, T đồng ý và hẹn H1 đến khu vực phòng trọ của T để mua bán ma túy. Tại đây, T đưa H1 12 viên ma túy (Methamphetamine), H1 cầm số ma túy đi về phòng trọ của mình ở tổ A, phường Y, thành phố Y.

* Ngô Thị Quỳnh H1 sau khi mua ma túy (Methamphetamine) của T, H1 đã bán cho Bùi Tùng L và Nguyễn Hoài T3, cụ thể:

- Ngô Thị Quỳnh H1 đã 04 lần bán ma túy cho Bùi Tùng L:

Lần thứ nhất: Khoảng 21 giờ 00 phút ngày 05-4-2024, Bùi Tùng L gọi điện cho Ngô Thị Quỳnh H1 hỏi mua 06 viên ma túy (Methamphetamine). H1 đồng ý bán với giá 100.000 đồng/01 viên, bảo L chuyển tiền vào tài khoản 8700205265981 Ngân hàng A của H1. L đã chuyển số tiền 300.000 đồng vào tài khoản ngân hàng của H1, H1 đã nhận số tiền trên. Khoảng 22 giờ cùng ngày, H1 mua 500.000 đồng được 06 viên ma túy của Trần Anh T. Mua xong, H1 hẹn L đến khu vực đèn tín hiệu giao thông gần Bệnh viện S để giao ma túy. Số tiền 300.000 đồng còn lại L nợ H1, hẹn trả sau.

Lần thứ hai: Khoảng 18 giờ 00 ngày 06-4-2024, Bùi Tùng L nhắn tin cho H1 qua ứng dụng Zalo hỏi mua 02 viên ma túy (Methamphetamine), H1 đồng ý, hẹn L đến phòng trọ của H1 để mua, bán ma túy. Sau đó, tại khu vực bếp phòng trọ của H1, H1 bán cho L 02 viên ma túy, L đã thanh toán 200.000 đồng cho H1 qua số tài khoản 104873321054 Ngân hàng V2 (mang tên Vàng Thị V1). Sau khi mua được ma túy, L mang về nhà và sử dụng hết.

Lần thứ ba: Khoảng 23 giờ 00 phút ngày 06-4-2024, Bùi Tùng L tiếp tục nhắn tin cho H1 qua ứng dụng Zalo hỏi mua 02 viên ma túy (M) với giá 200.000 đồng, H1 đồng ý và hẹn L đến khu vực đèn tín hiệu giao thông gần Bệnh viện S để mua bán ma túy. Khi đến điểm hẹn, H1 giao cho L 02 viên ma túy, L đã thanh toán cho H1 số tiền 200.000 đồng qua số tài khoản 104873321054 Ngân hàng V2 (mang tên Vàng Thị V1). L mang số ma túy về nhà và sử dụng hết.

Lần thứ tư: Khoảng 02 giờ 00 phút ngày 07-4-2024, L tiếp tục nhắn tin cho H1 qua ứng dụng Zalo hỏi mua 02 viên ma túy (Methamphetamine), H1 đồng ý và hẹn L đến khu vực đèn tín hiệu giao thông gần Bệnh viện S để mua bán ma túy. Khi đến điểm hẹn, H1 giao cho L 02 viên ma túy, L đã thanh toán cho H1 số tiền 200.000 đồng qua số tài khoản 104873321054 Ngân hàng V2 (mang tên Vàng Thị V1). L mang số ma túy về nhà và sử dụng hết.

- Đối với Nguyễn Hoài T3: Do ngày 06-4-2024, H1 đã mua của T 1.000.000 đồng được 12 viên ma túy (Methamphetamine) nên khoảng 13 giờ 00 phút cùng ngày, H1 gọi điện cho Nguyễn Hoài T3 giới thiệu có ma túy và mời T3 mua. T3 đồng ý mua 05 viên với giá 500.000 đồng nhưng cho T3 nợ tiền, H1 đồng ý và bảo T3 đến đón H1 ở khu vực phòng trọ của H1 (tổ A, phường Y, thành phố Y). H1 lấy 05 viên ma túy (Methamphetamine) mua của T cho vào túi nilon đi ra gặp T3, T3 chở H1 đến phòng 301 của nhà nghỉ N2 (thuộc tổ A, phường Y, thành phố Y). Tại đây, H1 đưa cho T3 05 viên ma túy rồi đi về. Đến 01 giờ 24 phút ngày 07-4-2024, T3 đã thanh toán 200.000 đồng mua ma túy cho H1 qua tài khoản 10487332105 Ngân hàng V2 (mang tên Vàng Thị V1), số tiền còn lại T3 nợ H1 chưa trả.

Số ma túy mua của T còn lại, H1 sử dụng hết cho bản thân.

* Về hành vi Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của Trần Anh T và Ngô Thị Quỳnh H1.

Khoảng 10 giờ 00 phút ngày 07-4-2024, Ngô Thị Quỳnh H1 nhắn tin cho Trần Anh T hỏi có ma túy (Methamphetamine) không để sử dụng, T trả lời có. H1 rủ T đến phòng trọ của mình để sử dụng nhưng T không đi. Đến khoảng 11 giờ 00 phút cùng ngày, H1 bảo sẽ ra phòng trọ của T để sử dụng ma túy, T đồng ý và bảo H1 đến, sau đó T chuẩn bị bộ dụng cụ để sử dụng trái phép chất ma túy gồm chai nhựa gắn ống hút, giấy bạc, bật lửa, đặt trên chiếc thớt nhựa hình tròn và để trên chiếc mặt đệm giường ngủ của T. T lấy ra 03 viên ma túy (Methamphetamine) từ túi nilon màu tím có khóa kẹp viền màu đỏ để ở khe đệm giường ngủ, cho 01 viên vào máng (được cuộn bằng giấy bạc) dùng bật lửa ga đốt mảnh giấy bạc (máng) cho viên ma túy ở nhiệt độ cao bốc thành khói, rồi dùng chai nhựa gắn ống hút, hút khói ma túy qua đường miệng vào cơ thể, còn 02 viên ma túy, T đặt trên chiếc thớt nhựa. Khi H1 đến, T ngồi đầu giường phía cửa đi vào, H1 ngồi đối diện với T ở cuối giường, T dùng bật lửa đốt viên ma túy T đang sử dụng nhưng chưa hết vẫn còn ở mảnh giấy bạc (máng) thành khói để H1 sử dụng, sau đó H1 lại đốt ma túy cho T, H1 sử dụng hết viên ma túy thứ nhất.

Sau khi sử dụng hết viên ma túy thứ nhất, H1 tiếp tục lấy viên ma túy thứ hai, cho vào mảnh giấy bạc (máng) dùng bật lửa đốt viên ma túy thành khói để H1 sử dụng, sau đó H1 lại đốt ma túy cho T sử dụng.

Sau khi sử dụng viên ma túy thứ hai khoảng 5-10 phút, H1 tiếp tục lấy viên ma túy thứ ba, cho vào mảnh giấy bạc (máng) dùng bật lửa đốt viên ma túy thành khói để H1 sử dụng, sau đó H1 lại đốt ma túy cho T sử dụng hết. Khi cả hai sử dụng hết viên ma túy thứ ba, đang ở trong phòng trọ thì bị lực lượng Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y phát hiện, bắt giữ quả tang, thu giữ vật chứng.

Vật chứng thu giữ khi bắt quả tang Trần Anh T: 01 túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền màu đỏ, bên trong có chứa các viên nén hình tròn dẹt màu hồng và xanh (nghi là ma túy) do Trần Anh T giao nộp trong túi xách màu nâu để trên giường trong phòng trọ; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng L1 màu vàng, bên trong có một gói giấy bạc màu vàng, mở ra có một túi nilon màu trắng, có khóa kẹp viền màu đỏ chứa 12 viên nén hình tròn dẹt, màu hồng nghi ma túy, thu giữ tại chân tường bên phải hướng từ ngoài vào phòng trọ của Trần Anh T; số tiền 4.550.000 đồng; 02 điện thoại di động đã qua sử dụng gồm: 01 điện thoại Nokia màu xanh-đen loại bàn phím, 01 điện thoại Samsung màu đen loại màn hình cảm ứng, màn hình bị nứt vỡ; 01 chiếc thớt bằng nhựa, hình tròn, màu trắng; 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh, đục hai lỗ, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu hồng, một lỗ gắn đoạn ống nhựa màu xanh-tím; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 mảnh giấy bạc đã bị đốt cháy; 01 túi xách màu nâu đã qua sử dụng.

Vật chứng thu giữ khi khám xét Trần Anh T: 01 túi nilon màu tím, có khóa kẹp viền màu đỏ, bên trong chứa các viên nén hình tròn dẹt màu hồng (nghi ma túy) thu giữ tại khe đệm, trên giường ngủ của Trần Anh T.

Vật chứng thu giữ của Ngô Thị Quỳnh H1 trong quá trình khám xét phòng trọ của Trần Anh T: Số tiền 180.000 đồng và 01 điện thoại Vivo màu đen, đã qua sử dụng, màn hình bị nứt vỡ.

Quá trình điều tra, Trần Anh T khai nhận: Các viên nén hình tròn dẹt màu hồng trong túi nilon màu trắng có khóa kẹp viền màu đỏ trong túi xách màu nâu để trên giường trong phòng trọ T và trong túi nilon màu tím, có khóa kẹp viền màu đỏ tại khe đệm trên giường ngủ của T là ma túy của T, mục đích tàng trữ để bán cho người khác. Đối với 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long màu vàng, bên trong có 12 viên nén hình tròn dẹt, màu hồng thu giữ tại chân tường bên phải hướng từ ngoài vào phòng trọ của Trần Anh T do T tự giác giao nộp, T khai là ma túy của T đã bán cho Nguyễn Mạnh C vào sáng ngày 07-4-2024 nhưng C chưa kịp nhận.

* Ngày 12-4-2024, Cơ quan cảnh sát điểu tra- Công an thành phố Y đã triệu tập Nguyễn Mạnh C đến làm việc. Tại cơ quan điều tra, C thừa nhận: 12 viên ma túy, loại Methamphetamine trong vỏ bao thuốc lá T mà T giao nộp là số ma túy của C mua của T vào ngày 07-4-2024, C đã chuyển khoản trả tiền cho T số tiền 1.000.000 đồng và thống nhất để ma túy tại chân tường bên phải hướng từ ngoài vào phòng trọ của T cho C đến lấy. Khi C đến lấy ma túy, do có lực lượng Công an nên C không lấy được là ngoài ý muốn chủ quan của C.

Vật chứng do Nguyễn Mạnh C tự giác giao nộp: 01 sao kê chi tiết giao dịch số tài khoản 104868700073 của ngân hàng TMCP C2, chi nhánh Y, chủ tài khoản Nguyễn Mạnh C; 01 điện thoại di động Redmi màu xanh tím than đã qua sử dụng và 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Mạnh C.

* Tại bản Kết luận giám định số 207/KL-KTHS ngày 14-4-2024 của Phòng K1 Công an tỉnh Y kết luận:

- Các viên nén hình tròn dẹt màu hồng do Trần Anh T tự giác giao nộp tại chiếc túi xách trong phòng trọ khi bắt quả tang có tổng khối lượng là: 8,4 gam.

0,5 gam trích từ 8,4 gam các viên nén hình tròn dẹt màu hồng gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

- Viên nén hình tròn dẹt màu xanh do Trần Anh T tự giác giao nộp tại chiếc túi xách trong phòng trọ khi bắt quả tang có tổng khối lượng là: 0,08 gam.

0,08 gam viên nén hình tròn dẹt màu xanh gửi giám định không tìm thấy thành phần của chất ma túy.

- Các viên nén hình tròn dẹt màu hồng do Trần Anh T tự giác giao nộp tại hành lang phòng trọ khi bắt quả tang có tổng khối lượng là: 1,1 gam.

0,2 gam trích từ 1,1 gam các viên nén hình tròn dẹt màu hồng gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

- Các viên nén hình tròn dẹt màu hồng thu giữ khi khám xét Trần Anh T có tổng khối lượng là: 1,8 gam.

0,2 gam trích từ 1,8 gam các viên nén hình tròn dẹt màu hồng gửi giám định là ma túy; loại Methamphetamine.

Cáo trạng số 55/CT-VKS-TP ngày 30-7-2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố Trần Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố Ngô Thị Quỳnh H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố Nguyễn Mạnh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:

* Về tội danh:

- Tuyên bố các bị cáo Trần Anh T và Ngô Thị Quỳnh H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

- Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

* Về hình phạt chính:

- Đối với bị cáo Trần Anh T:

+ Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 10 năm tù đến 11 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của 02 tội, xử phạt bị cáo Trần Anh T từ 13 năm tù đến 15 năm tù.

- Đối với bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1:

+ Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm n, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 từ 08 năm tù đến 09 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

+ Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 từ 03 năm tù đến 04 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự để tổng hợp hình phạt của 02 tội, xử phạt bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 từ 11 năm tù đến 13 năm tù.

- Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C:

Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự: Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C từ 01 năm 06 tháng tù đến 02 năm tù.

* Về hình phạt bổ sung: Không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

* Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm a, b khoản 1 Điều 46, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 129, khoản 2 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước của bị cáo Trần Anh T:

+ Số tiền 1.280.000 đồng do phạm tội mà có, trong đó số tiền 1.000.000 đồng hiện có tài khoản số 0949256500 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) của Trần Anh T. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 113/LPT-ĐCSMT ngày 19-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đối với tài khoản số 0949256500 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) của Trần Anh T, số tiền có trong tài khoản đến ngày 07-4-2024 là 1.059.994 đồng để đảm bảo thi hành án.

+ 01 chiếc điện thoại di động S1 màu đen.

- Tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước của bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1:

+ Số tiền 1.100.000 đồng do phạm tội mà có. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 111/LPT-ĐCSMT ngày 19-4-2024 đối với tài khoản số 0104873321054 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) của Ngô Thị Quỳnh H1 (chủ tài khoản là Vàng Thị V1 do Ngô Thị Quỳnh H1 sử dụng), số tiền có trong tài khoản là 800.000 đồng và Lệnh phong tỏa tài khoản số 112/LPT-ĐCSMT ngày 19-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đối với tài khoản số 8700205265981 tại Ngân hàng N3 (A) của Ngô Thị Quỳnh H1, số tiền có trong tài khoản là 300.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

+ 01 điện thoại di động Vivo màu đen.

- Tịch thu tiêu hủy: 10,4 gam ma túy loại Methamphetamine; 01 chiếc thớt bằng nhựa hình tròn; 01 chai nhựa; 01 bật lửa ga; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy; 01 túi xách màu nâu; 05 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 mảnh giấy bạc và 03 túi nilon.

- Trả lại cho: Bị cáo Trần Anh T 01 điện thoại di động Nokia màu xanh đen, loại bàn phím v à số ti ền 4.550.000 đồng; bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 số tiền 180.000 đồng và bị cáo Nguyễn Mạnh C 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Mạnh C.

- Về án phí và quyền kháng cáo: Đề nghị giải quyết theo quy định của pháp luật.

Tại phiên tòa, các bị cáo đã thành khẩn khai nhận toàn bộ hành vi như đã nêu trên, không tranh luận gì và đều xin giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố Y, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, các bị cáo, những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Về tố tụng: Tại phiên tòa, người làm chứng và người chứng kiến đã được triệu tập nhưng vắng mặt. Tuy nhiên, sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng trên không gây trở ngại cho việc xét xử. Vì vậy, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt họ theo quy định tại Điều 293 Bộ luật tố tụng hình sự.

[3] Lời khai nhận của các bị cáo tại phiên tòa là phù hợp với nhau, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người chứng kiến, vật chứng thu giữ và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án, nên có đủ cơ sở kết luận:

Trong các ngày từ 03-4-2024 đến 07-4-2024, tại khu vực phòng trọ của T thuộc tổ G, phường Đ, thành phố Y và ngã 3 đường rẽ vào phòng trọ của T, Trần Anh T đã 02 lần bán ma túy (loại Methamphetamine) cho Ngô Thị Quỳnh H1 và 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Mạnh C thu được số tiền 1.280.000 đồng. Tàng trữ tại phòng trọ của T tổng khối lượng 10,2 gam ma túy Methamphetamine để sử dụng và bán, đồng thời giao nộp 1,1 gam ma túy Methamphetamine đã bán cho Nguyễn Mạnh C vào ngày 07-4-2024. Tổng khối lượng ma túy mà T phải chịu trách nhiệm hình sự là 11,3 gam. Ngô Thị Quỳnh H1 sau khi mua được ma túy của T, đã 04 lần bán ma túy cho Bùi Tùng L và 01 lần bán ma túy cho Nguyễn Hoài T3 thu được số tiền 1.100.000 đồng. Nguyễn Mạnh C đã mua của Trần Anh T 12 viên ma túy, loại Methamphetamine, mục đích để sử dụng cho bản thân, đã chuyển khoản trả tiền cho T và thống nhất địa điểm để ma túy cho C đến lấy nhưng khi C đến thì thấy T đang bị phát hiện, bắt quả tang nên C chưa lấy được ma túy. Việc mua bán ma túy giữa bị cáo T và bị cáo C được xác định là đã hoàn thành, việc bị cáo C chưa nhận được ma túy là ngoài ý muốn chủ quan của bị cáo. Do đó, Nguyễn Mạnh C phải chịu trách nhiệm hình sự về hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy đối với khối lượng ma túy trong vỏ bao thuốc lá T10 thu được khi bắt quả tang Trần Anh T, qua giám định có khối lượng là 1,1 gam ma túy, loại Methamphetamine.

Ngoài ra, vào ngày 07-4-2024, bị cáo Trần Anh T và bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 đã thực hiện hành vi tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy tại phòng trọ của T ở tổ G, phường Đ, thành phố Y, tỉnh Yên Bái. Trong đó, bị cáo T là người cung cấp ma túy, cung cấp dụng cụ và sử dụng địa điểm là phòng trọ của mình để bị cáo và bị cáo H1 cùng sử dụng ma túy. Bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 là người khởi xướng việc sử dụng ma túy, trong quá trình sử dụng 03 viên ma túy, bị cáo đã dùng bật lửa ga đốt ma túy ở nhiệt độ cao bốc thành khói để tự sử dụng, sau đó đốt ma túy cho T sử dụng.

Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái truy tố bị cáo Trần Anh T về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “phạm tội hai lần trở lên” và “..., M,...có khối lượng từ 05gam đến dưới 30gam” theo quy định tại điểm b, i khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” với tình tiết định khung “phạm tội hai lần trở lên” theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 251 Bộ luật hình sự và tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” theo khoản 1 Điều 255 Bộ luật hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Mạnh C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật.

[4] Xét hành vi của các bị cáo là rất nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm trực tiếp chế độ quản lý của Nhà nước về chất ma túy, gây mất trật tự, trị an tại địa phương, xâm phạm đến sức khỏe và sự phát triển giống nòi của dân tộc, là nguyên nhân trực tiếp làm gia tăng các tệ nạn xã hội, phát sinh thêm các tội phạm khác, gây tâm lý lo lắng, hoang mang trong quần chúng nhân dân.

Các bị cáo đều là người đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức rõ hành vi mua bán, tổ chức sử dụng và tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố ý thực hiện. Vì vậy, cần phải có một hình phạt tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, nhân thân của các bị cáo, cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để giáo dục, cải tạo các bị cáo và có tác dụng phòng ngừa chung, thể hiện tính nghiêm minh của pháp luật.

Đánh giá hành vi và vai trò của các bị cáo trong vụ án, Hội đồng xét xử nhận định:

Đối với hành vi “Mua bán trái phép chất ma túy” của bị cáo Trần Anh T và Ngô Thị Quỳnh H1; hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy” của bị cáo Nguyễn Mạnh C: Các bị cáo đều thực hiện hành vi độc lập và phải chịu trách nhiệm hình sự tương ứng với tính chất, mức độ hành vi do mình thực hiện.

Đối với hành vi “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy” của bị cáo Trần Anh T và Ngô Thị Quỳnh H1: Các bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với vai trò đồng phạm nhưng giản đơn, không có sự câu kết chặt chẽ. Các bị cáo đều có vị trí, vai trò nhất định và đều thực hiện hành vi phạm tội là đưa trái phép chất ma túy vào cơ thể người khác và đồng thời tự đưa ma túy vào cơ thể của chính mình. Trong đó, bị cáo Trần Anh T là người cung cấp ma túy, chuẩn bị công cụ, phương tiện và sử dụng phòng trọ của mình để làm địa điểm sử dụng ma túy; bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 là người khởi xướng và đốt ma túy để sử dụng cho bản thân và cho bị cáo T sử dụng.

[5] Về nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về nhân thân, tiền án, tiền sự các bị cáo: Các bị cáo Trần Anh T và Ngô Thị Quỳnh H1 đều chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo Nguyễn Mạnh C có 03 tiền sự đã được xóa vào các năm 2014, 2015 và 2018 về các hành vi “Đánh nhau” và “Sử dụng trái phép chất ma túy”.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo đều thành khẩn khai báo, do đó cần xem xét cho các bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Riêng bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1, trong quá trình điều tra bị cáo đã tự thú về hành vi mua bán trái phép chất ma túy khi chưa bị phát hiện; bị cáo có bố đẻ được Nhà nước tặng thưởng Huân chương kháng chiến hạng ba. Ngày 26-8-2024, bị cáo giao nộp 01 phiếu siêu âm tử cung buồng trứng tại Bệnh viện S, kết quả siêu âm: Bị cáo có thai 19 tuần 02 ngày trong buồng tử cung. Do đó, xem xét cho bị cáo được hưởng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm r khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm n khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự đối với cả hai tội.

Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội thuộc trường hợp chưa đạt. Do đó, Hội đồng xét xử áp dụng Điều 15; khoản 3 Điều 57 khi quyết định hình phạt đối với bị cáo.

[6] Về hình phạt bổ sung:

Căn cứ vào kết quả xác minh về tài sản, nguồn thu nhập của các bị cáo do Cơ quan cảnh sát điều tra - Công an thành phố Y, xác định các bị cáo đều không có công việc ổn định, không có tài sản gì riêng, không xác định được nguồn thu nhập cá nhân hàng tháng. Vì vậy, Hội đồng xét xử quyết định không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với các bị cáo.

[7] Đối với người và tài sản, đồ vật có liên quan:

- Đối với người phụ nữ tên là H2 ở ven đường, trên đường đi vào xã M, thành phố Y, tỉnh Yên Bái là người đã bán ma túy Methamphetamine cho T: Do T không biết rõ, địa chỉ, nhân thân của người phụ nữ này, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y cũng đã tiến hành xác minh tại Công an xã M, thành phố Y nhưng trên địa bàn xã xác định không phát hiện được người phụ nữ nào tên là H2 có đặc điểm như mô tả của T nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Y không có căn cứ xác minh để xử lý.

- Đối với Bùi Tùng L, Nguyễn Hoài T3, có hành vi mua ma túy về sử dụng, Cơ quan Công an thành phố Y đã ra Quyết định xử phạt hành chính L, T3 về hành vi sử dụng trái phép chất ma túy theo Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 58/QĐXPHC-ĐCSMT và 59/QĐXPHC-ĐCSMT ngày 25-4-2024 là phù hợp.

- Đối với viên nén hình tròn dẹt màu xanh do Trần Anh T tự giác giao nộp tại chiếc túi xách trong phòng trọ khi bắt quả tang có tổng khối lượng là: 0,08 gam gửi giám định không tìm thấy thành phần của chất ma túy. T xác định đây là viên hút chống ẩm, không phải ma túy, do vậy không đề cập việc xử lý trong vụ án là phù hợp.

[8] Về vật chứng và biện pháp tư pháp:

* Đối với số ma túy thu giữ khi bắt quả tang và khám xét tại phòng trọ của T, qua giám định có tổng khối lượng là 11,3 gam, cơ quan điều tra đã sử dụng giám định hết 0,9 gam nên Hội đồng xét xử không xem xét. Còn lại 10,4 gam ma túy Methamphetamine được niêm phong (sau khi đã trích mẫu giám định) cần tịch thu để tiêu hủy.

* Đối với các tài sản, đồ vật thu giữ khi bắt quả tang và khám xét tại phòng trọ của bị cáo T gồm:

  • - 01 chiếc thớt bằng nhựa hình tròn, màu trắng; 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh đục hai lỗ, một lỗ cắm đoạn ống nhựa màu hồng, một lỗ cắm đoạn ống nhựa màu xanh tím; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy; 01 túi xách màu nâu đã qua sử dụng; 05 vỏ phong bì đã mở niêm phong, 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 mảnh giấy bạc; 03 túi nilon: Xét đây là các đồ vật có liên quan đến tội phạm, không còn giá trị sử dụng nên cần tịch thu tiêu huỷ.
  • - 01 điện thoại di động Samsung màu đen, màn hình cảm ứng, bị nứt vỡ nhiều chỗ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo T khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc, trao đổi mua bán ma túy với Nguyễn Mạnh C và Ngô Thị Quỳnh H1, xét là tài sản dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - 01 điện thoại di động Nokia màu đen loại bàn phím, đã qua sử dụng và số tiền 4.550.000 đồng: Xét là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.

* Đối với các tài sản, đồ vật thu giữ của Ngô Thị Quỳnh H1 gồm:

  • - 01 điện thoại di động Vivo màu đen, màn hình bị nứt vỡ nhiều chỗ: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo H1 khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc, trao đổi mua bán ma túy với bị cáo T và các đối tượng Bùi Tùng L, Nguyễn Hoài T3, xét là tài sản dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - Số tiền 180.000 đồng: Xét là tài sản hợp pháp của bị cáo, không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.

* Đối với các tài sản, đồ vật Nguyễn Mạnh C đã giao nộp gồm:

  • - 01 sao kê chi tiết giao dịch số tài khoản 104868700073 của Ngân hàng Thương mại cổ phần C2, chi nhánh Y, chủ tài khoản Nguyễn Mạnh C: Đây là tài liệu, chứng cứ đã được đánh số bút lục, lưu trong hồ sơ vụ án nên Hội đồng xét xử không xem xét.
  • - 01 điện thoại di động Redmi màu xanh tím than đã qua sử dụng: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo C khai nhận đã sử dụng chiếc điện thoại này để liên lạc, trao đổi mua bán ma túy với Trần Anh T, xét là tài sản dùng vào việc phạm tội, cần tịch thu nộp Ngân sách Nhà nước.
  • - 01 căn cước công dân mang tên Nguyễn Mạnh C không liên quan đến tội phạm, cần trả lại cho bị cáo.

* Bị cáo Trần Anh T đã 02 lần bán ma túy cho Nguyễn Mạnh C, được hưởng lợi tổng số tiền 1.280.000 đồng, cần tịch thu, nộp Ngân sách Nhà nước toàn bộ số tiền trên. Trong đó, số tiền 280.000 đồng bị cáo đã sử dụng hết; số tiền 1.000.000 đồng hiện vẫn có trong tài khoản số 0949256500 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) của Trần Anh T. Do đó, tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 113/LPT-ĐCSMT ngày 19-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đối với tài khoản số 0949256500 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) của Trần Anh T để đảm bảo thi hành án.

* Bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 được hưởng lợi số tiền 1.100.000 đồng từ việc bán ma túy cho Bùi Tùng L và Nguyễn Hoài T3, bị cáo đã sử dụng hết, cần tịch thu (truy thu), nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo số tiền 1.100.000 đồng.

Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 111/LPT-ĐCSMT ngày 19-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đối với tài khoản số 0104873321054 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) của Ngô Thị Quỳnh H1 (chủ tài khoản là Vàng Thị V1 do Ngô Thị Quỳnh H1 sử dụng), số tiền có trong tài khoản là 800.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 112/LPT-ĐCSMT ngày 19-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đối với tài khoản số 8700205265981 tại Ngân hàng N3 (A) của Ngô Thị Quỳnh H1, số tiền có trong tài khoản là 300.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

[9] Về án phí và quyền kháng cáo: Các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và được quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

[10] Đề nghị của Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Yên Bái tại phiên tòa là có căn cứ nên được chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

1. Về tội danh:

Tuyên bố các bị cáo Trần Anh T và Ngô Thị Quỳnh H1 phạm tội “Mua bán trái phép chất ma túy” và “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Tuyên bố bị cáo Nguyễn Mạnh C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

2. Về hình phạt:

2.1. Đối với bị cáo Trần Anh T:

- Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Anh T 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Anh T 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Trần Anh T phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là: 12 (mười hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ 07-4-2024.

2.2. Đối với bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1:

- Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm n, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”.

- Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”.

Áp dụng khoản 1 Điều 55 Bộ luật hình sự, tổng hợp hình phạt. Buộc bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 phải chấp hành hình phạt chung cho cả hai tội là: 11 (mười một) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày bắt bị cáo đi thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 07-4-2024 đến ngày 11-4-2024.

2.3. Đối với bị cáo Nguyễn Mạnh C:

- Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 13-4-2024.

3. Về vật chứng và biện pháp tư pháp: Áp dụng Điều 46, Điều 47 Bộ luật hình sự; Điều 106, Điều 129 Bộ luật tố tụng hình sự:

3.1. Tịch thu tiêu hủy:

  • - 10,4 gam ma túy, loại Methamphetamine được niêm phong trong 01 phong bì do phòng K1- Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi: “Vật chứng thu giữ của Trần Anh T khi bắt người phạm tội quả tang và khám xét tại tổ G, phường Đ, thành phố Y ngày 07/4/2024 (Sau khi trích mẫu giám định”. Mặt sau phong bì các mép được dán kín, có họ tên và chữ ký của Trương Xuân N1, Nguyễn Quang T6, Trần Xuân T7, Nguyễn Đức P1, Trần Anh T và 04 hình dấu tròn đỏ của phòng K1- Công an tỉnh Y
  • - 01 chiếc thớt bằng nhựa hình tròn, màu trắng; 01 chai nhựa trong suốt có nắp màu xanh đục hai lỗ, một lỗ cắm đoạn ống nhựa màu hồng, một lỗ cắm đoạn ống nhựa màu xanh- tím; 01 bật lửa ga màu xanh; 01 mảnh giấy bạc bị đốt cháy; 01 túi xách màu nâu đã qua sử dụng; 05 vỏ phong bì đã mở niêm phong; 01 vỏ bao thuốc lá Thăng Long; 01 mảnh giấy bạc và 03 túi nilon

3.2. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước:

  • - 01 điện thoại di động Samsung màu đen, màn hình cảm ứng, bị nứt vỡ nhiều chỗ, số IMEI1: 357533643587834/01, lắp hai sim số: 0972.227.125 và 0392.831.500 của bị cáo Trần Anh T được niêm phong vào trong một phong bì thư do Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y phát hành, mặt trước ghi “Điện thoại tạm giữ của Trần Anh T (sau khi kiểm tra ngày 07/4/2024)”. Mặt sau phong bì niêm phong có họ tên, chữ ký của Ninh Văn B, Trần Anh T, Lương Việt T8, Trần Phong Q và 04 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y.
  • - 01 điện thoại Vivo màu đen, mang hình bị nứt vỡ nhiều chỗ, số IMEI1: 86625504974516, lắp hai sim số: 0862.789.074 và 0375.352.578 của bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 được niêm phong vào trong một phong bì thư do Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y phát hành, mặt trước ghi “Điện thoại tạm giữ của Ngô Thị Quỳnh H1 ngày 07/4/2024 (Sau khi đã kiểm tra)”. Mặt sau phong bì niêm phong có họ tên, chữ ký của Phùng Văn D, Nguyễn Quang H3, Ngô Thị Quỳnh H1 và 04 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y.
  • - 01 điện thoại di động Redmi màu xanh tím than, số IMEI1: 8619.9006.9046.803, lắp hai sim số: 0989.664.261 và 0347.812.102 của bị cáo Nguyễn Mạnh C được niêm phong vào trong một phong bì thư do Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y phát hành, mặt trước ghi “Điện thoại tạm giữ của Nguyễn Mạnh C (Sau khi kiểm tra ngày 12/4/2024)”. Mặt sau phong bì niêm phong có họ tên, chữ ký của Nguyễn Mạnh C, Nguyễn Hữu C1, Nguyễn Quốc T9, Ninh Văn B và 04 hình dấu tròn đỏ của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y.

3.3. Trả lại cho:

  • - Bị cáo Trần Anh T: 01 điện thoại di dộng Nokia màu đen loại bàn phím, đã qua sử dụng, số IMEI1: 357705102408783, lắp sim số: 0795.411.390 và số tiền 4.550.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì do phòng K1- Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi “Tiền thu giữ của Trần Anh T khi bắt quả tang ngày 07/4/2024 (Sau khi giám định). Mặt sau phong bì các mép đều được dán kín, có đóng các hình dấu tròn đỏ của phòng K1- Công an tỉnh Y và có họ tên, chữ ký của Đồng Thu H4, Phùng Văn D.
  • - Bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 số tiền 180.000 đồng được niêm phong trong 01 phong bì do phòng K1- Công an tỉnh Y phát hành, mặt trước phong bì có ghi “Tiền thu giữ của Ngô Thị Quỳnh H1 khi khám xét Trần Anh T ngày 07/4/2024 (Sau khi giám định). Mặt sau phong bì các mép đều được dán kín, có đóng các hình dấu tròn đỏ của phòng K1- Công an tỉnh Y và có họ tên, chữ ký của Đồng Thu H4, Phùng Văn D.
  • - Bị cáo Nguyễn Mạnh C: 01 căn cước công dân số: [...] mang tên Nguyễn Mạnh C.

(Đặc điểm vật chứng theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 30-7-2024 giữa Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố Y và Chi cục thi hành án dân sự thành phố Yên Bái).

3.4. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Trần Anh T số tiền 1.280.000 đồng do phạm tội mà có. Trong đó, số tiền 1.000.000 đồng hiện có trong tài khoản số 0949256500 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) của Trần Anh T. Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 113/LPT-ĐCSMT ngày 19-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đối với tài khoản số 0949256500 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) của Trần Anh T để đảm bảo thi hành án.

3.5. Tịch thu nộp ngân sách Nhà nước của bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 số tiền 1.100.000 đồng do phạm tội mà có.

- Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 111/LPT-ĐCSMT ngày 19-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đối với tài khoản số 0104873321054 tại Ngân hàng Thương mại cổ phần C2 (V2) của Ngô Thị Quỳnh H1 (chủ tài khoản là Vàng Thị V1 do Ngô Thị Quỳnh H1 sử dụng), số tiền có trong tài khoản là 800.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

- Tiếp tục duy trì Lệnh phong tỏa tài khoản số 112/LPT-ĐCSMT ngày 19-4-2024 của Cơ quan cảnh sát điều tra- Công an thành phố Y đối với tài khoản số 8700205265981 tại Ngân hàng N3 (A) của Ngô Thị Quỳnh H1, số tiền có trong tài khoản là 300.000 đồng để đảm bảo thi hành án.

4. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 về án phí, lệ phí Tòa án: Các bị cáo Trần Anh T, Ngô Thị Quỳnh H1 và Nguyễn Mạnh C, mỗi bị cáo phải nộp 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) tiền án phí hình sự sơ thẩm.

5. Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ luật tố tụng hình sự:

Các bị cáo Trần Anh T, Ngô Thị Quỳnh H1 và Nguyễn Mạnh C được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, các bị cáo có quyền tự nguyện thi hành án, hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND tỉnh Yên Bái;
  • - Sở tư pháp tỉnh Yên Bái;
  • - VKSND TP Yên Bái;
  • - Chi cục THADS TP Yên Bái;
  • - Công an TP Yên Bái;
  • - Bộ phận HSNV Công an TP Yên Bái;
  • - Các bị cáo;
  • - Lưu HS vụ án, TA, THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

 

Tạ Thị Kim Anh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 29/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI về hình sự (mua bán trái phép chất ma túy, tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, tàng trữ trái phép chất ma túy)

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Mua bán trái phép chất ma túy, Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy, Tàng trữ trái phép chất ma túy)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 29/08/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ YÊN BÁI, TỈNH YÊN BÁI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Áp dụng điểm b, i khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Anh T 09 (chín) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Trần Anh T 03 (ba) năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - Áp dụng điểm b khoản 2 Điều 251; điểm n, r, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 08 năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy”. - Áp dụng khoản 1 Điều 255; điểm n, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Ngô Thị Quỳnh H1 03 năm tù về tội “Tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy”. - Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38; Điều 15; khoản 3 Điều 57 Bộ luật hình sự. Xử phạt bị cáo Nguyễn Mạnh C 02 (hai) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giam 13-4-2024.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger