Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 28/5/2024

“V/v tranh chấp Hôn nhân và gia đình”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH

- Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Bùi Minh Thư

Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Thái Linh

Ông Bùi Văn Hồng

- Thư ký phiên toà: Bà Nguyễn Thị Thắm - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Quyết - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2024 tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh mở phiên toà xét xử công khai sơ thẩm vụ án Hôn nhân và gia đình thụ lý số 54/2024/TLST - HNGĐ, ngày 20/3/2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 46/2024/QĐXXST - HNGĐ, ngày 02/5/2024 và quyết định hoãn phiên toà số 21/2024/QĐ-ST, ngày 16/5/2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Chị Phan Thị V, sinh năm 1990

HKTT: Thôn H, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, có đơn đề nghị xét xử vắng mặt.

- Bị đơn: Anh Nguyễn Minh D, sinh năm 1987

HKTT: Thôn H, xã T, huyện C, tỉnh Hà Tĩnh, hiện lao động tại Cộng Hòa liên bang Đ, vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo nội dung đơn khởi kiện và các tài liệu có trong hồ sơ, vụ án có nội dung :

1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị V và anh Nguyễn Minh D đăng ký kết hôn ngày 17/11/2010 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc.

Theo chị Phan Thị V trình bày: Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc được một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân mâu thuẫn do bất đồng quan điểm và không hòa hợp trong cuộc sống gia đình, dẫn đến vợ chồng thường xuyên tranh cãi. Năm 1015 anh D đi xuất khẩu lao động tại nước Đức, vợ chồng xa cách về khoách cách địa lý cùng sự bất đồng quan điểm dẫn đến ít liên lạc với nhau, nhưng mỗi khi liên lạc lại cãi vã nhau, hiện nay vợ chồng không còn tình cảm, xảy ra quá nhiều mâu thuẫn, không thể hòa hợp. Chị V đề nghị Tòa án giải quyết cho chị được ly hôn với anh Nguyễn Minh D.

Tại biên bản ghi lời trình bày của anh Nguyễn Minh D ngày 26/3/2024 (có sự chứng kiến của bà Nguyễn Thị T - Mẹ của anh D), theo anh D trình bày sau khi kết hôn vợ chồng chung sống hạnh phúc. Năm 2017 anh D đi xuất khẩu lao động tại nước Đ đến nay không về nước, vợ chồng không còn tình cảm nên thỏa thuận ly hôn với nhau, do anh D ở nước ngoài nên chị V làm đơn ly hôn. Anh D đồng ý ly hôn với chị V.

2. Về con chung: Vợ chồng có 1 con chung tên Nguyễn Minh D1, sinh ngày 03/10/2011. Chị V có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Về tiền cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Anh D đồng ý chị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tiền cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết.

3. Về tài sản chung, nợ chung: Chị V, anh D không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh sau khi nhận xét việc chấp hành pháp luật của Thẩm phán, Thư ký và các đương sự, phân tích nội dung vụ án, đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 37, Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự; khoản 1 Điều 51, các Điều 56, 81, 82, 83,123, 127 Luật Hôn nhân gia đình năm 2014; đoạn 2 điểm b tiểu mục 2.1, mục 2 phần II Nghị quyết 01/2003/NQ-HĐTP ngày 16/4/2003 của Hội đồng Thẩm phán TAND tối cao; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao, xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn chị Phan Thị V, cho chị Phan Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Minh D; về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh D1, sinh ngày 03/10/2011 cho chị Phan Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Tiền cấp dưỡng nuôi con các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết nên không xem xét; về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết nên không xem xét; về án phí buộc chị V phải chịu 300.000đ án phí ly hôn sơ thẩm.

NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:

[1] Về thủ tục tố tụng:

[1.1] Tại công văn số 7169/QLXNC-P3, ngày 10/4/2024 của Cục Q Bộ C về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của anh Nguyễn Minh D đã xuất cảnh ngày 17/4/2017, hiện chưa có thông tin nhập cảnh về nước. Theo thông tin người nhà anh D cho biết hiện tại anh D đang lao động tại Cộng hòa liên bang Đ. Tại thời điểm thụ lý vụ án, anh D đang ở nước ngoài, do đó, vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh theo quy định tại Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

[1.2] Theo Công văn số 253/TANDTC-PC, ngày 26/11/2018 của Toà án nhân dân tối cao hướng dẫn giải quyết vụ án ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, Toà án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã tiến hành xác minh quan hệ hôn nhân, địa chỉ của anh anh Nguyễn Minh D qua bà Nguyễn Thị T mẹ của anh D. Bà T cho biết hiện tại anh D lao động tại nước Đức, còn địa chỉ cụ thể bà không biết. Anh D điện thoại có hình ảnh, có sự chứng kiến của Nguyễn Thị T, Toà án đã ghi lại tại biên bản ngày 26/3/2024, anh D cho biết hiện tại anh đang lao động tại nước Đức, anh D không cung cấp địa của anh tại Đ cho Tòa án, anh D không yêu cầu Tòa án tống đạt văn bản trực tiếp cho anh và đề nghị Tòa án tống đạt văn bản tố tụng cho anh thông qua bà Nguyễn Thị T. Anh D không thể về Việt Nam để giải quyết vụ án, đề nghị Tòa án giải quyết vắng mặt. Tại biên bản làm việc ngày 26/3/2024 bà T đồng đồng ý nhận văn bản do Tòa án tống đạt cho anh D và cam kết thông báo đầy đủ, kịp thời cho anh D. Chị V có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt. Do đó, Toà án xét xử vắng mặt anh D, chị V theo quy định tại Điều 238, 477 BLTTDS.

[2] Về nội dung:

[2.1] Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị V và anh Nguyễn Minh D đăng ký kết hôn ngày 17/11/2010 tại UBND xã T, huyện L, tỉnh Hà Tĩnh. Việc kết hôn có tự do tìm hiểu và hoàn toàn tự nguyện, không ai ép buộc, tuân thủ quy định Luật hôn nhân và gia đình nên đây là hôn nhân hợp pháp. Chị V, anh D đều thừa nhận vợ chồng mâu thuẫn, không còn tình cảm, không quan tâm lẫn nhau nên đề nghị Tòa án giải quyết cho ly hôn. Xét thấy, mục đích của hôn nhân là xây dựng gia đình ấm no, tiến bộ, hạnh phúc, vợ chồng có nghĩa vụ tôn trọng, quan tâm, chung thủy, chăm sóc, giúp đỡ, yêu thương lẫn nhau. Nhưng, giữa chị V, anh D không còn tình cảm, không còn yêu thương, quan tâm nhau. Vì vậy, căn cứ quy định tại Điều 56 Luật hôn nhân và gia đình chấp nhận đơn khởi kiện của chị V, xử cho chị Phan Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Minh D.

[2.2] Quan hệ con chung: Vợ chồng có 1 con chung tên Nguyễn Minh D1, sinh ngày 03/10/2011. Chị V có nguyện vọng được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung. Anh D đồng ý chị V trực tiếp nuôi dưỡng con chung. Tiền cấp dưỡng nuôi con vợ chồng tự thỏa thuận không yêu cầu Tòa án giải quyết. Xét thấy, từ khi anh D đi xuất khẩu lao động đến nay con ở với chị V, được chị V chăm sóc, nuôi dưỡng. Cháu Nguyễn Minh D1 có đơn trình bày nguyện vọng được ở với chị V. Do đó, căn cứ quy định tại Điều 81 Luật hôn nhân và gia đình giao con chung Nguyễn Minh D1, sinh ngày 03/10/2011 cho chị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Chị V không yêu cầu Tòa án giải quyết tiền cấp dưỡng nuôi con nên miễn xét. Anh D có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản.

[2.3] Về tài sản chung, nợ chung: Chị Phan Thị V và anh Nguyễn Minh D không yêu cầu Toà án giải quyết nên miễn xét.

[2.4] Về án phí: Chị Phan Thị V phải chịu án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ các Điều 51, 56, 81, 82, 83,123, 127 Luật Hôn nhân gia đình, các Điều 28, 37, 227, 273, 464, 469, khoản 2 Điều 479, Điều 147 Bộ luật Tố tụng dân sự; Công văn số 253/TANDTC-PC ngày 26/11/2018 của Tòa án nhân dân Tối cao về giải quyết vụ án Ly hôn có bị đơn là người Việt Nam ở nước ngoài nhưng không rõ địa chỉ, điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 về án phí, lệ phí Tòa án, xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chị Phan Thị V được ly hôn với anh Nguyễn Minh D.
  2. Về con chung: Giao con chung Nguyễn Minh D1, sinh ngày 03/10/2011 cho chị Phan Thị V trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con trưởng thành đủ 18 tuổi. Anh D có quyền thăm nom con chung không được ai ngăn cản.
  3. Về án phí: Buộc chị Phan Thị V phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, được trừ vào số tiền 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo biên lai số 0000822 ngày 20/3/2024 tại Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh.
  4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn chị Phan Thị V có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được ản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết. Bị đơn anh Nguyễn Minh D có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 01 tháng kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày bản án được niêm yết.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại Hà Nội;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục THADS tỉnh Hà Tĩnh;
  • - UBND xã nơi đăng ký KH;
  • - Đương sự;
  • - Lưu HS, TDS.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà

Bùi Minh Thư

HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Hội thẩm nhân dân

Bùi Văn Hồng

Nguyễn Thái Linh

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa

Bùi Minh Thư

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 28/05/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về tranh chấp hôn nhân và gia đình

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: tranh chấp Hôn nhân và gia đình
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: LY HÔN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger