|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN TỈNH NGHỆ AN Bản án số: 57/2024/HSST Ngày 26-9-2024 |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kim Thanh;
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Hoàng Nghĩa Toàn và ông Nguyễn Trọng Dư.
Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Hoa - Thư ký Toà án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên tham gia phiên toà: Ông Nguyễn Phi Thăng - Kiểm sát viên.
Ngày 26 tháng 9 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 11 tháng 9 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 58/2024/HSST-QĐ ngày 13 tháng 9 năm 2024 đối với các bị cáo:
1. Nguyễn Tất T, tên gọi khác: Nguyễn Phi L; sinh ngày 02 tháng 9 năm 1996, tại huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: Xóm D, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: 10/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Tất Đ và bà: Nguyễn Thị H; Vợ, con: Chưa có; tiền sự: Không; tiền án: Ngày 29/7/2020 bị Tòa án nhân dân huyện Đô Lương, tỉnh Nghệ An xử phạt 18 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy (Bản án sơ thẩm số 65/2020/HS-ST) - Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 08/7/2021; Ngày 23/6/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Vinh, tỉnh Nghệ An xử phạt 21 tháng tù về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” (Bản án sơ thẩm số 129/2022/HS-ST) - Chấp hành xong hình phạt tù vào ngày 16/10/2023. Bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 11/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
2. Nguyễn Quốc V, tên gọi khác: Không; sinh ngày 12 tháng 12 năm 1993, tại huyện C, tỉnh Lâm Đồng; nơi cư trú: Thôn E, xã T, huyện C, tỉnh Lâm Đồng; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; giới tính: Nam; con ông: Nguyễn Văn M; con bà: Bùi Thị H1; vợ: Lê Thị C (Đã ly hôn); con: Có 01 con sinh năm 2021; tiền án, tiền sự: Không; nhân thân: Ngày 22/11/2018 bị Tòa án nhân dân thị xã Dĩ An, tỉnh Bình Dương xử phạt 18 tháng tù về tội: “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Bản án hình sự sơ thẩm số 377/2018/HSST). Do có kháng cáo nên ngày 21/02/2019 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương xét xử phúc thẩm và xử phạt bị cáo 15 tháng tù về tội: “Giao cấu hoặc thực hiện hành vi quan hệ tình dục khác với người từ đủ 13 tuổi đến dưới 16 tuổi” (Bản án hình sự phúc thẩm số 34/2019/HSPT) - Chấp hình xong bản án vào ngày 04/3/2020; bị cáo bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 10/6/2024 cho đến nay. Có mặt.
Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan: Chị Cụt Thị L1; sinh năm: 2005; Nơi cư trú: Bản C, xã L, huyện T, tỉnh Nghệ An; nơi tạm trú: Đường Đ, xóm Y, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng cuối tháng 5/2024, T đi đến Khu công nghiệp V thuộc xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An tìm gặp một người đàn ông lái xe taxi (T không biết tên, tuổi, địa chỉ cụ thể và không biết hãng xe taxi) để mua 5.000.000 đồng ma túy đá. Người này đồng ý. T đưa cho người đàn ông số tiền 5.000.000 đồng. Người này cầm tiền và nói T đứng chờ. Người đàn ông điều khiển xe ô tô rời đi. Khoảng 30 phút sau, người này quay lại chỉ cho T biết ma túy để trong gói ni lông để bên lề đường trước cổng Khu công nghiệp V. T đi đến vị trí người đàn ông chỉ, thấy có 01 gói ni lông. Kiểm tra gói ni lông T thấy bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn và 01 (một) viên nén hình tròn màu hồng. Biết là ma túy nên T cầm gói ma túy, cất dấu vào ba lô rồi đi về nhà. Sau đó, T đặt mua trên mạng xã hội một cân tiểu ly màu đỏ trắng, mặt ngoài có in chữ ManLLoro nhằm mục đích để cân và chia gói ma túy vừa mua thành nhiều gói nhỏ. Sau đó, T bỏ ma túy và chiếc cân vào ba lô vải màu xanh đỏ, có in dòng chữ ILA. Đến ngày 07/6/2024, T mang bô lô trong đó có ma túy đến phòng trọ của chị Cụt Thị L1 (là người yêu của T) tại xóm Y, xã H, thành phố V, tỉnh Nghệ An cất dấu. T chờ đến khi L1 đi làm thì lấy gói ma túy ra, sử dụng cân tiểu ly cân, chia thành 20 (hai mươi) gói nhỏ khác nhau (trong đó có 19 gói ma túy dạng đá và 01 gói chứa một viên ma túy dạng hồng phiến). Mỗi gói đều được gói bằng bao ni lông màu trong suốt rồi cất dấu tất cả các gói ma túy lại trong ba lô. T để ba lô ở trong phòng trọ của chị L1 với mục đích khi nào có ai hỏi mua thì lấy ra bán.
Đến khoảng 11 giờ 30 phút ngày 10/6/2024, Nguyễn Quốc V, sử dụng điện thoại di động nhãn hiệu IPHONE 11 nhắn tin qua mạng xã hội Zalo có tên hiển thị: “Nguyễn Linh N” đến tài khoản Zalo của T có tên hiển thị: “Nguyễn Tất T” để rủ T đến quán H2 thuộc xóm H, xã H, huyện H uống bia và đưa cho V mượn bộ dụng cụ để sử dụng ma túy đá. T đồng ý. Sau đó, T lấy 01 cóng bằng thủy tinh; 01 ống nhựa; 01 vỏ nắp chai bằng nhựa màu vàng bỏ vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 rồi điều khiển xe mô tô BKS: 37M1-912.78 đến quán H2 (Chiếc xe này T mượn của anh Nguyễn Tất S). Khi gặp nhau, T đưa cho V vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 bên trong có chứa bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá. Quá trình ngồi uống bia, biết T có ma túy đá bán nên V hỏi mua của T 500.000 đồng ma túy. T đồng ý và nói V chuyển khoản tiền qua tài khoản cho T. V sử dụng số tài khoản 106867794190 của V mở tại Ngân hàng V1 chuyển số tiền 500.000 đồng vào số tài khoản 0835167104 của T mở tại Ngân hàng M1. Sau khi nhận được tiền, T điều khiển xe mô tô đi về phòng trọ của L1 lấy một gói ma túy dạng đá bỏ vào vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu Vinataba điều khiển xe mô tô đi đến trước cổng công ty S1 thuộc khu công nghiệp V rồi bỏ bao thuốc lá bên trong có chứa gói ma túy ở mép đường đối diện cổng công ty S1 đồng thời quay video vị trí để gói ma túy lại và gửi cho V qua ứng dụng Zalo. Sau đó, T gọi điện thoại cho V để thông báo và chỉ dẫn vị trí để gói ma túy. Xong xuôi, T tiếp tục đi về quán H2 để uống bia. Còn V, khi đang trên đường đi lấy gói ma túy thì bị Tổ công tác của Công an huyện H kiểm tra và phát hiện trong túi quần của V có vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 bên trong có chứa bộ dụng cụ sử dụng ma túy đá là chiếc cóng băng thủy tinh, một đầu có gắn hình cầu khuyết; 01 vỏ nắp chai bằng nhựa màu vàng. Tiến hành kiểm tra điện thoại phát hiện tại ứng dụng Zalo có video do Nguyễn Tất T gửi cho V. Tại chỗ, V tự nguyện khai nhận về việc V có mua của T 500.000 đồng ma túy dạng đá. Hiện V đang trên đường để đi lấy gói ma túy mà T bán cho V (Gói ma túy đang để ở mép đường trước cổng công ty S1). Tổ công tác đi cùng V đến khu vực trước cổng công ty S1 thì phát hiện tại mép đường đối diện cổng công ty có bao thuốc lá nhãn hiệu vinataba, bên trong có 01 gói nhỏ được gói bằng bao nilong màu trong suốt, trong cùng có chứa chất tinh thể dạng rắn (nghi là ma túy).
Ngày 11/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện H ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp và tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở mà chị Cụt Thị L1 thuê trọ tại xóm Y, xã H, thành phố V, đã thu giữ: 01 điện thoại di động REDMI, kiểu máy Redmi 9T; 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, mang BKS: 37M1-912.78; 01 cân tiểu ly, nhiều màu sắc; 01 bao ni lon màu trong suốt, mặt ngoài có dòng chữ “chăm sóc sức khỏe cộng đồng”, bên trong bao ni lon có chứa 16 (mười sáu) gói ni lông màu trong suốt, bên trong mỗi gói đều có chứa chất tinh thể dạng rắn, màu trắng; 01 bao potylen màu trong suốt, có miệng viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn, màu trắng; 01 gói nhỏ được gói bằng bao ni lông màu trong suốt, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn, màu trắng; 01 bao potylen màu trong suốt, có miệng viền màu đỏ, bên trong có chứa 01 viên nén hình tròn màu hồng, có in chữ “WY”; 01 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555; 02 ống nhựa hình trụ tròn, màu trắng tím.
Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại gói vật chứng thu giữ của Nguyễn Quốc V ngày 10/6/2024 thể hiện: Tiến hành cân 01 gói ni lông màu trong suốt, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn sau khi loại bỏ bao bì thì số chất tinh thể dạng rắn có khối lượng 0,164 gam. Hội đồng đã lấy toàn bộ 0,164 gam chất tinh thể dạng rắn để giám định.
Tại biên bản mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu giám định và niêm phong lại gói vật chứng thu giữ của Nguyễn Tất T ngày 11/6/2024 thể hiện: 01 gói nilon màu trong suốt, mặt ngoài có dòng chữ “Chăm sóc sức khỏe cộng đồng” bên trong có chứa: 16 gói nilon màu trong suốt, bên trong mỗi gói đều có chất tinh thể dạng rắn được ký hiệu thứ tự từ 01 đến 16; 01 gói nilon màu trong suốt, miệng viền màu đỏ, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn, màu trắng được ký hiệu 17; 01 gói nilon màu trong suốt, bên trong có chứa chất tinh thể dạng rắn được ký hiệu 18; 01 gói nilon màu trong suốt bên trong có chứa viên nén hình tròn màu hồng, in chữ WY, được ký hiệu 19. Tiến hành cân kết quả: Tổng khối lượng chất tinh thể dạng rắn sau khi loại trừ bao bì từ 01 đến 18 là 4,481 gam. Hội đồng đã lấy 3,045 gam chất tinh thể dạng rắn gửi giám định. Số ma túy còn lại 1,436 gam. Tiến hành cân viên nén hình tròn, màu hồng có in chữ WY có khối lượng là 0,096 gam. Hội đồng lấy cả 0,096 gam gửi đi giám định.
Tại bản Kết luận giám định số 662/KL-KTHS(Đ2-MT) ngày 18/6/2024 của Phòng K Công an tỉnh N kết luận:
- - Mẫu chất tinh thể dạng rắn, màu trắng thu giữ của Nguyễn Quốc V gửi đến giám định là ma túy (methamphetamine), có khối lượng là 0,164 gam (không phẩy một trăm sáu mươi tư gam).
- - Mẫu chất tinh thể dạng rắn, màu trắng thu giữ của Nguyễn Tất T gửi đến giám định là ma túy (methamphetamine), có khối lượng là 4,481 gam (bốn phẩy bốn trăm tám mươi mốt gam).
- - Viên nén hình tròn màu hồng, in chữ WY thu giữ của Nguyễn Tất T gửi đến giám định là ma túy (Methamphetamine), có khối lượng 0,096 gam (không phẩy không trăm chín mươi sáu gam)”.
Cáo trạng số 59 /CT-VKS-HN ngày 10 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An đã truy tố bị cáo Nguyễn Quốc V về tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 Bộ luật Hình sự; truy tố bị cáo Nguyễn Tất T về tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa, Nguyễn Quốc V và Nguyễn Tất T đã khai nhận hành vi mà các bị cáo thực hiện giống như nội dung bản cáo trạng và nội dung vụ án như đã nêu trên.
Đại diện Viện kiểm sát giữ quyền công tố tại phiên tòa vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố các bị cáo và đề nghị Hội đồng xét xử: Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”; bị cáo Nguyễn Tất T phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”; về hình phạt: Áp dụng điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tất T từ 07 (bảy) năm tù đến 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 11/6/2024. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc V từ 15 (mười lăm) tháng tù đến 18 (mười tám) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 10/6/2024; về xử lý vật chứng: Áp dụng khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015, khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015: Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì in chữ công văn Công an huyện H được niêm phong dán kín, trên phong bì có ghi: Gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Quốc V. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại; 01 phong bì thư in chữ Công an huyện H được niêm phong, dán kín. Trên phòng bì có ghi: Gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Tất T. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại; 01 cóng thủy tinh, một đầu có gắn hình cầu khuyết; 01 vỏ nắp chai bằng nhựa màu vàng; 02 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Vinataba; 01 cân tiểu ly, nhiều màu sắc; 03 ống nhựa hình trụ tròn, màu trắng tím; về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015: Tịch thu tại bị cáo Nguyễn Tất T số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước;: Đề nghị áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội buộc Nguyễn Quốc V và Nguyễn Tất T mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo không có ý kiến gì tranh luận với lời luận tội của Kiểm sát viên, chỉ xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA HỘI ĐỒNG XÉT XỬ:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát và Kiểm sát viên đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên toà, các bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện H, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, Kiểm sát viên đã thực hiện đều hợp pháp.
-
Về chứng cứ xác định tội danh: Lời khai của các bị cáo thống nhất với nhau; phù hợp với biên bản bắt người phạm tội quả tang lập ngày 10/6/2024, Biên bản khám xét khẩn cấp chỗ ở lập ngày 11/6/2024 và phù hợp với các tài liệu khác có tại hồ sơ vụ án đã được công bố và thẩm tra tại phiên tòa.
Có đủ cơ sở để kết luận: Vào lúc 13 giờ 30 phút ngày 10/6/2024, tại khu vực xóm P, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An. Khi bị cáo V đang trên đường đến khu vực trước cổng trước cổng Công ty S1, xã H, huyện H, tỉnh Nghệ An để lấy gói ma túy do V mua của Nguyễn Tất T thì bị Tổ công tác Công an huyện H và thu giữ tại bị cáo bộ dụng cụ để sử dụng ma túy và 01 điện thoại nhãn hiệu IPHONE 11. Đi theo chỉ dẫn của bị cáo, Tổ công đã thu giữ 01 gói chất tinh thể dạng rắn (thu giữ tại vị trí tại mép đường đối diện cổng S).
Tiến hành khám xét khẩn cấp nơi ở của chị Cụt Thị L1 vào hồi 10 giờ 45 phút ngày 11/6/2024, Cơ quan CSĐT đã phát hiện và thu giữ: 18 gói chất tinh thể dạng rắn và 01 viên nén màu hình tròn, màu hồng. T khai nhận gói chất tinh thể dạng rắn mà T bán cho V vào ngày 10/6/2024 và 18 gói chất tinh thể dạng rắn cùng 01 viên nén màu hình tròn, màu hồng bị thu giữ khi khám xét là của T và đều là ma túy. Số ma túy này T có được do mua của một người đàn ông lái xe tắc xi vào cuối tháng 5/2024.
Do gói bên trong chứa chất tinh thể dạng rắn thu giữ của Nguyễn Quốc V được giám định là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng là 0,164 gam; 18 gói chất bên trong chứa tinh thể dạng rắn và 01 viên nén màu hình tròn, màu hồng thu giữ của Nguyễn Tất T được giám định là ma túy (Methamphetamine) có khối lượng là 4,577 gam. Bị cáo T đã tái phạm chưa được xóa án tích mà tiếp tục thực hiện hành vi phạm tội do cố ý nên hành vi bán ma túy và tàng trữ chất ma túy nhằm mục đích để bán của bị cáo thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm b khoản 2 Điều 53 BLHS năm 2015.
Các bị cáo là người có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự. Nên hành vi mua 0,164 gam ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích sử dụng của bị cáo V đủ yếu tố cấu thành tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại khoản 1 Điều 249 BLHS năm 2015; hành vi: Bán 0,164 gam ma túy (M) cho V và hành vi tàng trữ 4,577 gam ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích để bán của bị cáo T đủ yếu tố cấu thành tội: “Mua bán trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm q khoản 2 Điều 251 BLHS năm 2015.
Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân huyện Hưng Nguyên, tỉnh Nghệ An truy tố các bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
-
Đánh giá tính chất, mức độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội, các tình tiết tăng nặng và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo: Vụ án trực tiếp xâm phạm đến trật tự, an toàn xã hội và chế độ quản lý đối với việc mua bán, tàng trữ chất ma túy. Các bị cáo biết và nhận thức được hành vi mua bán, tàng trữ trái phép chất ma túy là vi phạm pháp luật nhưng do các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy và vì hám lợi nên bị cáo T đã bán cho bị cáo V 0,164 gam ma túy (Methamphetamine) để V sử dụng ngoài ra bị cáo T còn tàng trữ 4,577 gam ma túy (Methamphetamine) nhằm mục đích để bán kiếm lời. Những hành vi này là nguy hiểm cho xã hội nên cần phải xử lý nghiêm các bị cáo nhằm giáo dục riêng và phòng ngừa chung.
Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Các bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Cần xem xét cho các bị cáo trong quá trình điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo T có ông ngoại là Lão thành cách mạng; bị cáo V sau khi phạm tội đã đầu thú. Do đó, các bị cáo đều được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Xét thấy: Bị cáo T phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm; bị cáo V có nhân thân xấu. Các V phạm tội nghiêm trọng, bị cáo T phạm tội tội rất nghiêm trọng nên cần cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới đủ điều kiện giáo dục và cải tạo bị cáo. Mức án mà Kiểm sát viên đề nghị tại phiên tòa hôm nay là phù hợp và nghiêm minh nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
- Về hình phạt bổ sung: Các bị cáo đều là đối tượng nghiện ma túy, không có thu nhập ổn định. Vì vậy, Hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung (phạt tiền) đối với các bị cáo.
-
Về xử lý vật chứng: Vật chứng gồm: 01 phong bì in chữ Công an huyện H được dán kín, niêm phong. Trên phong bì có ghi: Gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Quốc V. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại; 01 phong bì in chữ Công an huyện H được dán kín, niêm phong. Trên phong bì có ghi: Gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Tất T. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại”; 01 cóng thủy tinh, một đầu có gắn hình cầu khuyết; 01 vỏ nắp chai bằng nhựa màu vàng; 02 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Vinataba; 01 cân tiểu ly, nhiều màu sắc; 03 ống nhựa hình trụ tròn, màu trắng tím; 01 điện thoại di động REDMI, kiểu máy Redmi 9T và 01 xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, số loại VESPA S, màu sơn: xanh, mang BKS: 37M1-912.78.
Xét thấy: 02 phong bì in chữ Công an huyện H được dùng để niêm phong bên trong có chất tinh thể dạng rắn được giám định là ma túy. Hai vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555 và 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Vinataba là các vật chứng dùng để gói ma túy. Đây là các vật chứng bị cấm tàng trữ, cấm lưu hành; là vật chứng không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
Chiếc điện thoại REDMI, kiểu máy Redmi 9T và chiếc xe mô tô nhãn hiệu PIAGGIO, mang BKS: 37M1-912.78 là của anh Nguyễn Tất S. Bị cáo T đã mượn của anh S làm phương tiện đi lại và phương tiện liên lạc nên Cơ quan CSĐT đã trả lại xe cho anh S.
Chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro, là điện thoại của anh Nguyễn Minh T1. Bị cáo V đã mượn của anh T1 làm phương tiện liên lạc nên Cơ quan CSĐT đã trả lại xe cho anh T1.
01 cóng thủy tinh, một đầu có gắn hình cầu khuyết; 01 vỏ nắp chai bằng nhựa màu vàng; 03 ống nhựa hình trụ tròn, màu trắng tím và 01 cân tiểu ly là những vật, những công cụ để sử dụng vào việc cân và sử dụng ma túy do không có giá trị nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định của pháp luật.
- Về biện pháp tư pháp: Bị cáo T bán cho bị cáo V 500.000đ tiền ma túy. Đây là tiền có được do bán ma túy. Nên cần tịch thu tại bị cáo T số tiền trên để nộp ngân sách Nhà nước theo quy định của pháp luật.
- Đối với người đàn ông làm nghề lái xe taxi đã bán ma túy cho T, do T không biết tên, tuổi, địa chỉ và nhãn hiệu xe taxi nên không có căn cứ để xử lý người này.
- Đối với anh Nguyễn Tất S cho T mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu REDMI và 01 xe mô tô mang BKS: 37M1-912.78; đối với anh Nguyễn Minh T1 cho V mượn chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Iphone 11 Pro. Tuy nhiên, cả anh S và anh T1 đều không biết các bị cáo sử dụng xe mô tô và điện thoại di động để thực hiện hành vi phạm tội nên không xem xét xử lý.
- Về án phí: Buộc các bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ vào điểm q khoản 2 Điều 251; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Tất T, phạm tội: “Mua bán trái phép chất ma túy”
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Tất T 07 (bảy) năm tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 11/6/2024.
-
Căn cứ vào điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc V phạm tội: “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Xử phạt: Bị cáo Nguyễn Quốc V 15 (mười lăm) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam là ngày 10/6/2024.
-
Về xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a, c khoản 2 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự 2015; điểm a, c khoản 1 Điều 47 Bộ luật hình sự 2015:
Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì in chữ công văn Công an huyện H được niêm phong dán kín, trên phong bì có ghi: Gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Quốc V. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại; 01 phong bì thư in chữ Công an huyện H được niêm phong, dán kín. Trên phòng bì có ghi: Gói niêm phong vật chứng thu giữ của Nguyễn Tất T. Sau khi mở niêm phong cân xác định khối lượng lấy mẫu gửi đi giám định và niêm phong lại”; 01 cóng thủy tinh, một đầu có gắn hình cầu khuyết; 01 vỏ nắp chai bằng nhựa màu vàng; 02 vỏ bao thuốc lá nhãn hiệu 555; 01 vỏ bao thuốc lá màu vàng, nhãn hiệu Vinataba; 01 cân tiểu ly, nhiều màu sắc; 03 ống nhựa hình trụ tròn, màu trắng tím.
(Đặc điểm, chi tiết của các vật chứng có trong biên bản giao, nhận vật chứng giữa C1 cục thi hành án dân sự huyện Hưng Nguyên và Cơ quan CSĐT Công an huyện H ngày 10/9/2024).
- Về biện pháp tư pháp: Áp dụng điểm b khoản 1 Điều 47 BLHS năm 2015: Tịch thu tại bị cáo Nguyễn Tất T số tiền 500.000đ (năm trăm nghìn đồng) để sung vào ngân sách Nhà nước:
- Về án phí hình sự: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình và điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội buộc các bị cáo Nguyễn Tất T và Nguyễn Quốc V mỗi bị cáo phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
Các bị cáo, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Kim Thanh |
HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM
THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA
| Nguyễn Trọng Dư | Hoàng Nghĩa Toàn | Nguyễn Thị Kim Thanh |
Bản án số 57/2024/HSST ngày 26/09/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN về mua bán trái phép chất ma túy và tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 57/2024/HSST
- Quan hệ pháp luật: Mua bán trái phép chất ma túy và Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 26/09/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HƯNG NGUYÊN, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Bản án ma túy
