Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN CAI LẬY

TỈNH TIỀN GIANG

Bản án số: 57/2024/HS-ST

Ngày 06/12/2024

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do- Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hà Văn Phúc

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Mai Huy Mân

Ông Cao Văn Vạn

Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Hồng Nhung - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang tham gia phiên tòa: Bà Trần Thị Kim Oanh – Kiểm sát viên.

Ngày 06/12/2024, tại Tòa án nhân dân huyện Cai Lậy mở phiên toà xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 63/2024/HSST ngày 31/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 57/2024/QĐXXST-HS ngày 20 tháng 11 năm 2024, vụ án được xét xử công khai đối với các bị cáo:

  1. Họ và tên: Lê Thị B, tên gọi khác: không; giới tính: Nữ; ngày, tháng, năm sinh: 01/01/1976; Nơi sinh và cư trú: ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: kinh; Tôn giáo: không; Nghề nghiệp: không; Trình độ học vấn: 9/12 (có mặt);
  2. Quan hệ và hoàn cảnh gia đình: Cha: Lê Văn K, sinh năm 1940 (đã chết); Mẹ: Ngô Thị N, sinh năm: 1940 (đã chết); Anh ruột có bốn người, bị cáo là con nhỏ nhất trong gia đình; Chồng Nguyễn Hồng V, sinh năm 1973 đã ly hôn; Con: Nguyễn Thị Bích N1, sinh năm 1996, địa chỉ: tỉnh Bình Phước; Bị cáo chưa có hoạt động gì về chính trị - xã hội;

- Tiền sự: 01 lần (Quyết định số 82/QĐ-XPHC ngày 27/02/2024 của Công an xã L, huyện C xử phạt vi phạm hành chính đối với Lê Thị Bích số tiền 1.500.000 đồng về hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền quy định tại điểm a khoản 2 Điều 28 Nghị định số 144/2021/NĐ-CP ngày 31/12/2021 của Chính phủ);

- Tiền án: không;

- Đặc điểm nhân thân: Từ nhỏ sống chung gia đình tại ấp H, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang, học đến lớp 9 thì nghỉ học; cho đến ngày phạm tội;

- Bị cáo bị áp dụng biện pháp cấm đi khỏi nơi cư trú từ ngày 19/8/2024 cho đến nay.

1

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:

  1. Bà Phạm Thị T, sinh năm 1978. Địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (xin vắng mặt)
  2. Bà Lương Thảo S, sinh năm 1979;
  3. Ông Trần Thanh N2, sinh năm 1979;
  4. Bà Phạm Thị H, sinh năm 1973 (xin vắng mặt);
  5. Anh Trần Quốc K1, sinh ngày 28/8/2008;

Đại diện theo pháp luật của anh K1: Bà Lương Thị Thảo S, sinh năm 1979 và ông Trần Thanh N2, sinh năm 1979.

Cùng địa chỉ: Ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (cùng xin vắng mặt)

  1. Bà Trần Thị L, sinh năm 1965. Địa chỉ: Ấp A, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang (xin vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Thị Bích bị Công an xã L, huyện C ra Quyết định xử phạt vi phạm hành chính số 82/QĐ-XPHC ngày 27/02/2024 về hành vi đánh bạc trái phép thắng thua bằng tiền, xử phạt số tiền 1.500.000 đồng, B đã nộp phạt ngày 27/02/2024.

Khoảng 13 giờ ngày 01/6/2024, Lê Thị B đến nhà của Trần Thanh N2 tại ấp E, xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang chơi, tại đây B thấy có: Lương Thảo S, sinh năm 1979 (vợ của N2), Trần Quốc K1, sinh năm 2008 (con của N2), Phạm Thị H, sinh năm 1973, nơi cư trú: ấp E, xã L, huyện C, Trần Thị L, sinh năm 1965, nơi cư trú: ấp H, xã L, huyện C và Phạm Thị T, sinh năm 1978, nơi cư trú: ấp E, xã L, huyện C. Thấy có bộ bài tây 52 lá nên cả nhóm rủ nhau đánh bài ăn thua bằng tiền, hình thức chơi binh 6 lá, mỗi ván đặt cược từ 10.000 đồng đến 20.000 đồng, quy ước mỗi người sẽ làm cái một ván xoay vòng, chơi được khoảng 06 ván, đến 13 giờ 30 phút cùng ngày, khi T đang làm cái đã chia bài thì Công an xã L kiểm tra phát hiện và lập biên bản.

Vật chứng thu giữ gồm: 01 bộ bài tây (loại 52 lá); Tiền thu trên chiếu bạc là 2.570.000 đồng và 650.000 đồng tiền thu trên người của Lê Thị Bích .

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Lê Thị B đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự. Quá trình làm việc bị can, cơ quan điều tra đã tiến hành ghi hình có âm thanh, sao chép sang đĩa DVD lưu vào hồ sơ vụ án phù hợp lời khai của bị cáo.

Tại phiên tòa bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải và phạm tội lần đầu thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Bị cáo được hưởng tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

2

Đối với hành vi của Phạm Thị T, Phạm Thị H, Lương Thảo S, Trần Thị L, Trần Quốc K1, cùng tham gia đánh bạc ăn thua bằng tiền với Lê Thị Bích . Quá trình điều tra xác định số tiền tham gia đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tại quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ xử phạt hành chính là có căn cứ.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về hành vi, Quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện C, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện C, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự thủ tục qui định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa các bị cáo và những người tham gia tố tụng không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[2] Tại phiên tòa hôm nay sau khi nghe đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy công bố cáo trạng truy tố. Bị cáo đã thừa nhận hành vi đánh bạc, xét thấy lời khai nhận tội của các bị cáo phù hợp với lời khai của những người liên quan cùng các tài liệu chứng cứ có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Viện kiểm sát truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng quy định pháp luật.

[3] Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm phạm đến trật tự công cộng và trị an tại địa phương, bản thân bị cáo có đủ năng lực trách nhiệm hình sự, bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Do đó, cần phải xử phạt nghiêm khắc và có mức án tương xứng với hành vi của bị cáo nhằm răn đe giáo dục và phòng ngừa chung cho xã hội.

[4] Tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo:

- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không.

- Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa các bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho các bị cáo được quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.

[5] Về vật chứng: Cơ quan điều tra không chứng minh được số tiền 1.000.000 đồng thu trên người của bà Phạm Thị T, 400.000 đồng thu trên người của bà Phạm Thị H và 300.000 đồng thu trên người của anh Trần Quốc K1 dùng vào mục đích đánh bạc nên đã trả lại là có căn cứ chấp nhận. Số tiền 650.000 đồng thu trên người của bị cáo Lê Thị B, bị cáo trình bày không dùng để đánh bạc, quá trình điều tra không chứng minh được là tiền bị cáo dùng để đánh bạc nên trả lại cho bị cáo. Đối với số

3

tiền 2.570.000 đồng tịch thu trên chiếu bạc nên nên tịch thu sung quỹ Nhà nước. Đối với 01 bộ bài tây (loại 52 lá) bị cáo đã sử dụng để đánh bạc nên tịch thu tiêu hủy.

[6] Đối với hành vi của Phạm Thị T, Phạm Thị H, Lương Thảo S, Trần Thị L và Trần Quốc K1 tham gia đánh bạc cùng bị cáo. Quá trình điều tra xác định số tiền tham gia đánh bạc đều dưới mức tối thiểu để truy cứu trách nhiệm hình sự, nên hành vi chưa đủ yếu tố cấu thành tội “Đánh bạc” tại quy định khoản 1 Điều 321 Bộ luật Hình sự. Do đó, Cơ quan Cảnh sát điều tra chuyển hồ sơ xử phạt hành chính là có căn cứ chấp nhận.

[7] Tại bản cáo trạng số 47/CT-VKSHCL ngày 31/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy, tỉnh Tiền Giang truy tố bị cáo về tội “Đánh bạc” theo quy định tại khoản 1 Điều 321 của Bộ luật Hình sự. Tại phiên tòa, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Cai Lậy phát biểu quan điểm giải quyết vụ án và đề nghị áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 của Bộ luật Hình sự đề nghị Hồi đồng xét xử phạt bị cáo từ 06 đến 09 tháng tù cho hưởng án treo về tội “Đánh bạc”. Xét lời đề nghị của đại diện Viện kiểm sát về tội danh, mức hình phạt, tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, xử lý vật chứng là có cơ sở, phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[8] Bị cáo Lê Thị Bích P chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự, điểm a khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Xử:

  1. Tuyên bố bị cáo Lê Thị B phạm tội “Đánh bạc”.
  2. Về hình phạt: Áp dụng khoản 1 Điều 321; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 65 Bộ luật Hình sự. Xử phạt bị cáo Lê Thị B 09 tháng tù cho hưởng án treo. Thời gian thử thách là 18 tháng tính từ ngày tuyên án.

Giao bị cáo cho Ủy ban nhân dân xã L, huyện C, tỉnh Tiền Giang giám sát, giáo dục trong thời gian thử thách. Trường hợp bị cáo có thay đổi nơi cư trú thì thực hiện theo Điều 69 của Luật Thi hành án hình sự. Trong thời gian thử thách, nếu bị cáo nào cố ý vi phạm nghĩa vụ theo quy định của Luật Thi hành án hình sự từ 02 (hai) lần trở lên, thì Tòa án có thể buộc bị cáo đó phải chấp hành hình phạt tù của bản án đã cho hưởng án treo.

  1. Về vật chứng: Áp dụng điểm a, b khoản 2 và khoản 3 Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu sung quỹ Nhà nước số tiền 2.570.000 đồng. Tịch thu tiêu hủy 01 bộ bài tây (loại 52 lá). Trả lại cho bị cáo Lê Thị Bích S1 tiền 650.000 đồng.
  2. Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự, khoản 1 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, buộc bị cáo Lê Thị Bích P chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
  3. Bị cáo có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Người có QLNVLQ có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản

4

án được tống đạt, niêm yết hợp lệ để yêu cầu Tòa án nhân dân tỉnh Tiền Giang xét xử phúc thẩm.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND tỉnh Tiền Giang;
  • - VKSND huyện Cai Lậy;
  • - CCTHADS Cai Lậy;
  • - Các đương sự;
  • - UBND xã Long Trung;
  • - Lưu hồ sơ, án văn.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hà Văn Phúc

5

6

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 06/12/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG về hình sự (tội đánh bạc)

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Tội Đánh bạc)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 06/12/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN CAI LẬY, TỈNH TIỀN GIANG
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Lê Thị B Đánh bạc
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger