|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HS-ST Ngày: 06-5-2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Võ Thị Kim Dung.
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Dũng và bà Nguyễn Thị Liên.
- Thư ký phiên toà: ông Phạm Văn Trung - Thư ký Toà án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tham gia phiên toà: Ông Lê Đại - Kiểm sát viên.
Ngày 06 tháng 5 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, mở phiên tòa trực tiếp xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 46/2024/TLST - HS ngày 21/3/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 61/2024/QĐXXST – HS ngày 12 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 27/2024/QĐST-HS ngày 24 tháng 4 năm 2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Cao S, (tên gọi khác: không); sinh ngày 22 tháng 01 năm 2001 tại huyện D, tỉnh Nghệ An; nơi cư trú: xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An;Nơi ở hiện nay: xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ học vấn: Lớp 12/12; dân tộc: Kinh; giới tính: nam; tôn giáo: công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Xuân T, sinh năm 1973 và bà Đậu Thị G, sinh năm 1973; Vợ, con: chưa có; tiền án: có 01 tiền án; ngày 21/01/2022, bị Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 13 (mười ba) tháng tù cho hưởng án treo, thời gian thử thách 26 (hai mươi sáu) tháng về tội “Trộm cắp tài sản”; Tiền sự: không; bị cáo đầu thú và bị tạm giữ, tạm giam từ ngày 07/01/2024 đến nay (có mặt).
2. Bị hại: - Công ty cổ phần T6.
Địa chỉ: tầng A, 11 tòa nhà ICON4, B Đê L, L, Đ, Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: ông Nguyễn Tuấn Huỳnh
Người đại diện theo ủy quyền: ông Phạm Quang M, sinh năm 1982. (vắng mặt)
Trú tại: tổ dân phố G, thị trấn T, huyện N, tỉnh Hà Tĩnh.
Người địa diện theo ủy quyền của ông Phan Quang M1: ông Nguyễn Tuấn A, sinh năm 1974. (có mặt)
Trú tại: khối D, phường Q, thành phố V, Nghệ An.
- Công ty Cổ phần X.
Địa chỉ: lô 5a, 5b Khu đô thị M, đại lộ L, thành phố V, Nghệ An.
Người đại diện theo pháp luật:
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1979. (có mặt)
Trú tại: khối Y, T, thành phố V, Nghệ An.
- anh Đàm Ngọc T1, sinh năm 1983. (vắng mặt)
Trú tại: xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
- chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979. (vắng mặt)
Trú tại: xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
- chị Võ Thị H2, sinh năm 1989. (vắng mặt)
Trú tại: xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
- bà Đậu Thị G, sinh năm 1973. (có mặt)
Trú tại: T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
- anh Bùi Đăng T2, sinh năm 1979. (vắng mặt)
Trú tại: xóm N, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An.
- anh Phạm Kim T3, sinh năm 1980. (vắng mặt)
Trú tại: xóm D, xã N, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
- anh Nguyễn Tiến L, sinh năm 1978.(vắng mặt)
Trú tại: xóm F, xã T, huyện Đ, tỉnh Nghệ An.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong khoảng thời gian từ tháng 9/2023 đến tháng 01/2024, Nguyễn Cao S, sinh năm 2001, trú tại xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thực hiện nhiều vụ trộm cắp tài sản trên địa bàn huyện D, cụ thể như sau:
- Vụ thứ nhất: Vào khoảng 17 giờ 00 phút ngày 26/9/2023, Nguyễn Cao S đi bộ từ nhà ở xóm T, xã D, huyện D theo đường nội đồng qua trang trại chăn nuôi vịt của anh Đàm Ngọc T1, sinh năm 1983, trú tại xóm H, xã D, huyện D thì thấy 01 (Một) xe máy biển kiểm soát 37B2-41661, nhãn hiệu Honda, loại Wave S, màu sơn trắng đen của anh Đàm Ngọc T1 đang dựng ngoài đường cạnh cửa cổng trang trại, chìa khóa đang cắm ở ổ khóa nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Thấy không có người trông coi nên Nguyễn Cao S đã mở khóa xe rồi điều khiển xe bỏ chạy. Quá trình bỏ chạy khiến biển kiểm soát 37B2-41661 bị rơi mất nên Nguyễn Cao S đã lắp biển kiểm soát 37F2-28628 (Biển kiểm soát 37F2-28628 là của Nguyễn Cao S đã nhặt được tại đường đê thuộc xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An) và thay đổi màu sơn xe để tránh sự phát hiện của bị hại rồi sử dụng phương tiện xe máy đã trộm được để làm phương tiện đi lại cho cá nhân.
- Vụ thứ hai: Vào khoảng 10 giờ 00 phút ngày 19/11/2023, Nguyễn Cao S đi chơi tại khu vực xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì thấy 01 (Một) xe máy biển kiểm soát 37F1-58712, nhãn hiệu YAMAHA, loại Sirius, màu sơn đỏ đen, tình trạng đã qua sử dụng của chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979, trú tại xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đang dựng ngoài đường cạnh cửa cổng trường mầm non xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thuộc xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, chìa khóa đang cắm ở ổ khóa nên Nguyễn Cao S đã nảy sinh ý định trộm cắp tài sản. Lúc này, thấy không có người trông coi quản lý nên Nguyễn Cao S đã mở khóa xe rồi điều khiển xe bỏ chạy và đưa về nhà để cất giấu.
- Vụ thứ ba: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 02/12/2023, Nguyễn Cao S điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng đen, gắn biển kiểm soát 37F2-28628 (là tài sản mà Nguyễn Cao S đã trộm cắp của anh Đàm Ngọc T1 vào ngày 26/9/2023), trên xe để 01 (Một) kìm kim loại (loại kềm cộng lực, dài khoảng 50cm, phần tay cầm màu xanh đen) đi từ nhà ở xóm T, xã D, huyện D đến xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An nhằm mục đích trộm cắp tài sản là các tấm lưới loại B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc. Khi đến nơi, Nguyễn Cao S dùng kìm kim loại cắt trộm 04 (bốn) tấm lưới loại B40, kích thước 1,4x,2,6m (là tài sản của Công ty Cổ phần X). Sau đó, Nguyễn Cao S để các tấm lưới trên tại địa điểm trộm cắp rồi điều khiển xe máy trên quay về nhà để kéo sau 01 (một) xe kiến an, trên thùng xe có để 01 tấm bạt nilon màu xanh da cam, 01 đoạn dây đến để chở các tấm lưới B40. Khi đến nơi, Nguyễn Cao S cuộn các tấm lưới lại bỏ lên thùng xe kiến an rồi dùng tấm bạt che lại, dùng sợi dây để chằng, cột các tấm lưới rồi đi về nhà. Khi đi đến cánh đồng gần nhà ở xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An thì Nguyễn Cao S cất giấu xe kiến an chở các tấm lưới sắt B40 ngoài cánh đồng gần nhà và đi xe máy về nhà ngủ.
- Vụ thứ tư: Vào khoảng 00 giờ 15 phút ngày 16/12/2023, Nguyễn Cao S tiếp tục điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng đen, gắn biển kiểm soát 37F2-28628 để trên xe 01 kềm kim loại (loại kềm cộng lực, dài khoảng 50cm, phần tay cầm màu xanh đen) đi từ nhà tại xóm T, xã D, huyện D đến xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An (cạnh địa điểm trộm cắp vụ thứ ba) để trộm cắp tài sản là các tấm lưới loại B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc. Tại đây, Nguyễn Cao S dùng kìm kim loại cắt trộm 15 (Mười lăm) tấm lưới loại B40, kích thước kích thước 1,4x,2,6m (là tài sản của Công ty Cổ phần X). Sau đó, Nguyễn Cao S để các tấm lưới trên tại địa điểm trộm cắp rồi điều khiển xe máy trên quay về địa điểm để xe kiến an tại cánh đồng gần nhà rồi kéo xe kiến an, trên thùng xe có để sẵn 04 tấm lưới loại B40 đã trộm cắp của vụ thứ nhất đến lấy 15 (Mười lăm) tấm lưới loại B40 trên. Sau khi bỏ các tấm lưới loại B40 đã trộm lên thùng xe kiến an (tổng cộng là 19 tấm lưới loại B40 của 02 vụ) thì Nguyễn Cao S dùng bạt che lại, dùng dây để chằng cột rồi kéo đi đến bãi đất trống trong khu vực khu đô thị H ở thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Nguyễn Cao S cất giấu xe kiến an có chở các tấm lưới B40 rồi điều khiển xe máy đi về nhà ngủ. Đến khoảng 08 giờ ngày 16/12/2023, Nguyễn Cao S điều khiển xe máy gắn biển kiểm soát 37F2-28628 đi đến khu đô thị H để kéo xe kiến an có để các tấm lưới sát B40 đã trộm đi bán cho chị Võ Thị H2, sinh năm 1989, trú tại xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An với giá 1.558.000 đồng/19 tấm và đã tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ năm: Vào khoảng 00 giờ 30 phút ngày 23/12/2023, Nguyễn Cao S điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng đen, gắn biển kiểm soát 37F2-28628 để trên xe 01 kìm kim loại (loại kềm cộng lực, dài khoảng 50cm, phần tay cầm màu xanh đen) đi từ nhà đến xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản là các tấm lưới loại B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc. Tại đây, Nguyễn Cao S dùng kìm kim loại cắt trộm 24 (Hai mươi bốn) tấm lưới sắt loại B40, kích thước 1,4 x 2,6m (là tài sản của Công ty Cổ phần X). Sau đó, Nguyễn Cao S để các tấm lưới trên tại địa điểm trộm cắp rồi điều khiển xe máy trên quay về nhà để kéo sau 01 (một) xe kiến an, trên thùng xe có để 01 tấm bạt nilon màu xanh da cam, 01 đoạn dây đến để lấy các tấm lưới B40 đã cắt. Khi đến nơi, Nguyễn Cao S cuộn các tấm lưới lại bỏ lên thùng xe kiến an rồi dùng tấm bạt che lại, dùng sợi dây để chằng, cột các tấm lưới rồi rồi kéo đi đến bãi đất trống trong khu vực khu đô thị H ở thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Nguyễn Cao S cất giấu xe kiến an có chở các tấm lưới B40 rồi điều khiển xe máy đi về nhà ngủ. Đến khoảng 07 giờ 30 giờ ngày 23/12/2023, Nguyễn Cao S điều khiển xe máy gắn biển kiểm soát 37F2-286.28 đi đến khu đô thị H để kéo xe kiến an có để các tấm lưới sắt B40 đã trộm tiếp tục bán cho chị Võ Thị H2, sinh năm 1989, trú tại xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An với giá 1.968.000 đồng/24 tấm và đã tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ sáu: Vào khoảng 23 giờ 30 phút ngày 30/12/2023, Nguyễn Cao S điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng đen, gắn biển kiểm soát 37F2-28628 để trên xe 01 kềm kim loại (loại kềm cộng lực, dài khoảng 50cm, phần tay cầm màu xanh đen) đi đến xóm B, xã D, huyện D để trộm cắp tài sản là là các tấm lưới loại B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc. Tại đây, Nguyễn Cao S dùng kìm kim loại để cắt trộm 31 (Ba mươi mốt) tấm lưới sắt loại B40, kích thước kích thước (1,4 x 2,6)m (là tài sản của Công ty Cổ phần X). Sau đó, Nguyễn Cao S để các tấm lưới trên tại địa điểm trộm cắp rồi điều khiển xe máy trên quay về nhà kéo sau 01 (một) xe kiến an, trên thùng xe có để 01 tấm bạt nilon màu xanh da cam, 01 đoạn dây đến để lấy các tấm lưới B40 đã cắt. Khi đến nơi, Nguyễn Cao S cuộn các tấm lưới lại bỏ lên thùng xe kiến an rồi dùng tấm bạt che lại, dùng sợi dây để chằng, cột các tấm lưới rồi rồi kéo đi đến bãi đất trống trong khu vực khu đô thị H ở thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Nguyễn Cao S cất giấu xe kiến an có chở các tấm lưới B40 rồi điều khiển xe máy đi về nhà ngủ. Đến khoảng 08 giờ 30 giờ ngày 31/12/2023, Nguyễn Cao S điều khiển xe máy gắn biển kiểm soát 37F2-286.28 đi đến khu đô thị H để kéo xe kiến an có để các tấm lưới sát B40 đã trộm tiếp tục đi bán cho chị Võ Thị H2, sinh năm 1989, trú tại xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An với giá 2.542.000 đồng/31 tấm và đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
- Vụ thứ bảy: Vào khoảng 01 giờ 00 phút ngày 04/01/2024, Nguyễn Cao S điều khiển xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave, màu sơn trắng đen, gắn biển kiểm soát 37F2-28628 để trên xe 01 kìm kim loại (loại kềm cộng lực, dài khoảng 50cm, phần tay cầm màu xanh đen) đi đến xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An để trộm cắp tài sản là các tấm lưới loại B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc. Tại đây, Nguyễn Cao S dùng kìm kim loại cắt trộm 26 (Hai mươi sáu) tấm lưới sắt loại B40, kích thước (1,4 x 2,6)m (là tài sản của Công ty Cổ phần T6). Sau đó, Nguyễn Cao S để các tấm lưới trên tại địa điểm trộm cắp rồi điều khiển xe máy trên quay về nhà kéo theo sau xe kiến an, trên thùng xe có để 01 tấm bạt nilon màu xanh da cam, 01 đoạn dây để lấy các tấm lưới B40 đã cắt. Khi đến nơi, Nguyễn Cao S cuộn các tấm lưới lại bỏ lên thùng xe rồi dùng tấm bạt che lại, dùng sợi dây để chằng, cột các tấm lưới rồi rồi kéo đi đến bãi đất trống trong khu vực khu đô thị H ở thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Tại đây, Nguyễn Cao S cất giấu xe kiến an có chở các tấm lưới B40 vừa trộm cắp được rồi điều khiển xe máy đi về nhà ngủ. Đến khoảng 07 giờ 30 phút ngày 04/12/2023, Nguyễn Cao S điều khiển xe máy gắn biển kiểm soát 37F2-286.28 đi đến khu đô thị H để kéo xe kiến an có để các tấm lưới sắt B40 đã trộm tiếp tục đi bán cho chị Võ Thị H2, sinh năm 1989, trú tại xóm V, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An với giá 2.132.000 đồng/31 tấm và đã sử dụng tiêu xài cá nhân hết.
Đến 09 giờ 00 phút ngày 07/01/2024, Nguyễn Cao S tự nguyện đến Công an huyện D để đầu thú và khai nhận về hành vi phạm tội của mình.
Tại các Bản kết luận định giá tài sản ngày 05/01/2024 và ngày 10/01/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân huyện D kết luận:
- + 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave S, số máy C52E-4255013, số khung 215CY-414315, màu sơn trắng đen, tình trạng đã qua sử dụng là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 26/9/2023 tại xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An có giá trị là 4.600.000 đồng.
- + 01 (Một) xe máy biển kiểm soát 37F1-58712, nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, số máy 5C6J-031091, số máy DY-031069, màu sơn đỏ đen, tình trạng đã qua sử dụng là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 19/11/2023 tại xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An có giá trị là 7.500.000 đồng.
- + 04 (Bốn) tấm lưới loại B40, kích thước mỗi tấm là (1,4x2,6)m, có cấu tạo gồm sợi kim loại sắt đường kính 4mm đan xen nhau, khối lượng mỗi tấm là 12 kg, là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 02/12/2023 tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An có giá trị là 576.000 đồng.
- + 15 (Mười lăm) tấm lưới loại B40, kích thước mỗi tấm là (1,4x2,6)m, có cấu tạo gồm sợi kim loại sắt đường kính 4mm đan xen nhau, khối lượng mỗi tấm là 12 kg, là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 16/12/2023 tại xóm A, xã D, huyện D, Nghệ An có giá trị là 2.160.000 đồng.
- + 24 (Hai mươi bốn) tấm lưới loại B40, kích thước mỗi tấm là (1,4x2,6)m, có cấu tạo gồm sợi kim loại sắt đường kính 4mm đan xen nhau, khối lượng mỗi tấm là 12 kg, là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 23/12/2023 tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An có giá trị là 3.456.000 đồng.
- + 31 (Ba mươi mốt) tấm lưới loại B40, kích thước mỗi tấm là (1,4x2,6)m, có cấu tạo gồm sợi kim loại sắt đường kính 4mm đan xen nhau, khối lượng mỗi tấm là 12 kg, là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 31/12/2023 tại xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An có giá trị là 4.464.000 đồng.
- + 26 (Hai mươi sáu) tấm lưới loại B40, kích thước mỗi tấm là (1,4x2,6)m, có cấu tạo gồm sợi kim loại sắt đường kính 4mm đan xen nhau, khối lượng mỗi tấm là 12 kg là tài sản bị chiếm đoạt trong vụ trộm cắp tài sản xảy ra ngày 04/01/2024 tại xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An có giá trị là 3.744.000 đồng.
Vật chứng vụ án:
- + 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave S, số máy C52E-4255013, số khung 215CY-414315, màu sơn trắng đen, tình trạng đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chủ sở hữu là anh Đàm Ngọc T1, sinh năm 1983, trú tại xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định.
- + 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, số máy 5C6J-031091, số máy DY-031069, màu sơn đỏ đen, tình trạng đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979, trú tại xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định.
- + 01 (một) xe kiến an, có kết cấu gồm phần khung và thùng xe bằng kim loại; 01 đoạn dây thừng, màu xanh, dài 20,4m; 01 tấm bạt nilon, có hai mặt màu xanh và màu da cam, kích thước (6 x 3)m. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bà Đậu Thị G, sinh năm 1973, trú tại xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quá trình Nguyễn Cao S sử dụng các đồ vật trên đi trộm cắp tài sản thì bà Đậu Thị G không biết. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Đậu Thị G theo đúng quy định.
- + 35 (Ba mươi lăm) tấm lưới, loại B40, kích thước mỗi tấm là (1,4x2,6)m, có cấu tạo gồm sợi kim loại sắt đường kính 4mm đan xen nhau, khối lượng mỗi tấm là 12 kg. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của công ty Cổ phần X giao cho anh Lê Duy Đ, sinh năm 1984 trú tại xóm M, xã H, Tp ., tỉnh Nghệ An quản lý. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu công ty Cổ phần X theo đúng quy định.
- + 01 (một) kìm kim loại (loại kềm cộng lực, dài khoảng 50cm, phần tay cầm màu xanh đen) là công cụ mà bị can Nguyễn Cao S sử dụng để đi trộm cắp tài sản đã bị làm rơi mất tại địa điểm xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy.
- + Đối với 01 (một) biển kiểm soát 37F2-286.28, nền biển màu trắng, chữ và số màu đen mà bị can Nguyễn Cao S đã lắp vào xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave S, số máy C52E-4255013, số khung 215CY-414315, màu sơn trắng đen. Cơ quan Cảnh sát điều Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã xác minh nhưng không xác định chủ sở hữu. Hiện đã nhập Kho vật chứng Công an huyện D.
Về trách nhiệm dân sự.
- + Người bị hại bà Nguyễn Thị H1, ông Đàm Văn T4 đã nhận lại tài sản bị trộm cắp và không có yêu cầu gì về dân sự.
- + Trước khi mở phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T6 và bị cáo Nguyễn Cao S thống nhất thỏa thuận bị cáo Nguyễn Cao S bồi thường cho Công ty Cổ phần T6 là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
- + Công ty cổ phần X yêu cầu Nguyễn Cao S bồi thường thiệt hại tài sản số tiền 5.616.000 đồng (Năm triệu sáu trăm mười sáu nghìn đồng).
- + Bà Võ Thị H2 đã nhận bồi thường thiệt hại tài sản số tiền 2.870.000 đồng (Hai triệu tám trăm bảy mươi nghìn đồng) và không yêu cầu gì thêm.
Tại Bản Cáo trạng số 67/CT-VKSDC ngày 21/03/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Cao S phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa bị cáo S đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội đúng như nội dung cáo trạng của Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An. Bị cáo bị Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố về tội Trộm cắp tài sản theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là đúng nhưng bị cáo đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt, cho bị cáo được hưởng mức hình phạt thấp nhất để bị cáo sớm trở về với gia đình và xã hội.
Trước khi mở phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T6 và bị cáo Nguyễn Cao S thống nhất thỏa thuận bị cáo Nguyễn Cao S bồi thường cho Công ty Cổ phần T6 là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Tại phiên tòa bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T6 đề nghị ghi nhận việc bồi thường thiệt hại.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Cao S đồng ý bồi thường cho Công ty Cổ phần X 5.616.000 đồng (năm triệu sáu trăm mười sáu nghìn đồng).
Tại phiên tòa người đại diện Công ty cổ phần T6 và công ty cổ phần X xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo Nguyễn Cao S.
Tại phiên tòa Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An trình bày lời luận tội đối với bị cáo Nguyễn Cao S, vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị kết tội bị cáo S về tội Trộm cắp tài sản theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự theo toàn bộ nội dung cáo trạng. Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử: Áp dụng khoản 1 Điều 173; Điều 38; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, điểm h, g khoản 1 Điều 52, Điều 56, Điều 65 của Bộ luật Hình sự; xử phạt bị cáo: Nguyễn Cao S với mức án từ 21(hai mươi mốt) tháng tù đến 24 (hai mươi tư) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” và tổng hợp hình phạt của bản án số số 20/2022/HS- ST ngày 20/1/2022, của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 13 tháng tù buộc bị cáo S phải chấp hành hình phạt chung từ 34 (ba mươi tư) tháng tù đến 37(ba mươi bảy) tháng tù; về hình phạt bổ sung: miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo. Về trách nhiệm dân sự. Đề nghị Hội đồng xét xử ghi nhận sự thỏa thuận bị cáo bồi thường cho Công ty Cổ phần T6 là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng); bị cáo bồi thường cho Công ty Cổ phần X 5.616.000 đồng (năm triệu sáu trăm mười sáu nghìn đồng). Về việc xử lý vật chứng: Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 47 của Bộ luật Hình sự; khoản 3 Điều 106 của Bộ luật Tố tụng hình sự: Tịch thu tiêu hủy các vật chứng là 01 (một) biển kiểm soát 37F2-286.28, nền biển màu trắng, chữ và số màu đen không có giá trị sử dụng; Về án phí: Buộc bị cáo phải chịu án phí hình sự và án phí dân sự theo quy định của pháp luật.
Bị cáo nói lời sau cùng: Bị cáo nhận thức hành vi của bị cáo là vi phạm pháp luật, đề nghị Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về tố tụng
- Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an huyện D, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân huyện D, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
- Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa nhưng đã có lời khai và xét thấy việc vắng mặt của những người này không gây trở ngại đến việc giải quyết vụ án, Căn cứ vào điều 292 Bộ luật tố tụng hính sự Hội đồng xét xử xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
- Về tội danh: Lời khai của bị cáo Nguyễn Cao S ại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an huyện D, biên bản tiếp nhận người phạm tội ra đầu thú, lời khai của bị hại, lời khai của người chứng kiến, Kết luận định giá tài sản ngày 05 tháng 1 năm 2024 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự huyện D, vật chứng thu giữ và các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Như vậy đã có đủ căn cứ kết luận: Trong thời gian từ tháng 9/2023 đến tháng 07 năm 2024, trên địa bàn huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Cao S đã có hành vi lợi dụng sở hở, lén lút chiếm đoạt tài sản của các bị hại, cụ thể:
Lần 1: Ngày 26/9/2023, tại khu vực xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Cao S có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave S, biển kiểm soát 37F2-41661 của anh Đàm Ngọc T1 trị giá 4.600.000 đồng (Bốn triệu sáu trăm nghìn đồng);
Lần 2: ngày 19/11/2023, tại khu vực xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Cao S có hành vi lén lút chiếm đoạt chiếc xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, biển kiểm soát 37F1-58712 của chị Nguyễn Thị H1 có trị giá 7.500.000 đồng (Bảy triệu năm trăm nghìn đồng);
Lần 3: ngày 02/12/2023, tại khu vực xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Cao S có hành vi sử dụng kềm cộng lực lén lút chiếm đoạt 04 (Bốn) tấm lưới B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc của công ty Cổ phần X có trị giá 576.000 đồng (Năm trăm bảy mươi sáu nghìn đồng);
Lần 4: ngày 16/12/2023, tại khu vực xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Cao S có hành vi sử dụng kềm cộng lực lén lút chiếm đoạt 15 (Mười lăm) tấm lưới B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc của công ty Cổ phần X có trị giá 2.160.000 đồng (Hai triệu một trăm sáu mươi nghìn đồng);
Lần 5: ngày 23/12/2023, tại khu vực xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Cao S có hành vi sử dụng kềm cộng lực lén lút chiếm đoạt 24 (Hai mươi bốn) tấm lưới B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc của công ty Cổ phần X có trị giá 3.456.000 đồng (Ba triệu bốn trăm năm mươi sáu nghìn đồng);
Lần 6; ngày 30/12/2023, tại khu vực xóm B, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Cao S có hành vi sử dụng kềm cộng lực lén lút chiếm đoạt 31 (Ba mươi mốt) tấm lưới B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc của công ty Cổ phần X có trị giá 4.464.000 đồng (Bốn triệu bốn trăm sáu mươi nghìn đồng);
Lần 7: ngày 04/01/2024, tại khu vực xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, Nguyễn Cao S có hành vi sử dụng kềm cộng lực lén lút chiếm đoạt 26 (Hai mươi sáu) tấm lưới B40 thuộc hàng rào chắn đường cao tốc của công ty Cổ phần T6 có trị giá 3.744.000 đồng (Ba triệu bảy trăm bốn mươi bốn nghìn đồng).
Tổng giá trị tài sản chiếm đoạt của các bị hại là 26.500.000 đồng (hai mươi sáu triệu năm trăm ngàn đồng). Vì vậy hành vi của bị cáo Siêu đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự.
- Viện kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo S về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
- Tính chất vụ án, hành vi phạm tội của bị cáo: vụ án có tính chất ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo đã tiếp xâm phạm đến quyền sở hữu về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, đặc biệt gây tâm lý lo ngại cho các doanh nghiệp xây dựng trên địa bàn huyện D. Vì vậy cần xử phạt nghiêm khắc cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian mới đủ tác dụng giáo dục bị cáo và răn đe phòng ngừa chung.
- Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Bị cáo S 01 tiền án nên phạm tội lần này thuộc trường hợp tái phạm theo quy định tại điểm h khoản 1 Điều 52 Bộ luật hình sự. Bị cáo đã thực hiện 7 lần trộm cắp tài sản của các bị hại, trong đó có 5 lần hành vi trộm cắp tài sản của bị cáo đều cấu thành tội phạm nên bị cáo phải tình tiết tăng nặng phạm tội 02 lần trở lên, quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 BLHS.
- T5 tết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Sau khi phạm tội bị cáo S đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; bị cáo đầu thú; bị cáo đã tác động đến gia đình bồi thường cho bị hại, khắc phục hậu quả, bị hại xin giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s, b khoản 1, khoản 2 Điều 51 của Bộ luật Hình sự.
- Về hình phạt: Căn cứ vào tính chất vụ án, mức độ hành vi phạm tội, các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, thấy bị cáo đã bị kết án về tội Trộm cắp tài sản nhưng bị cáo không lấy đó làm bài học để cải tạo tu dưỡng trở thành người có ích cho xã hội mà lại tiếp tục phạm tội nên Hội đồng xét xử xét thấy cần thiết phải áp dụng hình phạt tù với mức hình phạt trên khởi điểm của khung hình phạt. Buộc bị cáo S phải chấp hành hình phạt tù có thời hạn theo như đề nghị của Kiểm sát viên Viện Kiểm sát nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An tại phiên tòa đối mới đủ điều kiện cải tạo giáo dục bị cáo và phòng ngừa chung.
Căn cứ khoản 2 Điều 56; khoản 5 Điều 65 của Bộ luật Hình sự tổng hợp hình phạt của bản án số 20/2022/HS- ST ngày 21/1/2022, của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An xử phạt 13 (mười ba) tháng tù và hình phạt của tội này buộc bị cáo S phải chấp hành hình phạt chung. Nhưng được trừ thời gian tạm giữ, tạm giam từ ngày 22/09/2021 đến ngày 28/09/2021 mà bị cáo chấp hành theo bản án số 20/2022/HSST ngày 21/01/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
[8] Về hình phạt bổ sung: Theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự thì người phạm tội còn có thể bị áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền. Xét bị cáo S không có nghề nghiệp ổn định và không có tài sản riêng nên không áp dụng hình phạt bổ sung là phạt tiền đối với bị cáo Nguyễn Cao S.
[9] Về vật chứng vụ án:
- + 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave S, số máy C52E-4255013, số khung 215CY-414315, màu sơn trắng đen, tình trạng đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chủ sở hữu là anh Đàm Ngọc T1, sinh năm 1983, trú tại xóm H, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- + 01 (Một) xe máy nhãn hiệu Yamaha, loại Sirius, số máy 5C6J-031091, số máy DY-031069, màu sơn đỏ đen, tình trạng đã qua sử dụng. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của chủ sở hữu là chị Nguyễn Thị H1, sinh năm 1979, trú tại xóm Q, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. . Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu theo đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- + 01 (một) xe kiến an, có kết cấu gồm phần khung và thùng xe bằng kim loại; 01 đoạn dây thừng, màu xanh, dài 20,4m; 01 tấm bạt nilon, có hai mặt màu xanh và màu da cam, kích thước (6 x 3)m. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của bà Đậu Thị G, sinh năm 1973, trú tại xóm E, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Quá trình Nguyễn Cao S sử dụng các đồ vật trên đi trộm cắp tài sản thì bà Đậu Thị G không biết. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu là bà Đậu Thị G theo đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét
- + 35 (Ba mươi lăm) tấm lưới, loại B40, kích thước mỗi tấm là (1,4x2,6)m, có cấu tạo gồm sợi kim loại sắt đường kính 4mm đan xen nhau, khối lượng mỗi tấm là 12 kg. Quá trình điều tra xác định đây là tài sản của công ty Cổ phần X giao cho anh Lê Duy Đ, sinh năm 1984 trú tại xóm M, xã H, Tp., tỉnh Nghệ An quản lý. Hiện Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại cho chủ sở hữu công ty Cổ phần X theo đúng quy định pháp luật nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- + 01 (một) kìm kim loại (loại kềm cộng lực, dài khoảng 50cm, phần tay cầm màu xanh đen) là công cụ mà bị cáo Nguyễn Cao S sử dụng để đi trộm cắp tài sản đã bị làm rơi mất tại địa điểm xóm T, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Cơ quan cảnh sát điều tra Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã tiến hành truy tìm nhưng không thấy nên Hội đồng xét xử không xem xét.
- + Đối với 01 (một) biển kiểm soát 37F2-286.28, nền biển màu trắng, chữ và số màu đen mà bị cáo Nguyễn Cao S đã lắp vào xe máy nhãn hiệu Honda, loại Wave S, số máy C52E-4255013, số khung 215CY-414315, màu sơn trắng đen. Cơ quan Cảnh sát điều Công an huyện D, tỉnh Nghệ An đã xác minh nhưng không xác định chủ sở hữu nên cần tịch thu tiêu hủy theo quy định tại Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự.
[10] Về trách nhiệm dân sự.
Trước khi mở phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T6 và bị cáo Nguyễn Cao S thống nhất thỏa thuận bị cáo Nguyễn Cao S bồi thường cho Công ty Cổ phần T6 là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Tại phiên tòa bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T6 đề nghị ghi nhận việc bồi thường thiệt hại là có căn cứ, đúng pháp luật nên cần chấp nhận.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Cao S đồng ý bồi thường cho Công ty Cổ phần X 5.616.000 đồng (năm triệu sáu trăm mười sáu nghìn đồng) là có căn cứ nên cần chấp nhận.
Anh Đàm Ngọc T1, chị Nguyễn Thị H1, chị Võ Thị H2, bà Đậu Thị G, anh Bùi Đăng T2, anh Phạm Kim T3, anh Nguyễn Tiến L không có yêu cầu gì về dân sự nên Hội đồng xét xử không xem xét.
[11] Về vấn đề khác:
Đối với bà Võ Thị H2 là người mua 100 tấm lưới B40 của Nguyễn Cao S nhưng không biết đó là tài sản do Nguyễn Cao S phạm tội mà có nên không có căn cứ xử lý.
Đối với bà Đậu Thị G là chủ sở hữu của chiếc xe kiến an, dây thừng, bạt nhưng không biết Nguyễn Cao S sử dụng làm công cụ phạm tội nên không có căn cứ xử lý.
[12] Về án phí: Căn cứ vào Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; điểm a, điểm f khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án thì:
Về án phí dân sự sơ thẩm:
Trước khi mở phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T6 và bị cáo Nguyễn Cao S thống nhất thỏa thuận bị cáo Nguyễn Cao S bồi thường cho Công ty Cổ phần T6 là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng). Tại phiên tòa bị cáo và người đại diện theo ủy quyền của Công ty cổ phần T6 đề nghị ghi nhận việc bồi thường thiệt hại thì bị cáo không phải chịu án phí dân sơ thẩm.
Tại phiên tòa bị cáo Nguyễn Cao S đồng ý bồi thường cho Công ty Cổ phần X 5.616.000 đồng (năm triệu sáu trăm mười sáu nghìn đồng). Vì vậy bị cáo phải chịu 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
Về án phí hình sự sơ thẩm: bị cáo phải chịu 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm.
[13] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Vì các lẽ trên
QUYẾT ĐỊNH:
1. Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 5 Điều 65, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự:
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao S phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao S 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với hình phạt 13 (mười ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 20/2022/HSST ngày 21/1/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu buộc bị cáo S phải chấp hành hình phạt chung là 34 (ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07 tháng 1 năm 2024) nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/09/2021 đến ngày 28/9/2021 tại bản án số 20/2022/HSST ngày 21/1/2022.
2. Về trách nhiệm dân sự: Căn cứ khoản 2 Điều 48 của Bộ luật hình sự; Điều 584, Điều 586, Điều 589 của Bộ luật Dân sự:
Ghi nhận sự thỏa thuận: bị cáo Nguyễn Cao S bồi thường cho Công ty Cổ phần T6 là 20.000.000 đồng (hai mươi triệu đồng).
Buộc bị cáo Nguyễn Cao S bồi thường cho Công ty Cổ phần X 5.616.000 đồng (năm triệu sáu trăm mười sáu nghìn đồng).
Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự 2015 tương ứng với số tiền và thời gian chưa thi hành án.
3. Việc xử lý vật chứng: căn cứ khoản 1 điều 47 của Bộ luật hình sự; khoản 2 Điều 106 của Bộ luật tố tụng hình sự.
Tịch thu tiêu hủy 01 (một) biển kiểm soát 37F2-286.28, nền biển màu trắng, chữ và số màu đen.
Vật chứng hiện đang được bảo quản tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An theo phiếu nhập kho số 24NK71 ngày 27/03/2024.
4. Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Cao S phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm và 300.000 đồng (ba trăm ngàn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị hại, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Trường hợp Bản án, Quyết định được thi hành án theo Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Võ Thị Kim Dung |
Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 06/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN về trộm cắp tài sản
- Số bản án: 57/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/05/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN HUYỆN DIỄN CHÂU, TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Căn cứ vào khoản 1 Điều 173; điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h, g khoản 1 Điều 52; Điều 38; khoản 5 Điều 65, khoản 2 Điều 56 của Bộ luật hình sự: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Cao Siêu phạm tội “Trộm cắp tài sản”. Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Nguyễn Cao Siêu 21 (hai mươi mốt) tháng tù. Tổng hợp hình phạt với hình phạt 13 (mười ba) tháng tù về tội “Trộm cắp tài sản” theo bản án số 20/2022/HSST ngày 21/1/2022 của Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu buộc bị cáo Siêu phải chấp hành hình phạt chung là 34 (ba mươi tư) tháng tù. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam (ngày 07 tháng 1 năm 2024) nhưng được trừ thời gian tạm giữ từ ngày 22/09/2021 đến ngày 28/9/2021 tại bản án số 20/2022/HSST ngày 21/1/2022
