|
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/HS-PT Ngày: 17-4-2024. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Vũ Đại Long.
Các Thẩm phán: Ông Mai Nam Tiến và Bà Lê Thị Tố Như
- Thư ký phiên toà: Bà Đỗ Thị Thu Hà - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hoá tham gia phiên toà:
Ông Trần Huy Dũng - Kiểm sát viên.
Ngày 17 tháng 4 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Thanh Hoá mở phiên tòa xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 70/2024/TLPT-HS ngày 28 tháng 02 năm 2024 do Bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa bị kháng cáo. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 64/2024/QĐXXPT-HS ngày 26/3/2024 đối với:
* Bị cáo có kháng cáo:
Lê Bá T, sinh ngày 01/5/1960; tại: xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nơi cư trú: Thôn C, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Trình độ học vấn: 10/10; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Con ông: Lê Bá N, sinh năm 1936; Con bà: Hoàng Thị N1 (Đã chết); Vợ: Lê Thị D, Sinh năm 1961 (Đã ly hôn); Có 04 con, lớn nhất sinh năm 1988, nhỏ nhất sinh năm 1997; Tiền án, tiền sự: Không; Gia đình có 7 anh chị em, bị cáo con thứ nhất.
Nhân thân: Năm 1999 bị TAND huyện Đông Sơn xử phạt Cảnh cáo, phạt bổ sung 1.000.000đồng về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong phần án phí và tiền phạt; năm 2018 bị TAND huyện Đông Sơn xử phạt 09 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Đánh bạc”. Đã chấp hành xong hình phạt, án phí hình sự sơ thẩm và đã nộp xong khấu trừ thu nhập ngày 04/12/2018.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 26/9/2023 đến ngày 02/10/2023 được thay đổi bằng biện pháp ngăn chặn cấm đi khỏi nơi cư trú, hiện tại ngoại, tại phiên tòa có mặt.
Ngoài ra trong vụ án còn có 06 bị cáo trong đó 01 bị cáo có kháng cáo đã rút kháng cáo và đã có quyết định đình chỉ số 27/2024/HSPT- QĐ ngày 18/3/2024 của Tòa án; còn lại là 05 bị cáo, không kháng cáo và không bị kháng cáo kháng nghị.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau: Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 26/9/2023, tổ công tác của Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Đ phát hiện, bắt quả tang tại khu vực bếp nhà ông Lê Văn V, sinh năm 1964, ở thôn T, xã Đ, huyện Đ các đối tượng gồm: Lê Huy H, Lê Đức T1, Lê Thế T2, Lê Bá T (ngồi 01 chiếu bạc); Lê Văn H1, Lê Thọ K và Trịnh Duy D1 (ngồi 01 chiếu khác) đang có hành vi đánh bài ăn tiền dưới hình thức đánh “phỏm”. Tang vật thu giữ tại chiếu của H, T1, T2 và T số tiền 6.700.000 đồng và 300.000đồng tiền ngoài chiếu để thanh toán tiền nước; thu giữ tại chiếu của H1, K và D1 số tiền 8.500.000 đồng và 300.000 đồng tiền ngoài chiếu để thanh toán tiền nước, cùng với 02 bộ bài tú lơ khơ 52 cây, 02 chiếc chiếu cói, 01 hộp nhựa, 01 hộp giấy.
Quá trình điều tra các bị cáo đã khai nhận: Vào khoảng 13 giờ 30 phút ngày 26/9/2023, Lê Huy H, Lê Thọ K, Lê Văn H1, Lê Thế T2, Lê Bá T và Trịnh Duy D1 đến ngồi chơi và uống nước tại quán hàng của gia đình ông Lê Văn V. Do ông V có đám giỗ của bố vợ ở thôn T, xã Đ nên đã nhờ em trai là Lê Văn H1 đến trông hộ quán và nhà. Quá trình ngồi uống nước, trong nhóm có người nói “Trời mưa vào nhà anh Văn c bài tí cho vui”, nghe vậy mọi người ngồi đó cùng đồng ý và đi vào khu vực bếp nhà ông V để chơi bài. Khi đi, Lê Bá T đã cầm theo hai bộ bài T3 lơ khơ ở quán hàng nhà ông V vào để chơi. Khi vào trong bếp thấy có hai chiếc chiếu cói đang cuộn và để ở dưới sàn nên Lê Văn H1 đã kéo chiếu trải ra để mọi người ngồi đánh bài. Lê Bá T, Lê Huy H, Lê Văn H1 và Lê Thế T2 ngồi xuống một chiếu để chơi bài, còn Lê Thọ K và Trịnh Duy D1 ngồi chiếu bên cạnh để xem. Bốn người chơi bài dưới hình thức đánh “phỏm”, đến khoảng 15 giờ cùng ngày, Lê Đức T1 đi vào xem và xin đánh thay vị trí của H1 nên H1 đã nhường vị trí cho T1 rồi ra chiếu bên cạnh ngồi xem. Thấy vậy T nói “Mấy anh em bay làm một chiếu nữa mà chơi” nên H1 cùng với D1 và K sang chiếu bên cạnh cùng nhau ngồi đánh phỏm. Khi tất cả đang đánh bạc thì bị tổ công tác của Công an huyện Đ phối hợp với Công an xã Đ bắt quả tang cùng vật chứng vào hồi 15 giờ 30 phút cùng ngày.
Hình thức đánh bạc “phỏm” là: Người chơi sử dụng bộ bài 52 cây chia cho 04 người (hoặc 03 người), mỗi người trên tay có 09 cây bài, người chia bài được 10 cây và được đánh trước, mỗi người được bố bốc số bài còn lại dưới chiếu là bốn lần. Trong quá trình bốc bài ai có bài ù (là bài mà tất cả các lá bài trên tay đều tạo thành phỏm) thì người đó thắng và ván bài kết thúc, nếu không có bài ù thì sau bốn lần bốc bài, người nào bài trên tay có phỏm (là những bộ bài đồng chất liên tiếp nhau hoặc 03 lá đồng hạng) mà tổng số điểm các cây bài còn lại nhỏ nhất là người thắng cuộc. Trường hợp hai người bằng điểm nhau thì ai là người hạ bài trước người đó thắng, người nào không có phỏm thì bài “móm”. Số điểm trên các cây bài được tính lần lượt từ cây Át (A) tính là 01 điểm đến cây 10 (mười), các cây J, Q, K được tính lần lượt là 11,12, 13 điểm. Tỷ lệ thắng thua được tính cụ thể cho người về nhất được tiền của tất cả các người còn lại, về nhì mất 100.000 đồng, về ba mất 200.000 đồng, về thứ tư mất 300.000 đồng, móm mất 400.000 đồng và “Ù” thì ba người còn lại mất 500.000đồng. Người có bài “Ừ” tự nguyện để một số tiền nhỏ ra ngoài để thanh toán tiền nước uống cho chủ nhà.
Khi vào tham gia đánh bạc, các bị cáo khai nhận có số tiền: Lê Huy H mang theo số tiền khoảng 800.000 đồng; Lê Đức T1 mang theo khoảng 2.000.000 đồng; Lê Văn H1 mang theo số tiền khoảng 3.000.000 đồng; Lê Thọ K mang theo khoảng 2.500.000 đồng; Lê Thế T2 mang theo khoảng 1.800.000 đồng; Lê Bá T mang theo khoảng 2.500.000 đồng và Trịnh Duy D1 mang theo khoảng 3.500.000 đồng. Khi bị bắt quả tang, toàn bộ số tiền mang theo các bị cáo đều để trên chiếu nên không biết thắng, thua. Số tiền các bị cáo dùng để đánh bạc thu giữ tại chiếu bạc không phù hợp với số tiền các bị cáo khai là do các bị cáo không nhớ cụ thể số tiền mang theo.
Tại Bản kết luận số 3567/KL-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh T kết luận: Số tiền vật chứng gửi giám định là tiền thật.
Đối với vật chứng của vụ án gồm:
- - 02 bộ bài tú lơ khơ loại 52 cây; 02 chiếc chiếu cói màu nâu kích thước 1m80x1m60; 01 hộp nhựa màu nâu kích thước 16x16x10cm; 01 hộp giấy màu vàng kích thước 18x10x06cm và số tiền 15.800.000₫ là tiền các bị cáo dùng vào việc đánh bạc đã được chuyển đến Chi cục Thi hành án dân sự huyện Đông Sơn bảo quản chờ xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại bản án hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 26/01/2024, Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa đã Quyết định:
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; điểm h khoản 1 Điều 52; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Huy H.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Đức T1.
Căn cứ: Khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 38 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Bá T.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 36 Bộ luật Hình sự đối với bị cáo Lê Văn H1.
Căn cứ: Khoản 1 Điều 321; điểm s, i khoản 1 Điều 51; Điều 58; Điều 35 Bộ luật Hình sự đối với các bị Lê Thế T2, Lê Thọ K và Trịnh Duy D1.
Tuyên bố: Các bị cáo Lê Huy H, Lê Đức T1, Lê Thế T2, Lê Bá T, Lê Văn H1, Lê Thọ K và Trịnh Duy D1 phạm tội "Đánh bạc".
Xử phạt: Bị cáo Lê Bá T 07 (bảy) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bắt thi hành án, được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 26/9/2023 đến ngày 02/10/2023).
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo Lê Bá T.
Ngoài ra Bản án sơ thẩm còn Quyết định tội danh, hình phạt, hình phạt bổ sung đối với Lê Huy H, Lê Đức T1, Lê Thế T2, Lê Văn H1, Lê Thọ K và Trịnh Duy D1; xử lý vật chứng; án phí và quyền kháng cáo.
Ngày 01/02/2024 (trong hạn luật định) bị cáo Lê Bá T có đơn kháng cáo đề nghị cấp phúc thẩm xem xét xin được giảm nhẹ hình phạt và hình phạt bổ sung. Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên nội dung kháng cáo và thừa nhận hành vi phạm tội của mình đúng như nội dung của Bản án sơ thẩm đã tuyên.
Cũng tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Thanh Hóa sau khi phân tích tính chất vụ án, nhân thân, hành vi phạm tội của bị cáo cũng như tình tiết mới được bổ sung tại phiên tòa đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm b khoản 1 Điều 355; điểm c khoản 1 Điều 357 Bộ luật Tố tụng Hình sự chấp nhận một phần kháng cáo của bị cáo Lê Bá T, giảm hình phạt cho bị cáo 01(một) tháng tù. Không chấp nhận giảm hình phạt bổ sung vì bị cáo là người có nhân thân xấu.
Lời nói sau cùng: Bị cáo nhận tội xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, HĐXX nhận định như sau:
[1] Xét về tính hợp pháp của đơn kháng cáo: Đơn kháng cáo của bị cáo trong thời hạn kháng cáo theo quy định tại Điều 333 BLTTHS, nên được coi là hợp pháp. Do vậy, HĐXX chấp nhận đơn của bị cáo để xem xét nội dung kháng cáo theo trình tự phúc thẩm.
[2] Về hành vi phạm tội: Tại phiên tòa phúc thẩm bị cáo thành khẩn khai báo và thừa nhận hành vi phạm tội cụ thể:
Vào hồi 15 giờ 30 phút ngày 26/9/2023 tại khu vực bếp của gia đình ông Lê Văn V ở thôn T, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Thanh Hóa: Lê Huy H, Lê Đức T1, Lê Thế T2, Lê Bá T, Lê Văn H1, Lê Thọ K và Trịnh Duy D1 có hành vi đánh bạc trái phép được thua bằng tiền dưới hình thức đánh “phỏm”; Lê Huy H, Lê Đức T1, Lê Thế T2, Lê Bá T đánh cùng một chiếu với số tiền thu được là 7.000.000đ; Lê Văn H1, Lê Thọ K và Trịnh Duy D1 đánh cùng một chiếu với số tiền thu được là 8.800.000đ, tổng hai chiếu bạc là 15.800.000đ.
Lời thừa nhận về hành vi phạm tội của bị cáo tại cấp phúc thẩm phù hợp với lời khai của các bị cáo và những người làm chứng tại cấp sơ thẩm và phù hợp với các chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án được kiểm tra tại phiên tòa nên hành vi của bị cáo đã cấu thành tội “Đánh bạc”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 Điều 321 BLHS.
[3] Về tính chất vụ án:
Vụ án thuộc tội phạm ít nghiêm trọng, hành vi của bị cáo là gây nguy hiểm cho xã hội không lớn. Bị cáo nhận thức rõ hành vi của mình đã xâm phạm tới trật tự công cộng, gây mất trật tự trị an và nếp sống văn minh xã hội, đồng thời cũng là một trong những nguyên nhân làm phát sinh các loại tội phạm khác do đó cần phải được xử phạt nghiêm tương xứng với hành vi phạm tội của bị cáo. Cấp sơ thẩm đã xác định tội danh và khung hình phạt cho bị cáo là có cơ sở pháp luật.
[4] Xét kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Bá T:
Nhận thấy, khi lượng hình cấp sơ thẩm có xem xét, đánh giá tính chất mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, đã áp dụng các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự như: Là thành khẩn khai báo theo điểm s khoản 1 Điều 51 của BLHS. Các tình tiết giảm nhẹ của cấp sơ thẩm áp dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Bị cáo không có tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.
Sau khi xét xử sơ thẩm, bị cáo cung cấp thêm tình tiết mới là bản thân bị cáo được tặng Kỷ niệm chương cựu chiến binh Việt Nam, hiện tại hoàn cảnh gia đình của bị cáo là rất khó khăn, được chính quyền địa phương xác nhận nên cần áp dụng thêm tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo theo quy định tại khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
HĐXX xét thấy tại cấp phúc thẩm có thêm tình tiết mới, tổng số tiền đánh bạc là 7.000.000đ, dưới hình thức là đánh “phỏm” nên cần xem xét chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự cho bị cáo, để bị cáo thấy được sự khoan hồng của Nhà nước, mà yên tâm cải tạo sớm trở thành công dân có ích cho xã hội.
Không chấp nhận kháng cáo xin giảm nhẹ phạt tiền của bị cáo vì bị cáo có nhân thân xấu, cần phải giữ nguyên hình phạt phạt bổ sung phạt tiền là phù hợp.
Do vậy, kháng cáo của bị cáo Lê Bá T là có cơ sở chấp nhận một phần. Đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa là áp dụng Điều 357 của BLTTHS, chấp nhận một phần đơn kháng cáo của bị cáo, sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ pháp luật.
[5] Án phí hình sự phúc thẩm: Bị cáo Lê Bá T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm do kháng cáo được chấp nhận.
[6] Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, không bị kháng nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ: Điểm b khoản 1, khoản 2 Điều 355; Điểm c khoản 1 Điều 357 của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Chấp nhận một phần kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt của bị cáo Lê Bá T. Sửa Bản án Hình sự sơ thẩm số 04/2024/HS-ST ngày 26/01/2024 của Tòa án nhân dân huyện Đông Sơn, tỉnh Thanh Hóa về hình phạt, giữ nguyên phần hình phạt bổ sung.
Căn cứ khoản 1, khoản 3 Điều 321; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 17; Điều 58; Điều 38 BLHS. Điểm h khoản 2 Điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội về án phí, lệ phí Tòa án.
Tuyên bố: Bị cáo Lê Bá T phạm tội "Đánh bạc".
Xử phạt: Bị cáo Lê Bá T 06 (sáu) tháng tù, được trừ thời gian tạm giữ (từ ngày 26/9/2023 đến ngày 02/10/2023). Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày bị cáo tự nguyện đi chấp hành án hoặc bị bắt giam thi hành án.
Hình phạt bổ sung: Phạt tiền 10.000.000 đồng sung quỹ Nhà nước đối với bị cáo Lê Bá T.
Về án phí phúc thẩm: Bị cáo Lê Bá T không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của Bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà Vũ Đại Long |
Bản án số 57/2024/HS-PT ngày 17/04/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ về hình sự (phúc thẩm) - tội đánh bạc
- Số bản án: 57/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Phúc thẩm) - Tội Đánh bạc
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/04/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH THANH HOÁ
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Đánh phỏm
