Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CHÂU THÀNH

TỈNH BẾN TRE

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày: 18-7-2024.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH – TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Như Phương.

Các Hội thẩm nhân dân:

1. Ông Nguyễn Hoàng Phúc.

2. Ông Trần Văn Phước.

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Kinh Luân – Thư ký Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Cái Chí Toàn – Kiểm sát viên.

Ngày 18 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 47/2024/TLST-HS ngày 30 tháng 5 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 50/2024/QĐXXST-HS ngày 04 tháng 7 năm 2024 đối với bị cáo:

Mai Hữu H, sinh năm: 1997 tại tỉnh Bến Tre; Nơi cư trú: số C, ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre;

Nghề nghiệp: Làm thuê; Trình độ học vấn: 04/12; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông Mai Hữu K và bà Lê Thị Ánh N; Bị cáo chưa có vợ, con;

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 19/02/2024, đến ngày 25/02/2024, chuyển sang tạm giam cho đến nay. Có mặt.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

- Ông Lê Đức M, sinh năm 2006. Vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

* Người chứng kiến:

- Ông Đỗ Minh T, sinh năm 1959. Vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

- Ông La Quốc H1, sinh năm 1990. Vắng mặt.

Nơi cư trú: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Do có nhu cầu sử dụng ma túy nên vào lúc 11 giờ ngày 19/02/2024, Mai Hữu H sử dụng điện thoại di động cá nhân hiệu Huawei có gắn sim số 093.971.4xxx liên hệ qua ứng dụng Zalo với tài khoản tên “Tom” mua 500.000 đồng ma túy về sử dụng. Khi đã liên hệ được “Tom” thì H điều khiển xe đạp điện đến khu vực ngã tư gần đường vào nhà của H để gặp “Tom” nhận ma túy. Sau khi nhận được ma túy, H cầm 02 túi nylon chứa ma túy trong lòng bàn tay phải rồi điều khiển xe đạp điện đi tìm nơi sử dụng. Khi H đang điều khiển xe đến khu vực đầu đường liên Tổ nhân dân tự quản số 01 và 02 thuộc ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre thì bị Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về kinh tế - môi trường Công an huyện C, tỉnh Bến Tre và Công an xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre phát hiện bắt quả tang và thu giữ cùng tang vật.

Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre tiến hành khám xét khẩn cấp chỗ ở của H tại số nhà C ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre không thu giữ đồ vật, tài liệu có liên quan đến hành vi tàng trữ ma túy của H. Trong quá trình khám xét, đối tượng Trần Tấn T1, sinh năm: 1999, nơi thường trú: ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre đang ở tại nhà H tự giác giao nộp 01 bộ dụng cụ dùng để sử dụng trái phép chất ma túy của T1 được làm bằng một cốc sử màu trắng có hoa văn, trên miệng được nối với một cổ chai nhựa có nắp màu xanh gắn 01 nỏ thủy tinh hình mỏ vịt trong nó có chứa chất màu vàng và gắn một đoạn ống nhựa màu trắng.

Vật chứng thu giữ gồm:

  • - 01 túi nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu trắng chứa tinh thể màu trắng.
  • - 01 túi nylon màu trắng hàn kín ba phía, phía còn lại có rãnh khép và vạch màu đỏ chứa tinh thể màu trắng.
  • - 01 điện thoại di động hiệu ITEL màu đen, có gắn sim số 0563073078, số Imell: 355149118035803, số I: 355149118035811.
  • - 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh, có gắn sim số 0939714244, số Imell: 869854045165502, số I: 869854045183513.
  • - 01 xe đạp điện hiệu BMX, có gắn 01 bình điện hiệu ASAMA.

Tại Bản kết luận giám định số 117/2024/KL-KTHS ngày 22/02/2024 của Phòng K1 Công an tỉnh B kết luận: tinh thể màu trắng đựng trong 02 túi nylon màu trắng được niêm phong trong phong bì ký hiệu M gửi giám định là chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4326 gam. Mẫu vật còn lại sau giám định là 0,2795 gam. Mẫu vật hoàn lại sau giám định và vỏ bao gói được niêm phong trong phong bì số 117/2024 có chữ ký ghi họ tên của Dương Minh T2, Phan Trung T3, Nguyễn Ngọc M1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B.

Cáo trạng số 58/CT-VKSCT ngày 30/5/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre truy tố bị cáo Mai Hữu H tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo điểm c khoản 1 Điều 249 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

- Đại diện Viện kiểm sát phát biểu quan điểm giữ nguyên quyết định truy tố và đề nghị:

Tuyên bố bị cáo Mai Hữu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Mai Hữu H từ 01 (một) năm đến 02 (hai) năm tù về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.

Về xử lý vật chứng:

  • Tịch thu, tiêu hủy: 01 phong bì số 117/2024 có chữ ký ghi họ tên của Dương Minh T2, Phan Trung T3, Nguyễn Ngọc M1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật là ma túy trọng lượng 0,2795 gam và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
  • Tịch thu nộp ngân sách nhà nước: 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh, có gắn sim số 0939714244, số Imell: 869854045165502, số I: 869854045183513.
  • Trả lại cho bị cáo: 01 điện thoại di động hiệu ITEL màu đen, có gắn sim số 0563073078, số Imell: 355149118035803, số I: 355149118035811.
  • Ghi nhận cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Lê Đức M 01 xe đạp điện hiệu BMX, có gắn 01 bình điện hiệu ASAMA.

- Bị cáo đã khai nhận hành vi phạm tội như cáo trạng đã truy tố, lời nói sau cùng bị cáo xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hay khiếu nại gì về các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng. Do đó, các quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng cũng như các hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, người chứng kiến vắng mặt. Bị cáo không có ý kiến. Đại diện Viện kiểm sát đề nghị tiếp tục xét xử. Hội đồng xét xử xét thấy những người này đã có lời khai rõ ràng trong hồ sơ vụ án, việc vắng mặt không làm ảnh hưởng đến việc xét xử nên Hội đồng xét xử tiến hành xét xử là phù hợp quy định tại Điều 292, Điều 293 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015.

[2] Lời khai nhận của bị cáo tại phiên tòa phù hợp với các tài liệu thu thập được trong quá trình điều tra. Đủ căn cứ xác định: Lúc 11 giờ 30 phút ngày 19/02/2024, tại ấp T, xã A, huyện C, tỉnh Bến Tre, Mai Hữu H có hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy, loại Methamphetamine, khối lượng 0,4326 gam, mục đích để sử dụng.

[3] Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, trực tiếp xâm phạm đến độc quyền quản lý của Nhà nước đối với các chất ma túy, không chỉ ảnh hưởng đến an ninh trật tự tại địa phương nơi bị cáo phạm tội, mà còn gây tâm lý bất an cho quần chúng nhân dân, tiềm ẩn nguy cơ phát sinh tội phạm và tệ nạn xã hội khác. Khi thực hiện hành vi phạm tội, bị cáo có đầy đủ năng lực chịu trách nhiệm hình sự, nhận thức được hành vi tàng trữ trái phép chất ma túy là trái pháp luật nhưng bị cáo vẫn cố ý thực hiện nhằm mục đích sử dụng, để thỏa mãn nhu cầu cá nhân. Tổng khối lượng chất ma túy bị cáo tàng trữ trái phép là 0,4326 gam ma túy, loại Methamphetamine. Cáo trạng và quan điểm luận tội của đại diện Viện kiểm sát là có căn cứ, đúng người, đúng tội nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[4] Xét nhân thân, tình tiết tăng nặng và giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Bị cáo có nhân thân tốt, không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự và được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự “thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải” được quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[5] Căn cứ vào nhân thân, tính chất, mức độ, hậu quả do hành vi bị cáo gây ra, xét thấy cần thiết cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian nhất định để cải tạo, giáo dục bị cáo trở thành công dân lương thiện, có ích cho xã hội và có tác dụng phòng ngừa chung nên buộc bị cáo phải chấp hành hình phạt tù là phù hợp quy định tại Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về biện pháp tư pháp và xử lý vật chứng:

Đối với 01 phong bì số 117/2024 có chữ ký ghi họ tên của Dương Minh T2, Phan Trung T3, Nguyễn Ngọc M1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật là ma tuý trọng lượng 0,2795 gam và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định là chất ma túy cấm lưu hành nên tịch thu, tiêu hủy.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh, có gắn sim số 0939714244, số Imell: 869854045165502, số I: 869854045183513 bị cáo dùng liên hệ để tàng trữ ma túy nên tịch thu sung vào ngân sách nhà nước.

Đối với 01 điện thoại di động hiệu ITEL màu đen, có gắn sim số 0563073078, số Imell: 355149118035803, số I: 355149118035811 là tài sản của bị cáo không liên quan đến vụ án nên trả lại cho bị cáo Mai Hữu H.

Việc Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện C đã trả lại cho Lê Đức M 01 xe đạp điện hiệu BMX, có gắn 01 bình điện hiệu ASAMA là phù hợp nên ghi nhận.

[7] - Đối với người bán ma túy cho H tên tài khoản Z “Tom”, quá trình điều tra không xác định được họ tên, địa chỉ cụ thể nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, tỉnh Bến Tre tiếp tục xác minh, làm rõ xử lý sau.

- Đối với hành vi của Trần Tấn T1 do không liên quan đến hành vi tàng trữ trái phép chất ma tuý của Mai Hữu H nên Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện C, tỉnh Bến Tre ra quyết định tách hành vi của T1 để tiếp tục xác minh, xử lý là phù hợp.

[8] Về án phí: Bị cáo bị kết án nên phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Áp dụng điểm c khoản 1 Điều 249; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:

    Tuyên bố bị cáo Mai Hữu H phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma tuý”.

    Xử phạt bị cáo Mai Hữu H 01 (một) năm tù.

    Thời hạn tù tính từ ngày 19/02/2024.

  2. Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
    • - Tịch thu, tiêu hủy 01 (một) phong bì số 117/2024 có chữ ký ghi họ tên của Dương Minh T2, Phan Trung T3, Nguyễn Ngọc M1 và hình dấu tròn màu đỏ của Phòng K1 Công an tỉnh B, bên trong chứa mẫu vật là ma túy trọng lượng 0,2795 gam và vỏ bao gói hoàn lại sau giám định.
    • - Tịch thu nộp ngân sách nhà nước 01 (một) điện thoại di động hiệu Huawei màu xanh, có gắn sim số 0939714244, số Imell: 869854045165502, số I: 869854045183513.
    • - Trả lại cho bị cáo Mai Hữu H 01 (một) điện thoại di động hiệu ITEL màu đen, có gắn sim số 0563073078, số Imell: 355149118035803, số I: 355149118035811.
    • - Ghi nhận cơ quan cảnh sát điều tra đã trả lại cho Lê Đức M 01 (một) xe đạp điện hiệu BMX, có gắn 01 bình điện hiệu ASAMA.

    (Theo biên bản giao nhận vật chứng giữa Công an huyện C, tỉnh Bến Tre với Chi cục Thi hành án dân sự huyện Châu Thành, tỉnh Bến Tre).

  3. Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015; Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

    Buộc bị cáo Mai Hữu H phải chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng (Hai trăm ngàn đồng).

Bị cáo có mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND tỉnh Bến Tre (1b);
  • - VKSND huyện Châu Thành (1b);
  • - Cơ quan điều tra CA huyện Châu Thành (1b);
  • - Cơ quan THAHS CA huyện Châu Thành (1b);
  • - Chi cục THA dân sự huyện Châu Thành (1b);
  • - Sở Tư pháp tỉnh Bến Tre (1b);
  • - UBND xã An Hiệp, huyện Châu Thành (1b);
  • - Bị cáo; người liên quan (2b);
  • - Bộ phận thi hành án Hình sự (3b);
  • - Lưu (văn phòng, hồ sơ vụ án) (2b).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Trần Thị Như Phương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 18/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE về tàng trữ trái phép chất ma túy

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CHÂU THÀNH TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tàng trữ trái phép chất ma tuý Mai Hữu H
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger