|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH TỈNH ĐỒNG THÁP |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày: 20/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Trần Văn Đô
Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Trần Quang Vinh;
2. Ông Lê Văn Dài;
- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Công Hậu là Thư ký Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp tham gia phiên tòa: Ông Võ Nhựt Thanh - Kiểm sát viên.
Trong ngày 20 tháng 11 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Thanh Bình, tỉnh Đồng Tháp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 56/2024/TLST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 55/2024/QĐXXST-HS ngày 17 tháng 10 năm 2022 và Quyết định hoãn phiên tòa số 35/2024/HSST-QĐ ngày 05 tháng 11 năm 2024 đối với các bị cáo:
- Họ và tên: Trương Vũ L, sinh ngày 30 tháng 7 năm 1998; Tên gọi khác: Nhí; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 08/12; Con ông: Trương Thành M, sinh năm 1976; Con bà: Phan Thị Bích V, sinh năm 1977; Gia đình có 02 anh em, bị cáo là con lớn nhất trong gia đình; Vợ tên: Đỗ Thị Kim Q, sinh năm 2001; có 02 con, con lớn sinh năm 2020, con nhỏ sinh năm 2022; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Không, Tạm giam: 14/6/2024. Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Họ và tên: Nguyễn Văn T, sinh ngày 11 tháng 02 năm 1999; Tên gọi khác: Không; Giới tính: Nam; Nơi sinh: Đồng Tháp; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và chỗ ở: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 07/12; Con ông: Nguyễn Văn P, sinh năm 1974; Con bà: Cao Thị T1, sinh năm 1980; Gia đình có 03 anh chị em, bị cáo là con thứ hai trong gia đình; Vợ: Lê Thị Trúc G, sinh năm 2000; có 01 con, sinh năm 2020; Tiền án, tiền sự: Không; Tạm giữ: Không; Tạm giam: Ngày 14/6/2024; Bị cáo đang bị tạm giam tại nhà Tạm giữ Công an huyện T. Bị cáo có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại:
- Trần Văn G1, sinh năm 1996. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Đỗ Thành Đ, sinh năm 1983. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Huỳnh Văn L1, sinh năm 1990. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Phan Văn A, sinh năm 1950. Địa chỉ: ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Người làm chứng:
- Huỳnh Thị Thùy N, sinh năm 1998. Địa chỉ: Ấp T, xã T, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Trần Văn Đ1, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
- Đỗ Thị Kim Q, sinh năm 2001. Địa chỉ: Ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp.
(Anh G1, anh Đ, chị N, anh Đ1 và chị Q có mặt; anh L1 và ông A vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 09 giờ ngày 01/01/2024, Trương Vũ L và Nguyễn Văn T tham gia nhậu tại nhà anh Huỳnh Văn L1 ở ấp B, xã B, huyện T, Đồng Tháp. Đến khoảng 12 giờ cùng ngày, L đến nhà ông Phan Văn A (là ông ngoại vợ của L) nhậu tiếp, lúc này có người nhắc lại chuyện vào năm 2020, L bị H (không nhớ rõ họ tên, địa chỉ) đánh và được anh Trần Văn G1 xông vào can ngăn ôm L lại, dẫn đến L bị H đánh. L tức giận, muốn đi tìm anh G1 đánh trả thù nên nghỉ nhậu và điều khiển xe mô tô đến nhà anh L1, gọi T đi với L có công chuyện thì T đồng ý.
L thấy cặp vách cửa nhà anh L1 có 02 cây chĩa loại 03 mũi dùng để xôm đất nên lấy đưa cho T cầm theo để đánh nhau với với anh G1. Sau đó, L điều khiển xe mô tô chở theo T ngồi phía sau cầm 02 cây chĩa chạy đến chỗ anh G1 đang ngồi nhậu tại quán V1, thuộc ấp B, xã B, huyện T. Trên đường đi, L cho T biết đi tìm anh G1 đánh trả thù. Khi đến quán V1, L dựng xe cặp lề đường, T xuống xe cầm theo một cây chĩa đi về phía bàn nhậu của anh G1 và nói “Anh em không sao lại đánh L?”.
Anh G1 kéo ghế đứng dậy, thì bị L cầm cây chĩa chạy đến đâm một cái trúng vào chân phải của anh G1 nên anh G1 bỏ chạy. Lúc này, anh Lê Phước L2 chạy đến can ngăn L lại, còn T cầm cây chĩa đuổi theo định đâm anh G1 thì anh Phan Thành B chạy đến can ngăn lại và làm tay anh B bị trầy xướt. Sau đó, L và T lên xe chạy về nhà của anh L1 trả lại 02 cây chĩa nhưng anh L1 không có ở nhà. Riêng anh G1 chạy xuống ghe trốn, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ và điều trị đến ngày 18/01/2024 thì ra viện. Đến ngày 29/01/2024, anh Trần Văn G1 có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Trương Vũ L và Nguyễn Văn T.
* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 203/KLTTCT-TTPYĐT ngày 16/4/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận đối với Trần Văn G1:
- - Sẹo vết thương phần mềm mặt trong 1/3 trên cẳng chân phải, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương: 01%.
- - Sẹo vết thương phần mềm + sẹo mổ mặt ngoài cẳng chân phải, kích thước lớn, tỷ lệ tổn thương: 03%.
- - Đứt động mạch chày trước đã được khâu nối, kết quả tốt, tỷ lệ tổn thương 05%.
- - Tổn thương nhánh thần kinh hông kheo ngoài, tỷ lệ tổn thương 08%.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị hại Trần Văn G1 tại thời điểm giám định là 16%.
- Kết luận khác: Sẹo mổ do quá trình điều trị; các tổn thương còn lại do vật sắc nhọn gây ra.
* Trong quá trình Cơ quan điều tra thụ lý, xác minh tin báo hành vi gây thương tích của L và T, đến ngày 16/5/2024, Trương Vũ L tiếp tục thực hiện hành vi gây thương tích cho anh Đỗ Thành Đ, cụ thể như sau:
Vào khoảng 16 giờ ngày 16/5/2024, Trương Vũ L đi nhậu tại ấp B, xã B, huyện T, tỉnh Đồng Tháp. Đến khoảng 19 giờ cùng ngày, chị Đỗ Thị Kim Q (là vợ của L) điện thoại nói đang xảy ra cự cãi với bà Phan Thị Bích V (là mẹ ruột của L), tại nhà ông Phan Văn A (là ông ngoại vợ của L) ở ấp B, xã B, huyện T. Sau đó, L đi về để can ngăn nhưng hai bên vẫn tiếp tục cự cãi.
Lúc này, ông Nguyễn Thanh D điều khiển xe mô tô chở theo em Nguyễn Như N1 (là cháu ngoại của ông D) chạy ngang qua thì nghe có người kêu “ê, ê”. Do ông D nghĩ có người gọi mình nên dừng xe lại. Sau đó, giữa L và ông D xảy ra cự cãi nên em N1 chạy đến nhà anh Đỗ Thành Đ cách đó khoảng 100 mét nhờ đến can ngăn. Trong lúc L và ông D cự cãi, chửi nhau, L chạy vào nhà ông A lấy 01 cây dao rựa định chém ông D nhưng được chị Q can ngăn. Sau đó, anh Đ đến khuyên ông D về nhà và xảy ra cự cãi tiếp với L. Lúc này, L cầm con dao rựa chém anh Đ 04 - 05 cái trúng vào vùng đầu và vai. Anh Đ bỏ chạy và được gia đình đưa đến Trung tâm y tế huyện T cấp cứu và chuyển đến Bệnh viện đa khoa tỉnh Đ điều trị nhưng không nhập viện. Đến ngày 17/5/2024, anh Đỗ Thành Đ có đơn yêu cầu xử lý hình sự đối với Trương Vũ L.
* Tại Bản kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 324/KLTTCT-TTPYĐT ngày 18/6/2024, của Trung tâm pháp y tỉnh Đ, kết luận đối với anh Đỗ Thành Đ như sau:
- - Sẹo vết thương phần mềm giữa đỉnh, kích thước trung bình, tỷ lệ tổn thương 02%.
- - Sẹo vết thương phần mềm thái dương trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%.
- - Sẹo vết thương phần mềm chẩm trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%.
- - Sẹo vết thương phần mềm vai trái, kích thước nhỏ, tỷ lệ tổn thương 01%.
Căn cứ Thông tư số 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể sử dụng trong giám định pháp y, giám định pháp y tâm thần, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của bị hại Đỗ Thành Đ tại thời điểm giám định là 05%.
- Kết luận khác: Các tổn thương trên do vật sắc gây ra.
Đối với anh Phan Thành B trong quá trình can ngăn Nguyễn Văn T đâm anh Trần Văn G1 bị cây chĩa của T làm trầy xướt tay, anh B không có yêu cầu gì về hình sự và dân sự nên không xem xét giải quyết.
* Vật chứng thu giữ:
- - 02 cây chĩa, mỗi cây có chiều dài 115cm, được làm bằng kim loại màu xám, bên trong bọng, có đường kính 03cm, phần ngọn có chĩa ra làm 03 mũi như mũi chĩa.
- - 01 con dao rựa bằng kim loại màu xám chiều dài 40cm.
Đây là các dụng cụ lao động của anh Huỳnh Văn L1 và ông Phan Văn A, các bị cáo đã lấy làm công cụ phạm tội nhưng anh L1 và ông A không biết. Quá trình điều tra, anh L1 có yêu cầu nhận lại 02 cây chĩa, riêng ông A không có yêu cầu nhận lại con dao rựa.
* Về trách nhiệm dân sự:
- - Bị hại Đỗ Thành Đ yêu cầu Trương Vũ L bồi thường số tiền: 7.000.000 đồng, bao gồm: Chi phí điều trị 1.000.000 đồng; thu nhập thực tế bị mất trong thời gian phục hồi thương tích 6.000.000 đồng, L thống nhất theo yêu cầu của bị hại.
- - Bị hại Trần Văn G1 yêu cầu Nguyễn Văn T và Trương Vũ L bồi thường số tiền 110.000.000 đồng. Các bị cáo không đồng ý, chỉ bồi thường theo quy định.
Tại Cáo trạng số 55/CT-VKSHTB ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình đã truy tố các bị cáo Trương Vũ L và Nguyễn Văn T về tội “Cố ý gây thương tích”; tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 của Bộ luật hình sự.
Tại phiên tòa sơ thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình giữ nguyên quyết định truy tố đối với các bị cáo. Đề nghị Hội đồng xét xử:
Đối với bị cáo Trương Vũ L: Áp dụng điểm c, đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Trương Vũ L với mức án từ 04 đến 05 năm tù;
Đối với bị cáo Nguyễn Văn T: Áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự; Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T với mức án từ 02 năm 06 tháng đến 03 năm tù;
Về trách nhiệm dân sự: Đề nghị các bị cáo bồi thường cho các bị hại như sau:
- + Bị cáo L và bị cáo T liên đới bồi thường cho bị hại Trần Văn G1 chi phí điều trị 30.000.000 đồng và thu nhập bị mất trong thời gian điều tra và phục hồi 80.000.000 đồng, tổng cộng 110.000.000 đồng. Bị cáo L đã bồi thường được 25.000.000 đồng; bị cáo T đã bồi thường 2.000.000 đồng đang nộp tại Chi cục Thi hành án huyện Thanh Bình. Do đó, các bị cáo L và T còn phải tiếp tục bồi thường cho bị hại số tiền 83.000.000 đồng.
- + Đối với bị hại Đỗ Thành Đ: Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo L và anh Đ tự nguyện thống nhất tiền thiệt hại là 7.000.000 đồng. Bị cáo L đã nộp số tiền bồi thường tại Chi cục Thi hành án huyện Thanh Bình.
Về xử lý vật chứng đề nghị tuyên như nội dung bản cáo trạng đã nêu.
* Tại phiên tòa, các bị cáo Trương Vũ L và Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình như Cáo trạng và Luận tội của Viện kiểm sát đã công bố, lời nói sau cùng của các bị cáo rất ăn năn và hối hận về hành vi phạm tội của mình, xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt để các bị cáo sớm trở về với gia đình và hòa nhập với cộng đồng.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện T, Điều tra viên, Viện kiểm sát huyện Thanh Bình Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015. Quá trình điều tra, truy tố, chuẩn bị xét xử và tại phiên tòa, các bị cáo và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, mọi hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo Trương Vũ L và Nguyễn Văn T đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội được mô tả trong bản cáo trạng số 55/CT-VKSHTB ngày 07/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Thanh Bình là đúng.
Bị cáo Trương Vũ L không có mâu thuẫn với Trần Văn G1 nhưng nhớ lại chuyện cũ nên đã rủ Nguyễn Văn T để gây thương tích cho bị hại. Các bị cáo L và T dùng chĩa sử dụng chĩa 03 mũi làm bằng kim loại màu xám có chiều dài 115cm gây thương tích cho bị hại G1 với tỷ lệ thương tật 16% vào lúc 13 giờ 30 phút, ngày 01/01/2024, tại khu vực quán V1 thuộc ấp B, xã B, huyện T.
Ngày 16/5/2024, chỉ vì mâu thuẫn nhỏ nhưng bị cáo L đã dùng con dao rựa bằng kim loại màu xám, chiều dài 40cm, là hung khí nguy hiểm chém trúng vùng đầu và vai gây thương tích cho anh Đỗ Thành Đ với tỷ lệ thương tật 05% tại ấp B, xã B, huyện T.
Lời khai nhận tội của các bị cáo hoàn toàn phù hợp với lời khai của người bị hại, những người làm chứng, biên bản khám nghiệm hiện trường và các tài liệu, chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án.
[3] Hành vi phạm tội của các bị cáo Trương Vũ L và Nguyễn Văn T đã cấu thành tội “Cố ý gây thương tích”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm c, đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
[4] Xét hành vi của các bị cáo: Khi thực hiện tội phạm, các bị cáo đã có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình, có đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự. Các bị cáo đều biết cây chĩa và con dao rựa là hung khí nguy hiểm; khi chém, đâm sẽ gây thương tích cho người khác hoặc dẫn đến chết người. Với bản chất hung hăng, côn đồ và thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên các bị cáo đã có hành vi phạm tội như đã nêu trên. Chứng tỏ hành vi phạm tội của các bị cáo là cố ý và tội phạm đã hoàn thành.
Trong vụ án này các bị cáo cùng cố ý thực hiện tội phạm, nhưng không có sự câu kết bàn bạc chặt chẽ với nhau và không có sự điều khiển của người nào, nên đây là dạng đồng phạm giản đơn. Tuy nhiên, xét về hành vi, động cơ, mục đích và hậu quả trong việc phạm tội của từng bị cáo có khác nhau nên cần xem xét đối với từng bị cáo.
Đối với bị cáo L là người rủ bị cáo T mang chĩa 03 mũi bằng kim loại đến để gây thương tích cho bị hại G1. Do đó, bị cáo L phải chịu trách nhiệm chính trong vụ gây thương tích cho bị hại G1. Trong thời gian chờ bị xử lý, bị cáo L xảy ra mâu thuẫn nhỏ với bị hại Được; lẽ ra, phải biết kiềm chế bản thân để tìm cách giải quyết một cách đúng đắn, nhưng bị cáo L đã không làm như thế; với bản chất hung hăng, côn đồ, thích dùng bạo lực để giải quyết mọi xung đột xảy ra và thiếu ý thức chấp hành pháp luật nên bị cáo đã có hành vi gây thương tích cho bị hại Được thuộc trường hợp phạm tội 02 lần trở lên được quy định tại điểm c khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.
Đối với bị cáo T, khi được bị cáo L rủ đi gây thương tích cho bị hại G1 thì đồng ý. Chính bị cáo là người cầm hung khí và có hành vi giúp sức cho bị cáo L gây thương tích cho bị hại G1 nên đóng vai trò đồng phạm tích cực trong vụ án.
[5] Hành vi phạm tội của các bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, các bị cáo đã trực tiếp xâm phạm đến sức khỏe của người khác một cách trái pháp luật, gây xôn xao dư luận, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân và làm ảnh hưởng đến tình hình trật tự trị an tại địa phương nơi xảy ra vụ án. Do đó, việc đưa các bị cáo ra xét xử tại phiên tòa sơ thẩm hôm nay là cần thiết nên cũng cần áp dụng mức hình phạt tương xứng với hành vi phạm tội của các bị cáo và cách ly các bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhất định để các bị cáo có thời gian học tập cải tạo trở thành người tốt có ích cho gia đình và cho xã hội, đồng thời cũng nhằm để răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[6] Về tình tiết tăng nặng: Các bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
[7] Về tình tiết giảm nhẹ: Trong giai đoạn điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, các bị cáo đã thành khẩn khai báo, tỏ ra ăn năn hối cải; đã khắc phục được một phần hậu quả là bồi thường cho bị hại G1 được số tiền 27.000.000 đồng (Trong đó: bị cáo L đã bồi thường được số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo T bồi thường được số tiền 2.000.000 đồng đang nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình); bị cáo L đã bồi thường cho bị hại Được số tiền 7.000.000 đồng đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình; các bị cáo được bị hại G1 xin giảm nhẹ trách nhiệm hình sự; gia đình bị cáo T thuộc diện hộ cận nghèo. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm b, s khoản 1 và khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự. Do đó, Hội đồng xét xử cần xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho các bị cáo khi lượng hình.
[8] Về trách nhiệm dân sự: Trong quá trình điều tra, truy tố cũng như tại phiên tòa sơ thẩm bị hại G1 yêu cầu các bị cáo bồi thường số tiền 110.000.000 đồng. Các bị cáo đồng ý bồi thường thiệt hại theo yêu cầu của bị hại G1. Các bị cáo L và T đã bồi thường cho bị hại G1 được số tiền 27.000.000 đồng (Trong đó: bị cáo L đã bồi thường được số tiền 25.000.000 đồng, bị cáo T bồi thường được số tiền 2.000.000 đồng đang nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình theo biên lai số 0003316, ngày 05/11/2024). Các bị cáo đồng ý tiếp tục bồi thường cho bị hại G1 số tiền 83.000.000 đồng.
Đối với bị hại Được đã thống nhất số tiền thiệt hại là 7.000.000 đồng, bị cáo L tự nguyện bồi thường số tiền này và đã nộp tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình theo biên lai thu số 0003304, ngày 23/10/2024.
Xét thấy đây là sự tự nguyện, Hội đồng xét xử công nhận sự thỏa thuận này.
[9] Về xử lý vật chứng:
Đối 02 cây chĩa 03 mũi là tài sản của anh Huỳnh Văn L1. Các bị cáo tự ý lấy đi gây thương tích cho bị hại G1 nhưng anh L1 không biết. Do đó, cần xem xét trả lại cho anh L1.
Riêng con dao rựa là tài sản của ông Phan Văn A. Bị cáo L tự ý lấy gây thương tích cho bị hại Được nhưng ông A không biết. Trong quá trình điều tra và xét xử, ông A không yêu cầu lấy lại và không còn giá trị sử dụng nên tịch thu tiêu hủy.
[10] Về án phí: Căn cứ quy định khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự và Điều 12; Điều 21; khoản 1 Điều 23 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14, ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án, bị cáo Trương Vũ L phải chịu 200.000 đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo L phải nộp 2.475.000 đồng tiền án phí dân sự sơ thẩm.
Riêng bị cáo T được miễn tiền án phí do có sổ hộ cận nghèo.
[11] Từ những nhận định trên, Hội đồng xét xử xét thấy Cáo trạng số 55/CT-VKSHTB ngày 07/10/2024 và luận tội của Đại diện Viện kiểm sát về tội danh và hình phạt đối với bị cáo cũng như giải quyết trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng vụ án là có căn cứ pháp luật nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Tuyên bố các bị cáo Trương Vũ L và Nguyễn Văn T cùng phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
- Căn cứ pháp luật và hình phạt:
- Căn cứ vào điểm c và đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Trương Vũ L 04 (bốn) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.
- Căn cứ vào điểm c khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Văn T 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày 14/6/2024.
- Căn cứ vào điểm c và đ khoản 2 Điều 134; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 17, Điều 38 và Điều 58 Bộ luật hình sự.
- Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ Điều 585, Điều 586, Điều 587 và Điều 590 Bộ luật dân sự.
Các bị cáo Trương Vũ L và Nguyễn Văn T có nghĩa vụ liên đới bồi thường cho Trần Văn G1 số tiền 110.000.000 (Một trăm mười triệu) đồng; (Trong đó: Bị cáo Trương Vũ L đã bồi thường được 25.000.000 (Hai mươi lăm triệu) đồng, riêng bị cáo Nguyễn Văn T đã nộp bồi thường 2.000.000 (Hai triệu) đồng theo biên lai số 0003316, ngày 05/11/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Thanh Bình). Các bị cáo Trương Vũ L và Nguyễn Văn T tiếp tục liên đới bồi thường cho Trần Văn G1 số tiền 83.000.000 (Tám mươi ba triệu) đồng.
Bị cáo Trương Vũ L có nghĩa vụ bồi thường cho Đỗ Thành Đ số tiền 7.000.000 (Bảy triệu) đồng. Bị cáo đã bồi thường được số tiền 7.000.000 (bảy triệu) đồng nộp tại Chi cục Thi hành dân sự huyện T theo biên lai thu số 0003304, ngày 23/10/2024.
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành xong tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên thi hành án còn phải chịu thêm khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357 và Điều 468 Bộ luật dân sự 2015.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ khoản 2 Điều 47 Bộ luật hình sự; điểm b khoản 3 Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
Trả lại cho anh Huỳnh Văn L1 02 (hai) cây chĩa ba, mỗi cây có chiều dài 115cm, được làm bằng kim loại màu xám, bên trong bọng, có đường kính 03cm, phần ngọn có chĩa ra làm 03 mũi chĩa (đã qua sử dụng);
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) con dao rựa bằng kim loại màu xám, chiều dài 40cm (đã qua sử dụng).
(Theo biên bản giao, nhận đồ vật, tài liệu, vật chứng ngày 28/10/2024 giữa Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện T và Chi cục Thi hành án dân sự huyện Thanh Bình).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015; Điều 12; khoản 1 Điều 21, điểm a, c khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý, sử dụng án phí, lệ phí Tòa án.
Buộc các bị cáo Trương Vũ L phải nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng tiền án phí hình sự sơ thẩm.
Bị cáo Trương Vũ L có nghĩa vụ nộp 2.475.000 (Hai triệu, bốn trăm bảy mươi lăm nghìn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Bị cáo Nguyễn Văn T được miễn tiền án phí do được cấp hộ cận nghèo.
- Các bị cáo và bị hại có mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đối với những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hợp lệ.
- Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Đô |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 20/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP về cố ý gây thương tích
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 20/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN THANH BÌNH, TỈNH ĐỒNG THÁP
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Cố ý gây thương tích
