|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ TỈNH THÁI NGUYÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HS-ST
Ngày: 21- 11- 2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Lê Huy Bắc
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Bà Nguyễn Thị Nguyệt
2. Ông Nguyễn Tất Dũng
- Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Nam Thái, Thư ký Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên tham gia phiên tòa: Bà Ma Thị Thảo, Kiểm sát viên.
Ngày 21 tháng 11 năm 2024, tại Phòng xử án Tòa án nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 52/2024/TLST-HS, ngày 01 tháng 11 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 54/2024/QĐXXST-HS ngày 11 tháng 11 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thị T, tên gọi khác: Không; sinh ngày 09/3/1973; Nơi sinh: Đ, Thái Nguyên; Nơi đăng ký HKTT và chỗ ở hiện nay: xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên; Nghề nghiệp: Làm ruộng; Trình độ văn hóa: 03/12; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Giới tính: Nữ; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Xuân K, sinh năm 1953, con bà: Nguyễn Thị V, sinh năm 1954; Gia đình có 06 anh chị em, bị cáo là con thứ nhất trong gia đình; có chồng là: Hà Văn P, sinh năm 1972, có 02 con chung, con lớn sinh năm 1994, con nhỏ sinh năm 1996; Tiền án, tiền sự: không; Bị cáo không bị tạm giữ, tạm giam ngày nào, bị áp dụng biện pháp ngăn chặn Cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện đang tại ngoại tại địa phương. Có mặt tại phiên tòa.
- Người tham gia tố tụng khác:
+ Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án:
1. Ông Trịnh Hồng Q, sinh năm 1965 – Có mặt
Trú tại: Xóm H, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
2. Ông Hà Văn P, sinh năm 1972 – Vắng mặt
Trú tại: Xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
+ Người làm chứng: Bà Nguyễn Thị H, sinh năm 1970 – Vắng mặt
Trú tại: Tổ C, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng đầu năm 2021, Nguyễn Thị T muốn có tiền cho con trai đi xuất khẩu lao động tại N và trả nợ số tiền 110.000.000đ cho bà Nguyễn Thị H, sinh năm: 1970, trú tại: tổ C, thị trấn T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên nên T đã nói với H: “Chị xem có chỗ nào có cho vay thì giới thiệu giúp em để cho cháu đi”, H nói: “ở dưới chỗ H có ông Q ông cho vay tiền, đi xuống chị giới thiệu cho mà vay”, T nói: “chị giới thiệu cho em với em cũng chưa quen gì anh ý” bà H đồng ý. Sau đó, T cùng bà H đến nhà ông Trịnh Hồng Q, sinh năm 1965, trú tại: xóm H, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên để vay tiền. Tại đây, bà H nói với ông Q: “đây là đứa em ở trong Văn Hán buôn chè với em có nhu cầu vay tiền để cho con đi Nhật bác có thì giúp”. Quá trình trao đổi, ông Q có đưa ra điều kiện vay tiền phải có thế chấp tài sản mới được vay, lúc này do chưa có tài sản thế chấp nên T chưa vay được tiền. Trước đó, gia đình T được UBND xã V, huyện Đ giao cho 7,5 ha đất rừng để trồng rừng và được cấp sổ lâm bạ nhưng đã bị mất. Do vậy, T đã lên mạng xã hội Facebook để tìm kiếm người làm giấy chứng nhận quyền sử dụng đất giả đối với diện tích đất rừng được giao trên để đem đi thế chấp vay tiền của ông Q. Quá trình tìm kiếm, T thấy một trang quảng cáo trên mạng Facebook có giới thiệu làm được sổ đỏ (T không rõ tên trang địa chỉ quảng cáo), T ấn vào thì được người sử dụng trang mạng nhắn tin hướng dẫn kết bạn qua số điện thoại của phần mềm xã hội Zalo để hướng dẫn thủ tục làm sổ đỏ. Sau đó T đã kết bạn qua phần mạng xã hội Zalo do người này cung cấp, sau khi kết bạn xong, T nhắn tin với người sử dụng Zalo này với nội dung muốn làm một số cấp đất rừng thì người sử dụng Zalo nhắn tin bảo T cung cấp trích lục thửa đất và thông tin của đất rừng, T nhắn tin gửi cho người này 01 hình ảnh trích lục về thửa đất rừng của gia đình đã được cấp trước đó và thông tin của chồng mình là ông Hà Văn P, sinh năm 1972, HKTT: xóm V, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên và yêu cầu làm ông P là người đứng tên sổ đỏ, người sử dụng nich Z đồng ý và thông báo với T chi phí làm sổ đỏ hết số tiền là: 7.000.000đ, T đồng ý. Khoảng hai tuần sau, người sử dụng Zalo T đặt làm sổ đỏ giả đã gọi điện thoại cho T thông báo sổ đỏ của T đã làm xong và đã gửi qua shiper cho T. T có hỏi thanh toán tiền cho ai thì người này nói thanh toán tiền cho shiper, T đồng ý. Ngày hôm sau khi T đang ở nhà thì có một người shiper đến giao hàng, T mở ra kiểm tra gói hàng chuyển đến xác định đúng là sổ đỏ mang tên Hà Văn P đúng như thông tin T đã gửi đặt làm sổ đỏ trước đó, nên T thanh toán số tiền 7.000.000đ cho shiper. Sau đó, T đã liên lạc với bà H thông báo đã có sổ đỏ đất rừng. Đến tối, T có nói với ông P về việc đã làm được bìa đỏ đất rừng (T không nói cho ông P biết bìa đỏ T làm được là giả) và nói ông P cùng T đến nhà ông Q để vay tiền để trả nợ cho bà H và cho con đi xuất khẩu lao động, ông P đồng ý.
Ngày 30/5/2021, T cùng ông P và bà H cùng đi xuống nhà ông Q để vay số tiền 150.000.000đ, khi vay tiền T và ông P có viết một giấy vay tiền hẹn đến ngày 30/5/2022 sẽ trả nợ theo thoả thuận. T đã dùng 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nêu trên để thế chấp, việc thế chấp được lập thành văn bản riêng. Sau khi vay được ông Q số tiền 150.000.000đ, T đã trả nợ cho bà H số tiền 80.000.000đ, số tiền còn lại T đóng phí cho con trai đi xuất khẩu lao động. Khi đến kỳ hạn thanh toán nợ với ông Q, do vợ chồng T không có tiền trả nợ và bị ông Q đòi nợ nhiều lần nên đến ngày 29/01/2023, T và ông P đã xuống nhà ông Q để viết thêm 01 giấy vay nợ khác với số tiền là: 186.000.000đ cả tiền gốc và tiền lãi của các tháng cộng lại, hẹn đến ngày 29/01/2024 thanh toán nợ. Đến kỳ hạn thanh toán, ông Q đã đòi nợ T nhiều lần những không đòi được và nghi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của của T thế chấp là giả nên ông Q đem giấy chứng nhận quyền sử đụng đất đến UBND xã V, huyện Đ để hỏi và được biết giấy chứng nhận quyền sử đụng đất trên không được cơ quan có thẩm quyền cấp. Ngày 22/3/0224, ông Trịnh Hồng Q đã làm đơn tố cáo gửi đến cơ quan Công an đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản kết luận giám định số 478/KL-KTHS ngày 31/3/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh T, kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P (ký hiệu PS1) là giả.
Vật chứng vụ án gồm: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P (ký hiệu A) là giả được chuyển theo hồ sơ vụ án.
Tại phiên tòa bị cáo khai nhận toàn bộ hành vi của mình như bản Cáo trạng đã truy tố, bị cáo xác định việc truy tố là đúng người, đúng tội và đúng quy định của pháp luật.
Tại bản Cáo trạng số 55/CT-VKSĐ ngày 29/10/2024, Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên đã truy tố bị cáo Nguyễn Thị T về tội: “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Đ tham gia phiên tòa, sau khi phân tích nội dung vụ án, đánh giá tính chất, mức độ nguy hiểm cho xã hội của hành vi phạm tội cũng như nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo đã giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thị T từ 09 đến 12 tháng tù nhưng cho hưởng án treo, ấn định thời gian thử thách theo quy định của pháp luật. Không áp dụng hình phạt bổ sung đối với bị cáo.
Về vật chứng của vụ án: Lưu theo hồ sơ vụ án 01 phong bì niêm phong (ký hiệu A) của Phòng K1 Công an tỉnh T ghi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P.
Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016, buộc bị cáo phải nộp án phí Hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Trong phần tranh luận bị cáo và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án không có ý kiến tranh luận với bản luận tội của Viện kiểm sát, trong lời nói sau cùng bị cáo xin được cải tạo tại địa phương.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1]. Về tội danh:
Ngày 30/5/2021, tại nhà ông Trịnh Hồng Q thuộc xóm H, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, do cần tiền để trả nợ và cho con trai đi xuất khẩu lao động, Nguyễn Thị T đã sử dụng 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P là giả để thế chấp vay số tiền 150.000.000₫ của ông Trịnh Hồng Q. Về nguồn gốc của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P là giả nêu trên là do T đặt một người không rõ tên tuổi lai lịch trên mạng Facbook, Z làm với giá 7.000.000đ.
Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như đã nêu trên. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, phù hợp với lời khai của người làm chứng, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án, vật chứng đã thu giữ, bản kết luận giám định và những tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến các hoạt động bình thường, đúng đắn, làm giảm hiệu lực, hiệu quả quản lý hành chính của các cơ quan nhà nước. Hội đồng xét xử thấy, việc truy tố để xét xử đối với bị cáo Nguyễn Thị T về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức” theo quy định tại khoản 1 Điều 341 Bộ luật hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng quy định của pháp luật.
Nội dung Điều 341 Bộ luật hình sự quy định như sau:
“1. Người nào....sử dụng tài liệu hoặc giấy tờ giả thực hiện hành vi trái pháp luật, thì bị phạt tiền từ 30.000.000 đồng đến 100.000.000 đồng, phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc phạt tù từ 06 tháng đến 02 năm.
....
4. Người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 5.000.000 đồng đến 50.000.000 đồng”.
[2]. Xét nhân thân và các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với các bị cáo, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo xuất thân từ người dân lao động, có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự, nhất thời phạm tội. Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ rõ thái độ ăn năn hối cải, bị cáo phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; ngoài ra bị cáo có bố đẻ là ông Nguyễn Xuân K được tặng Bằng khen vì đã có thành tích tham gia trong cuộc kháng chiến chống Mỹ cứu nước nên bị cáo được hưởng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự nào quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.
Khi lượng hình, Hội đồng xét xử xét thấy: Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án tiền sự, có nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; bị cáo có nơi cư trú ổn định, rõ ràng, có đơn xin cải tạo tại địa phương được địa phương xác nhận và đề nghị nên xét thấy không cần cách ly bị cáo ra khỏi đời sống của xã hội mà xem xét mở lượng khoan hồng của pháp luật, chấp nhận lời thỉnh cầu của bị cáo để áp dụng Điều 65 Bộ luật hình sự, cho bị cáo được cải tạo dưới sự giám sát của chính quyền địa phương cũng đủ tác dụng giáo dục, cải tạo đối với bị cáo và răn đe, phòng ngừa chung.
[3]. Về hình phạt bổ sung:
Hành vi phạm tội của bị cáo không nhằm mục đích lợi nhuận hoặc thu lời bất chính nên không cần thiết áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo theo quy định tại khoản 4 Điều 341 Bộ luật hình sự.
[4]. Vật chứng của vụ án:
Đối với 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P là giả được niêm phong trong phong bì (ký hiệu A) của Phòng K1 Công an tỉnh T chuyển theo hồ sơ vụ án cần tiếp tục lưu theo hồ sơ vụ án.
[5]. Đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về điều luật áp dụng, hình phạt đối với bị cáo và các nội dung khác của vụ án tại phiên tòa là có căn cứ nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[6]. Về án phí và quyền kháng cáo:
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm và có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định của pháp luật.
[7]. Về tính hợp pháp của hành vi, quyết định tố tụng của Điều tra viên, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử:
Quá trình khởi tố vụ án, điều tra, truy tố và xét xử, Điều tra viên, Kiểm sát viên đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo và những người tham gia tố tụng khác trong vụ án không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của người tiến hành tố tụng thực hiện trong vụ án đảm bảo hợp pháp và đúng quy định của pháp luật.
[8]. Ngoài ra, trong vụ án này còn có ông Hà Văn P (Chồng của bị cáo Nguyễn Thị T) là người cùng bị cáo T mang Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất là giả đến nhà ông Trịnh Hồng Q để thế chấp vay tiền; Tuy nhiên, ông P hoàn toàn không biết đấy là giấy tờ giả, do đó, hành vi của ông P không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xử lý là phù hợp.
Đối với hành vi của Nguyễn Thị T sử dụng Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P là giả để thế chấp vay tiền của ông Trịnh Hồng Q; tuy nhiên giữa vợ chồng T, P và ông Q thiết L giao dịch vay nợ hoàn toàn tự nguyện, đồng thời T, P không có mục đích chiếm đoạt số tiền vay và đã thanh toán trả đầy đủ cho ông Q, do đó hành vi của T không cấu thành tội phạm nên Cơ quan điều tra, Viện kiểm sát không xử lý là phù hợp.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 326 Bộ luật Tố tụng hình sự:
Tuyên bố: Bị cáo Nguyễn Thị T phạm tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
1. Về hình phạt:
Áp dụng khoản 1 Điều 341; điểm i, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 65 Bộ luật hình sự. Xử phạt: Nguyễn Thị T 09 (Chín) tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách 18 (Mười tám) tháng tính từ ngày tuyên án sơ thẩm. Giao bị cáo Nguyễn Thị T cho Ủy ban nhân dân xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách.
Trong trường hợp người được hưởng án treo thay đổi nơi cư trú thì được thực hiện theo quy định tại khoản 3 Điều 92 Luật Thi hành án hình sự năm 2019. Trong thời gian thử thách, người được hưởng án treo cố ý vi phạm nghĩa vụ 02 lần trở lên thì Tòa án có thể quyết định buộc người được hưởng án treo phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.
2. Vật chứng của vụ án:
Lưu theo hồ sơ vụ án 01 (một) phong bì niêm phong (ký hiệu A) của Phòng K1 Công an tỉnh T ghi Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P.
3. Án phí:
Áp dụng Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án: Buộc bị cáo Nguyễn Thị T phải chịu 200.000₫ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm nộp ngân sách Nhà nước.
Án xử công khai sơ thẩm có mặt bị cáo, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Q, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên bản án; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án ông P vắng mặt tại phiên tòa, báo cho biết có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
T/M. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Lê Huy Bắc |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 21/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN về hình sự sơ thẩm về tội "sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự sơ thẩm về tội "Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức"
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 21/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN Đ, TỈNH THÁI NGUYÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngày 30/5/2021, tại nhà ông Trịnh Hồng Q thuộc xóm H, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, do cần tiền để trả nợ và cho con trai đi xuất khẩu lao động, Nguyễn Thị T đã sử dụng 01 Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P là giả để thế chấp vay số tiền 150.000.000đ của ông Trịnh Hồng Q. Về nguồn gốc của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mang tên Hà Văn P là giả nêu trên là do T đặt một người không rõ tên tuổi lai lịch trên mạng Facbook, Z làm với giá 7.000.000đ.
