|
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG TỈNH THÁI BÌNH |
CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 16-9-2024
V/v: Ly hôn.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Hồng Thái.
Các Hội thẩm nhân dân: Bà Đoàn Thị Duyên; bà Bùi Thị Ngoan
- Thư ký phiên tòa: Bà Đặng Ngân Hà - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình tham gia phiên tòa: Ông Lê Văn Duy - Kiểm sát viên
Ngày 16 tháng 9 năm 2024 tại Trụ sở Toà án nhân dân huyện Kiến Xương, xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 56/2024/TLST-HNGĐ ngày 11/6/2024 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 48/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 13 tháng 8 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 45/2024/QĐST-HNGĐ ngày 29/8/2024, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1966
Đăng ký hộ khẩu thường trú: Thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.
Nơi cư trú: Thôn T, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.
- Bị đơn: Ông Phạm Văn T, sinh năm 1958
Đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: Thôn Đ, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình.
(Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
*) Tại đơn khởi kiện, lời khai và các tài liệu chứng cứ đã xuất trình, thì nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N trình bày và có yêu cầu cụ thể như sau:
Bà và ông Phạm Văn T tự nguyện kết hôn, có đăng ký kết hôn ngày 02/01/2014 tại UBND xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình. Sau khi kết hôn, vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, hay cãi chửi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng bất đồng quan điểm trong cuộc sống, tính cách không hòa hợp. Do mâu thuẫn trầm trọng nên đầu năm 2020 bà về nhà mẹ đẻ sinh sống, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Bà thấy không thể tiếp tục cuộc sống chung được nữa, mâu thuẫn ngày càng trầm trọng, không thể đoàn tụ được nên bà đề nghị Tòa án giải quyết cho bà được ly hôn ông Phạm Văn T.
Bà và ông Phạm Văn T không có con chung nên không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Bà và ông T tự giải quyết về tài sản, không yêu cầu Tòa án giải quyết. Ông bà không có nợ chung, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
*) Bị đơn là ông Phạm Văn T trình bày:
Ông và bà Nguyễn Thị N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống giữa ông và bà N không có mâu thuẫn gì lớn chỉ là do vợ chồng chung sống với nhau nhiều năm mà không có con. Đến năm 2019, bà N tự bỏ về nhà mẹ đẻ tại thôn T, xã Q sinh sống, nhiều lần ông đến tìm bà N về để vợ chồng đoàn tụ nhưng bà N không về. Ông đề nghị Tòa án tạo điều kiện để ông và bà N gặp gỡ, nói chuyện. Hiện nay mẹ đẻ bà N già yếu, khi nào cụ qua đời thì ông và bà N sẽ bàn bạc cụ thể.
Ông và bà N không có con chung.
Ông không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản, vợ chồng không nợ tổ chức, đoàn thể, cá nhân nào.
*) Đại diện chính quyền địa phương nơi các đương sự cư trú cung cấp nội dung như sau:
Ông Phạm Văn T và bà Nguyễn Thị N tự nguyện kết hôn và có đăng ký kết hôn theo quy định pháp luật. Quá trình chung sống, giữa ông T và bà N có xảy ra mâu thuẫn nhưng chỉ trong nội bộ gia đình, địa phương chưa phải can thiệp. Mấy năm gần đây địa phương không thấy bà N chung sống cùng ông T nữa mà về sinh sống cùng mẹ đẻ tại thôn T. Việc bà N xin ly hôn ông T đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định pháp luật. Bà N và ông T không có con chung. Tài sản chung của ông T và bà N do hai người tự giải quyết, vợ chồng không có nợ tổ chức, đoàn thể tại địa phương.
*) Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Kiến Xương tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến tại phiên tòa giải quyết vụ án dân sự:
- Việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử và việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn tuân thủ đúng quy định của pháp luật. Bị đơn không thực hiện quyền và nghĩa vụ quy định tại Điều 70 và Điều 72 Bộ luật tố tụng dân sự.
- Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016:
- + Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Phạm Văn T.
- + Về nuôi con chung: Không đặt ra giải quyết.
- + Về tài sản chung: Không đặt ra giải quyết.
- + Bà N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng: Tòa án đã triệu tập hợp lệ các đương sự để trình bày lời khai, tham gia tố tụng tại phiên tòa nhưng bị đơn là ông Phạm Văn T vắng mặt lần thứ 2 tại phiên tòa. Nguyên đơn là bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy, căn cứ vào Điều 238 Bộ luật Tố tụng dân sự: Tòa án xét xử trong trường hợp vắng mặt các đương sự.
[2] Về nội dung: Hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N và ông Phạm Văn T được xác lập trên cơ sở tự nguyện, có đăng ký kết hôn là hôn nhân hợp pháp. Sau khi kết hôn vợ chồng sống hạnh phúc đến năm 2019 thì phát sinh mâu thuẫn, hay cãi chửi nhau. Nguyên nhân là do vợ chồng kết hôn đã lâu mà không có con và bất đồng quan điểm trong cuộc sống. Do mâu thuẫn trầm trọng nên bà N về sinh sống cùng mẹ đẻ tại thôn T, xã Q, huyện K, tỉnh Thái Bình, vợ chồng đã ly thân từ đó đến nay. Ông T đề nghị Tòa án tạo điều kiện để ông gặp gỡ, nói chuyện với bà N nhưng lại vắng mặt tại phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải. Như vậy, mâu thuẫn giữa bà N và ông T ngày càng căng thẳng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên cần áp dụng Điều 56 Luật Hôn nhân và Gia đình, xử cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Phạm Văn T là phù hợp quy định của pháp luật.
[3] Về nuôi con chung: Bà N và ông T không có con chung nên không đặt ra giải quyết.
[4] Về tài sản chung: các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết về tài sản nên không đặt ra giải quyết trong vụ án này.
[5] Về án phí: Bà N phải nộp án phí ly hôn sơ thẩm theo quy định.
[6] Các đương sự có quyền kháng cáo theo quy định.
Căn cứ nhận xét trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào các Điều 147, 203, 235, 238, 271, 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự; áp dụng các Điều 51, 56 của Luật Hôn nhân và Gia đình; Điều 26; Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
- Về hôn nhân: Xử cho bà Nguyễn Thị N được ly hôn ông Phạm Văn T.
- Về nuôi con chung: Không đặt ra giải quyết.
- Về tài sản: Không đặt ra giải quyết.
- Về án phí: Bà Nguyễn Thị N phải nộp 300.000 đồng án phí ly hôn sơ thẩm, chuyển số tiền 300.000 đồng bà N đã nộp tạm ứng án phí tại biên lai thu tạm ứng án phí số 0002144 ngày 11/6/2024 của Chi cục thi hành án dân sự huyện Kiến Xương, tỉnh Thái Bình thành án phí.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
5. Các đương sự có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN–CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Hồng Thái |
Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 16/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH về ly hôn
- Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 16/09/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN KIẾN XƯƠNG, TỈNH THÁI BÌNH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thị Ni - Phạm Văn Tẩm
