Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN PHÚ TÂN

TỈNH CÀ MAU

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 17/4/2024

“V/v Ly hôn, tranh chấp nuôi con”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Bình.

Các Hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Văn Chánh.

Ông Trần Minh Út.

Thư ký phiên tòa: Ông Lữ Tấn Thiên – Là Thư ký Toà án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân tham gia phiên tòa:

Ông Võ Việt Trung - Kiểm sát viên.

Trong ngày 17 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Phú Tân xét xử sơ thẩm vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 344/2023/TLST-HNGĐ ngày 23 tháng 10 năm 2023 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 75/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 05 tháng 3 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 88/2024/QĐST-HNGĐ ngày 21 tháng 3 năm 2024 giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Cẩm T, sinh năm 1991 (có mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

- Bị đơn: Ông Tô Vũ L, sinh năm 1985 (Vắng mặt).

Địa chỉ cư trú: Ấp T, xã P, huyện P, tỉnh Cà Mau.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện đề ngày 17 tháng 10 năm 2023 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn bà Nguyễn Cẩm T trình bày:

Về hôn nhân: Bà Nguyễn Cẩm T và ông Tô Vũ L sống với nhau như vợ chồng từ năm 2009, có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P3, huyện P, tỉnh Cà Mau vào ngày 28 tháng 7 năm 2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 124/2015). Trong cuộc sống vợ chồng đã xảy ra nhiều mâu thuẫn kéo dài, không hòa hợp được trong lối sống, thường hay xảy ra cự cãi. Vợ chồng mâu thuẫn nhau, bà và ông L1 ly thân từ tháng 7/2023 đến nay. Xét thấy cuộc sống vợ chồng không thể tiếp tục nên bà Nguyễn Cẩm T yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tô Vũ L .

Về con chung: Quá trình sống chung giữa bà Nguyễn Cẩm T và ông Tô Vũ L có 02 người con chung tên Tô Thị Mai P, sinh ngày 15 tháng 11 năm 2010 và Tô Vũ P1, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2017. Khi ly hôn, bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng con chung tên Tô Vũ P1, không yêu cầu ông Tô Vũ L cấp dưỡng nuôi con; giao người con chung tên Tô Thị Mai P2 ngày 15 tháng 11 năm 2010 cho ông Tô Vũ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà không cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.

- Bị đơn ông Tô Vũ L đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng nhưng ông Tô Vũ L vắng mặt không lý do và không cung cấp lời khai, chứng cứ về việc khởi kiện của bà Nguyễn Cẩm T1

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử tiến hành đúng theo quy định của pháp luật tố tụng và các đương sự cũng chấp hành đúng với quyền và nghĩa vụ của các đương sự được pháp luật quy định.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Cẩm T cho bà Nguyễn Cẩm T được ly hôn với ông Tô Vũ L .Giao con chung tên Tô Vũ P1 cho bà Nguyễn Cẩm T nuôi dưỡng, ông Tô Vũ L không cấp dưỡng nuôi con; giao người con chung tên Tô Thị Mai P2 ngày 15 tháng 11 năm 2010 cho ông Tô Vũ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà Nguyễn Cẩm T2 phải cấp dưỡng nuôi con.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Nội dung tranh chấp giữa bà Nguyễn Cẩm T với ông Tô Vũ L xác định là tranh chấp về hôn nhân và gia đình, theo quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật Tố tụng dân sự. Ông Tô Vũ L là bị đơn có nơi cư trú tại huyện P, tỉnh Cà Mau, theo quy định tại khoản 1 Điều 35 và khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau. Tòa án nhân dân huyện Phú Tân, tỉnh Cà Mau thụ lý, giải quyết vụ án là đúng theo trình tự, thủ tục tố tụng.

[2] Về sự vắng mặt của các đương sự: Quá trình giải quyết vụ án bà Nguyễn Cẩm T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt; ông Tô Vũ L đã được Tòa án triệu tập hợp lệ để tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt không vì sự kiện bất khả kháng hoặc trở ngại khách quan. Theo quy định tại điểm b khoản 2 Điều 227 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Tòa án xét xử vắng mặt ông Tô Vũ L .

[3] Về hôn nhân: Bà Nguyễn Cẩm T với ông Tô Vũ L chung với nhau như vợ chồng có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã P vào ngày 28 tháng 7 năm 2015 (Giấy chứng nhận kết hôn số 124/2015). Do đó, hôn nhân của bà Nguyễn Cẩm T với ông Tô Vũ L là hợp pháp. Quá trình sống chung bà Nguyễn Cẩm T cho rằng bà và ông Tô Vũ L có nhiều mâu thuẫn, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc nên bà yêu cầu Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn với ông Tô Vũ L .Đối với ông Tô Vũ L, Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng và triệu tập hợp lệ tham gia phiên tòa lần thứ hai nhưng ông Tô Vũ L vắng mặt không lý do, không vì sự kiện bất khả kháng và cũng không cung cấp tài liệu, lời khai và chứng cứ để phản đối yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Cẩm T1 Hội đồng xét xử nhận thấy, bà Nguyễn Cẩm T đã gửi đơn yêu cầu ly hôn với ông Tô Vũ L một thời gian dài nhưng ông Tô Vũ L không có ý kiến gì, bà Nguyễn Cẩm T cho rằng trong cuộc sống vợ chồng giữa bà và ông Tô Vũ L thường xuyên xảy ra mâu thuẫn và thường xuyên cự cãi nhau dẫn đến cuộc sống vợ chồng không còn hạnh phúc. Điều đó cho thấy, hôn nhân giữa bà Nguyễn Cẩm T với ông Tô Vũ L đã lâm vào tình trạng mâu thuẫn trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, có căn cứ chấp nhận yêu cầu bà Nguyễn Cẩm T được ly hôn với ông Tô Vũ L.

[4] Về quyền nuôi con và cấp dưỡng nuôi con: Quá trình sống chung bà Nguyễn Cẩm T và ông Tô Vũ L 02 người con chung tên Tô Thị Mai P và Tô Vũ P. Bà Nguyễn Cẩm T yêu cầu sau khi ly hôn, bà được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng người con chung tên Tô Vũ P1, không yêu cầu ông Tô Vũ L không yêu cầu cấp dưỡng nuôi con; giao người con chung tên Tô Thị Mai P2 ngày 15 tháng 11 năm 2010 cho ông Tô Vũ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, bà Nguyễn Cẩm T không cấp dưỡng nuôi con.

Hội đồng xét xử nhận thấy, quá trình giải quyết vụ án ông Tô Vũ L không có ý kiến gì về yêu cầu nuôi con của bà Nguyễn Cẩm T1 Đồng thời, tại biên bản ghi ý kiến ngày 26 tháng 3 năm 2024, Tô Thị Mai P có nguyện vọng được sống cùng với C là ông Tô Vũ L ncha mẹ ly hôn. Hội đồng xét xử xét thấy để không làm xáo trộn đời sống của con chung, cần chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Cẩm T giao con chung tên Tô Vũ P1, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2017 cho bà Nguyễn Cẩm T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng; giao người con chung tên Tô Thị Mai P2 ngày 15 tháng 11 năm 2010 cho ông Tô Vũ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng. Bà Nguyễn Cẩm T, ông Tô Vũ L không phải cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

Về cấp dưỡng nuôi con chung: Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Cẩm T không yêu cầu ông Tô Vũ L cấp dưỡng nuôi con. Đối với ông Tô Vũ L quá trình giải quyết vụ án, ông Tô Vũ L không có ý kiến yêu cầu bà T cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[5] Về tài sản chung, nợ chung:

Về tài sản chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Về nợ chung: Không có, không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[6] Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa là có căn cứ nên được Hội đồng xét xử chấp nhận.

[7] Án phí dân sự sơ thẩm hôn nhân gia đình bà Nguyễn Cẩm T phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng các Điều 28, 35, 39, 147, 207, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ các Điều 9, 51, 56, 81, 82, 83 của Luật Hôn nhân và gia đình; Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Về hôn nhân: Cho ly hôn giữa bà Nguyễn Cẩm T với ông Tô Vũ L .
  2. Về con chung: Giao con chung tên Tô Vũ P1, sinh ngày 28 tháng 01 năm 2017 cho bà Nguyễn Cẩm T trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân. Giao người con chung tên Tô Thị Mai P2 ngày 15 tháng 11 năm 2010 cho ông Tô Vũ L trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng cho đến khi con chung đủ 18 tuổi và có khả năng tự lao động để nuôi sống bản thân.

    Sau khi ly hôn, người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.

    Ghi nhận sự tự nguyện của bà Nguyễn Cẩm T không yêu cầu ông Tô Vũ L cấp dưỡng nuôi con.

  3. Án phí: Buộc bà Nguyễn Cẩm T phải chịu án phí sơ thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng). Vào ngày 17 tháng 10 năm 2023, bà Nguyễn Cẩm T đã nộp tiền tạm ứng án phí là 300.000 đồng theo biên lai số 0019239 tại Chi cục thi hành án dân sự huyện Phú Tân, được chuyển thu.

“Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7 và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự”.

Bà Nguyễn Cẩm T có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày kể từ ngày tuyên án; ông Tô Vũ L vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt hợp lệ theo quy định của pháp luật./.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

Nguyễn Văn B

THẨM PHÁN

CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 17/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU về ly hôn, tranh chấp nuôi con

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn, tranh chấp nuôi con
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 17/04/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN PHÚ TÂN, TỈNH CÀ MAU
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Xin ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger