|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA-VŨNG TÀU |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc ——————— |
|
Bản án số: 57/2024/HC-ST Ngày 13-6-2024 |
|
|
V/v: “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư” |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Xuân Hưng.
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Vũ Công Sế;
Ông Trần Quốc Thái.
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Quỳnh Như - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu tham gia phiên tòa: Bà Lương Thị Yến – Kiểm sát viên.
Ngày 13 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu xét xử sơ thẩm công khai vụ án hành chính thụ lý số 313/2023/TLST- HC ngày 17 tháng 11 năm 2023 về việc “Khiếu kiện quyết định hành về quản lý đất đai trong trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư”. Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 52/2024/QĐXXST-HC ngày 01 tháng 4 năm 2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 37/2024/QĐST-HC ngày 16-4-2024, Quyết định hoãn phiên tòa số 63/2024/QĐST-HC ngày 14-5-2024, giữa các đương sự:
- Người khởi kiện: Bà Trần Thị C, sinh 1965; địa chỉ: Số B đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (Vắng mặt).
Người đại diện hợp pháp:
- - Ông Hoàng Sỹ T, sinh năm 1979; địa chỉ: Số A đường N, Phường G, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Có mặt)
- - Ông Nguyễn Quang T1, sinh năm 1974; địa chỉ: Số B đường C, phường N, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu. (Vắng mặt)
- Người bị kiện:
- Ủy ban nhân dân (UBND) thành phố V;
- Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V
Cùng địa chỉ: Số H đường L, Phường A, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hoàng Vũ T2 – Chủ tịch UBND thành phố V. (Có đơn xin xét xử vắng mặt)
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: Ông Lê Dương B và ông Lê H – Viên chức Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố V (Có mặt).
Là đại diện theo ủy quyền theo Giấy ủy quyền số 3155, quyền số 03/2023 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 14-8-2023 tại Văn phòng C1, tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Ngày 28-12-2022 UBND thành phố V ban hành Quyết định số 14341/QĐ-UBND về việc thu hồi 76,7 m² đất do bà Trần Thị C đang sử dụng để đầu tư xây dựng công trình Cải tạo, nâng cấp đường P, phường T, thành phố V (Viết tắt là Quyết định số 14341/QĐ-UBND).
Cùng ngày 28-12-2022, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 14355/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho bà Trần Thị C, địa chỉ số B đường P, phường T, thành phố V do Nhà nước thu hồi để thực hiện dự án Cải tạo, nâng cấp đường P, phường T, thành phố V (Viết tắt là Quyết định số 14355/QĐ-UBND); với tổng kinh phí bồi thường, hỗ trợ: 421.950.6000 đồng, trong đó:
- Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất:
Diện tích đất thu hồi 76,7m²,
- + Diện tích bồi thường 54,8m²: Bồi thường giá trị quyền sử dụng đất nông nghiệp: 419.987.200 đồng,
- + Diện tích không bồi thường 21,9 m² không thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Giấy CNQSDĐ) số BC 848217 ngày 11-8-2010, không có giấy tờ theo Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ.
- Bồi thường hoa màu: 163.400 đồng.
- Không bồi thường mái che tôn, nền bê tông (23,12m²), sân bê tông (1,2 x 4,6)m: do xây dựng trên phần diện tích đất không đủ điều kiện bồi thường theo Điều 92 Luật Đất đai năm 2013,
- Hỗ trợ 100% giá nhà, vật kiến trúc do xây dựng năm 2003: Chờ ý kiến chỉ đạo của UBND Tỉnh về việc áp dụng Điều 24 Quyết định 19/2022/QĐ-UBND ngày 23-9-2022 của UBND Tỉnh,
- Các khoản hỗ trợ khác:1.800.000 đồng.
Không đồng ý với Quyết định số 14355/QĐ-UBND ngày 28-12-2022, bà Trần Thị C có đơn khiếu nại, yêu cầu: “Bồi thường diện tích đất thu hồi 21,9m² đất theo giá đất nông nghiệp; Bồi thường, hỗ trợ vật kiến trúc theo Mục C của Quyết định. Ngoài nội dung trên bà C không khiếu nại nội dung nào khác”.
Ngày 20-7-2023, UBND thành phố V ban hành Quyết định số 3936/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho bà Trần Thị C (Viết tắt là Quyết định số 3936/QĐ-UBND), với kinh phí: 188.211.680 đồng (hỗ trợ 100% giá nhà, vật kiến trúc do xây dựng năm 2003).
Ngày 28-7-2023, Chủ tịch UBND thành phố V ban hành Quyết định 4166/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị C (lần đầu) (Viết tắt là Quyết định số 4166/QĐ-UBND), với nội dung: “Bác nội dung đơn khiếu nại yêu cầu: bồi thường diện tích 21,9m² đất nông nghiệp và bồi thường, hỗ trợ nhà vật kiến trúc theo Mục C của Quyết định. Giữ nguyên nội dung Quyết định số 14355/QĐ-UBND ngày 28/12/2022 của UBND Thành phố”.
Bà C khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết những vấn đề sau:
- - Hủy Quyết định số 14341/QĐ-UBND ngày 28-12-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc thu hồi 76,7m² đất do bà Trần Thị C đang sử dụng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Cải tạo, nâng cấp đường P, phường T, thành phố V;
- - Hủy Quyết định số 14355/QĐ-UBND ngày 28-12-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư cho ông (bà) Trần Thị C, địa chỉ B đường P, phường T, thành phố V do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Cải tạo, nâng cấp đường P, phường T;
- - Hủy Quyết định số 4166/QĐ-UBND ngày 28-7-2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V về việc giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị C, địa chỉ số B đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (lần đầu);
- - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V ban hành quyết định thu hồi và phê duyệt bồi thường đối với toàn bộ diện tích đất bị thu hồi theo giá đất ở, bồi thường toàn bộ vật kiến trúc trên đất.
Tại phiên toà, người khởi kiện rút một phần và thay đổi yêu cầu khởi kiện như sau:
- - Rút yêu cầu huỷ Quyết định số 14341/QĐ-UBND ngày 28-12-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc thu hồi 76,7m² đất do bà Trần Thị C đang sử dụng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Cải tạo, nâng cấp đường P, phường T, thành phố V.
- - Hủy phần diện tích đất không bồi thường 21,9 m² tại phần 1 Điều 1 Quyết định số 14355/QĐ-UBND ngày 28-12-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư cho ông (bà) Trần Thị C, địa chỉ B đường P, phường T, thành phố V do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Cải tạo, nâng cấp đường P, phường T;
- - Hủy Quyết định số 4166/QĐ-UBND ngày 28-7-2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V về việc giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị C, địa chỉ số B đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (lần đầu);
- - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V ban hành quyết định thu hồi và phê duyệt bồi thường đối với toàn bộ diện tích đất bị thu hồi theo giá đất ở và nhà, vật kiến trúc trên đất thu hồi chưa bồi thường.
Theo đơn khởi kiện và trong quá trình tố tụng tại Tòa án, người khởi kiện và đại diện hợp pháp của người khởi kiện trình bày:
Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất:
Năm 1979 ông Nguyễn T3 khai phá 2.042 m² đất và được U cấp Giấy chứng nhận đã đăng ký ruộng đất số 895/P9/ĐKRĐ. Ngày 18-10-1999 UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 5107/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 117 hộ gia đình, cá nhân sử dụng 32.308,9 m² đất tại Phường I, thành phố V (trong đó có 2.042 m² thuộc thửa số 300, tờ bản đồ số 3 của ông Nguyễn T3).
Đến ngày 18-6-1997, ông Nguyễn T3 có chuyển nhượng 358,3m² thửa số 300+343 cho ông Trần Quang H1. Năm 2003 ông H1 xây nhà ở trên đất và sau này bị thu hồi. Ngày 10-11-2009 ông H1 được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 505752. Ngày 16-7-2010 ông H1 tặng cho bà Trần Thị C toàn bộ 358,3m² đất và nhà trên đất. Đến ngày 11-8-2010, bà C được UBND thành phố V cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 848217. Do vậy, đối với phần đất bị thu hồi nằm trong diện tích đất có nhà xây dựng sau ngày 15-10-1993 và trước ngày 01-7-2004.
Việc UBND thành phố V thu hồi và phê duyệt phương án bồi thường theo nội dung Quyết định 14341 và Quyết định 14355 cùng ngày 28-12-2022, UBND thành phố V đã không xem xét quá trình sử dụng thực tế của gia đình bà C trên mảnh đất trên dẫn đến việc bồi thường nhà, đất là chưa thỏa đáng và không căn cứ đúng theo quy định của pháp luật về đền bù. Theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ, khoản 1 Điều 7 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ thì phần diện tích 76,7m² đất trên đủ điều kiện bồi thường theo giá đất ở (phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất ở).
Phần diện tích nhà, vật kiến trúc trên phần diện tích 76,7 m² đất trên được xây dựng vào năm 2003, việc xây dựng không có biên ban ngăn chặn vi phạm hành chính. Theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 25/2016/QĐ-UBND ngày 16-8-2016 của UBND tỉnh B về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31-10-2014 của UBND tỉnh B quy định: “Điều 17b. Hỗ trợ nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt. 38374 Nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt không được phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng nhưng xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất và xây dựng trước thông báo thu hồi đất thì được xem xét hỗ trợ theo quy định sau: 1. Đối với khu vực đô thị: a) Xây dựng trước ngày 01/7/2004: hỗ trợ bằng mức bồi thường; ”. Bà C khởi kiện yêu cầu bồi thường, hỗ trợ toàn bộ nhà, vật kiến trúc trên đất thu hồi là có cơ sở.
Ngày 20-7-2023, UBND thành phố V đã ban hành Quyết định số 3936/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung cho bà Trần Thị C, với kinh phí: 188.211.680 đồng (hỗ trợ 100% giá nhà, vật kiến trúc do xây dựng năm 2003). Do đó, người khởi kiện xin rút yêu cầu về bồi thường, hỗ trợ vật kiến trúc trên đất.
Người bị kiện và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của UBND thành phố V, Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V trình bày:
Nguồn gốc sử dụng nhà, đất theo xác nhận của UBND phường T tại Văn bản số 1399/UBND-ĐC ngày 17-10-2022:
Diện tích đất bà Trần Thị C bị thu hồi để thực hiện nâng cấp, cải tạo đường Phạm Văn D là 76,7m², trong đó:
- - Diện tích 54,8m² đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 848 217 do UBND thành phố V cấp ngày 11-8-2010 cho bà Trần Thị C thuộc thửa 50, tờ 57 với diện tích 358,3m² đất trồng cây lâu năm.
- - Diện tích 21,9m² đất thu hồi nằm ngoài diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 848217 do UBND thành phố V cấp ngày 11-8-2010 cho bà Trần Thị C tuy nhiên nằm trong diện tích thửa 300 (cũ), tờ 03 (cũ) do ông Nguyễn T3 kê khai đăng ký với diện tích 2.240m² loại đất “ĐM” và thửa 343 (cũ) tờ 03 (cũ) do ông Nguyễn T3 kê khai đăng ký với diện tích 1.700m² loại đất “ĐM”, tuy nhiên chủ sử dụng đất hiện nay chưa cung cấp được giấy tờ chuyển nhượng liên quan đến phần diện tích đất trên.
Trên phần đất thu hồi có nhà xây và hàng rào vật kiến trúc dựng năm 2003 (theo hợp đồng cung cấp và tiêu thụ nước máy ngày 18-9-2003 đứng trên bà Trần Thị C – số 25C Phạm Văn D); về việc xây dựng, UBND phường chưa thấy hồ sơ xử lý vi phạm hành chính.
Tại Văn bản số 5223/TNMT-BT ngày 28-10-2022 của Phòng T4:
Diện tích 54,8m² thuộc giấy chứng nhận số BC 848217 do UBND thành phố V cấp ngày 11-8-2010 cho bà Trần Thị C với diện tích 358,3m² đất nông nghiệp. Đủ điều kiện bồi thường 54,8m² đất nông nghiệp theo Điều 75 Luật Đất đai năm 2013.
Diện tích 21,9m² ngoài giấy chứng nhận số BC 848217, bà C không cung cấp chứng cứ sử dụng đất theo Điều 21 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ, không đủ điều kiện bồi thường theo Điều 82 Luật Đất đai năm 2013
UBND thành phố V đã thực hiện đầy đủ, đúng quy định về thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ, tái định cư cho bà Trần Thị C theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và đã giải quyết khiếu nại lần đầu đối với bà Trần Thị C.
Do đó, yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C là không có cơ sở giải quyết, đề nghị Tòa án Nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu bác nội dung khởi kiện nêu trên của bà C.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu phát biểu quan điểm về việc giải quyết vụ án như sau:
Về tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử và những người tham gia tố tụng đã thực hiện đúng các quy định của pháp luật Tố tụng hành chính, tuy nhiên vụ án vẫn chậm đưa ra xét xử theo thời hạn luật định.
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà C:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với yêu cầu huỷ Quyết định số 14341/QĐ-UBND ngày 28-12-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C:
- - Hủy phần diện tích đất không bồi thường 21,9 m² tại phần 1 Điều 1 Quyết định số 14355/QĐ-UBND ngày 28-12-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư cho ông (bà) Trần Thị C, địa chỉ B đường P, phường T, thành phố V do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Cải tạo, nâng cấp đường P, phường T;
- - Hủy Quyết định số 4166/QĐ-UBND ngày 28-7-2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V.
- - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện nhiệm vụ, công vụ bồi thường bổ sung cho bà Trần Thị C đối với diện tích đất 21,9 m² trên đất tại phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định pháp luật.
Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C về việc: Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V ban hành quyết định thu hồi và phê duyệt bồi thường đối với toàn bộ diện tích đất bị thu hồi theo giá đất ở.
- Về án phí: Buộc người bị kiện phải nộp theo luật định.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử sơ thẩm nhận định:
- [1]. Về tố tụng: Tại phiên tòa người khởi kiện vắng mặt nhưng có người đại diện theo ủy quyền tham gia phiên tòa, người bị kiện có đơn xin xét xử vắng mặt. Do vậy, Tòa án xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại các Điều 157, 158 Luật Tố tụng hành chính.
Tại phiên toà:
Đại diện người khởi kiện tự nguyện rút yêu cầu hủy Quyết định số 14341/QĐ-UBND ngày 28-12-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc thu hồi 76,7m² đất. Căn cứ khoản 2 Điều 173 Luật Tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với yêu cầu hủy Quyết định số 14341/QĐ-UBND.
Đồng thời, người khởi kiện thay đổi yêu cầu khởi kiện yêu cầu huỷ một phần Quyết định số 14355/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư cho bà Trần Thị C tại mục 1 Điều 1 phần diện tích đất không bồi thường 21,9 m² và phần A mục 1 Điều 1 về bồi thường giá đất nông nghiệp; buộc UBND thành phố V ban hành quyết định thu hồi và phê duyệt bồi thường đối với toàn bộ diện tích đất bị thu hồi theo giá đất ở và nhà, vật kiến trúc trên đất thu hồi chưa bồi thường. Việc thay đổi, bổ sung yêu cầu của người khởi kiện là không vượt quá phạm vi khởi kiện ban đầu. Căn cứ khoản 1 Điều 173 Luật Tố tụng Hành chính, Hội đồng xét xử chấp nhận việc thay đổi yêu cầu khởi kiện của bà C và xem xét giải quyết trong cùng vụ án.
- [2]. Về đối tượng khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Quyết định số 14355/QĐ-UBND về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ, tái định cư và Quyết định số 4166/QĐ-UBND về việc giải quyết khiếu nại lần đầu là quyết định hành chính trong lĩnh vực quản lý đất đai, thuộc đối tượng khởi kiện của vụ án hành chính. Bà Trần Thị C khởi kiện yêu cầu hủy Quyết định số 14355/QĐ-UBND, Quyết định số 4166/QĐ-UBND, buộc UBND thành phố V ban hành quyết định thu hồi và phê duyệt bồi thường đối với toàn bộ diện tích đất bị thu hồi theo giá đất ở và nhà, vật kiến trúc trên đất thu hồi chưa bồi thường nên quan hệ pháp luật tranh chấp được xác định là “Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư” và vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu theo quy định tại khoản 1, 2 Điều 3; khoản 1 Điều 30; khoản 4 Điều 32 của Luật Tố tụng Hành chính.
Quyết định số 3936/QĐ-UBND ngày 20-7-2023 của UBND thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ bổ sung là quyết định hành chính có liên quan. Do đó, Hội đồng xét xử vẫn xem xét tính hợp pháp của Quyết định số 3936/QĐ-UBND theo quy định tại khoản 1 Điều 6 của Luật Tố tụng Hành chính.
- [3]. Về thời hiệu khởi kiện: Ngày 22-9-2023 bà Trần Thị C nộp đơn khởi kiện tại Tòa án là còn thời hiệu khởi kiện theo điểm a, khoản 2 Điều 116 Luật Tố tụng Hành chính.
- [4]. Về tính hợp pháp của Quyết định số 14355/QĐ-UBND, Quyết định số 4166/QĐ-UBND và Quyết định số 3936/QĐ-UBND:
- [4.1]. Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành:
Quyết định số 14355/QĐ-UBND, Quyết định số 4166/QĐ-UBND và Quyết định số 3936/QĐ-UBND được ban hành đúng trình tự, thủ tục, thẩm quyền theo quy định của Luật Đất đai năm 2013 và Luật khiếu nại năm 2011.
- [4.2]. Về nội dung Quyết định số 14355/QĐ-UBND, Quyết định số 3936/QĐ-UBND:
- [4.2.1]. Về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Năm 1979, ông Nguyễn T3, bà Nguyễn Thị D1 khai phá 3 thửa đất tại Phường I cũ (nay là phường T):
- - Diện tích 2.042 m² đất thuộc thửa đất số 300, tờ bản đồ 03;
- - Diện tích 1.700 m² đất thuộc thửa số 343, tờ bản đồ 03;
- - Diện tích 2.680 m² thuộc thửa số 184, tờ bản đồ 03
Ngày 15-8-1990 ông Nguyễn T3 được U cấp Giấy chứng nhận đã đăng ký ruộng đất số 895/P9/ĐKRĐ, loại đất "M" đối với các diện tích đất trên.
Ngày 18-10-1999 UBND tỉnh B ban hành Quyết định số 5107/QĐ-UB về việc cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho 117 hộ gia đình, cá nhân sử dụng 32.308,9 m² đất tại Phường I, thành phố V. Trong đó có 2.042 m² thuộc thửa số 300, tờ bản đồ số 3 của ông T3, bà D1 được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số P 882390 ngày 18-10-1999, loại đất "nông nghiệp".
Ngày 06-12-2002 ông T3, bà D1 lập hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất diện tích 350 m² thuộc thửa đất 300+343, tờ bản đồ 03 tại Phường I cũ cho ông Trần Quang H1, có tứ cận như sau:
- - Đông giáp đường P.
- - Tây giáp đất ông T3.
- - Nam giáp đất ông T3 đã bán.
- - Bắc giáp đất ông T3.
Năm 2003, ông H1 xây dựng nhà ở trên đất. Ngày 10-11-2009 ông H1 được UBND thành phố V cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số AP 505752 đối với diện tích đất 358,3 m² thuộc thửa 26533.57.50, tờ bản đồ số 57 tọa lạc tại phường T, thành phố V.
Ngày 16-7-2010 ông H1 tặng cho bà Trần Thị C toàn bộ diện tích đất 358,3m². Đến ngày 11-8-2010, bà C được UBND thành phố V cấp đổi lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BC 848217.
Ông H1 và bà C sử dụng đất ổn định, không phát sinh tranh chấp tại địa phương và không bị xử lý vi phạm hành chính về đất đai, xây dựng.
- [4.2.2]. Về hồ sơ địa chính:
Diện tích đất bà Trần Thị C bị thu hồi để thực hiện nâng cấp, cải tạo đường Phạm Văn D là 76,7 m², trong đó:
- - Diện tích 54,8m² đất thuộc Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 848217 do UBND thành phố V cấp ngày 11-8-2010 cho bà Trần Thị C thuộc thửa 50, tờ 57 với diện tích 358,3m² đất trồng cây lâu năm.
- - Diện tích 21,9m² đất thu hồi giáp mặt đường Phạm Văn D, nằm ngoài diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 848217 nhưng nằm trong diện tích thửa 300 (cũ), tờ 03 (cũ) do ông Nguyễn T3 kê khai đăng ký với diện tích 2.240m² loại đất “M” và thửa 343 (cũ) tờ 03 (cũ) do ông Nguyễn T3 kê khai đăng ký với diện tích 1.700m² loại đất "M".
Bản đồ địa chính năm 1991 thể hiện thửa 300 + 343 có mặt tiền giáp đường L.
- [4.2.3] Người đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện cho rằng: Diện tích đất bị thu hồi đủ điều kiện bồi thường theo giá đất ở (phải nộp tiền sử dụng đất bằng 50% tiền sử dụng đất đối với diện tích đất trong hạn mức giao đất ở) theo quy định tại khoản 2 Điều 20 Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ, khoản 1 Điều 7 Nghị định số 45/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ là không đúng, do các quy định pháp luật trên chỉ áp dụng cho đối tượng là hộ gia đình, cá nhân đang sử dụng đất mà không có giấy tờ về quyền sử dụng đất quy định tại Điều 100 Luật Đất đai, do diện tích đất bị thu hồi hiện nay của bà C thuộc “Giấy chứng nhận đã đăng ký ruộng đất số 895/P9/ĐKRĐ, loại đất M”, do U cấp ngày 15-8-1990 cho ông Nguyễn T3, nên căn cứ Điều 11 Luật đất đai thì diện tích đất này vẫn phải xác định là đất nông nghiệp.
- [4.2.4]. Từ những chứng cứ nêu trên, có cơ sở xác định bà Trần Thị C sử dụng diện tích đất 76,7 m² bị thu hồi có nguồn gốc do nhận chuyển nhượng, tặng cho từ đất ông Nguyễn T3 khai phá năm 1979, được đăng ký kê khai loại đất ký hiệu “M”, được cấp Giấy chứng nhận đã đăng ký ruộng đất số 895/P9/ĐKRĐ ngày 15-8-1990, sử dụng ổn định và xây nhà để ở từ năm 2003. Quá trình sử dụng đất của bà C không có tranh chấp.
Căn cứ quy định pháp luật và các giấy tờ về quyền sử dụng đất thì diện tích đất 21,9 m² thu hồi giáp mặt đường Phạm Văn D, nằm ngoài diện tích đã được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số BC 848217 đủ điều kiện cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nên đủ điều kiện được bồi thường về đất theo quy định tại khoản 2 Điều 100, Điều 75 Luật đất đai năm 2013, khoản 3 Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ.
Do vậy, Quyết định số 14355/QĐ-UBND không bồi thường diện tích đất 21,9 m² cho bà C là không đúng quy định pháp luật.
- [4.2.5] Yêu cầu bồi thường, hỗ trợ nhà và vật kiến trúc trên đất thu hồi:
Theo quy định tại khoản 4 Điều 1 Quyết định số 25/2016/QĐ-UBND ngày 16-8-2016 của UBND tỉnh B về sửa đổi, bổ sung một số điều của quy định bồi thường, hỗ trợ, tái định cư khi Nhà nước thu hồi đất trên địa bàn tỉnh ban hành kèm theo Quyết định số 52/2014/QĐ-UBND ngày 31-10-2014 của UBND tỉnh B quy định: “Điều 17b. Hỗ trợ nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt. Nhà ở, công trình phục vụ sinh hoạt không được phép xây dựng theo quy định của pháp luật về xây dựng nhưng xây dựng trên đất có đủ điều kiện được bồi thường về đất và xây dựng trước thông báo thu hồi đất thì được xem xét hỗ trợ theo quy định sau: 1. Đối với khu vực đô thị: a) Xây dựng trước ngày 01/7/2004: hỗ trợ bằng mức bồi thường".
Tại Quyết định số 3936/QĐ-UBND, UBND thành phố V đã hỗ trợ 100% giá trị nhà và vật kiến trúc trên đất thu hồi của bà C theo đúng mức giá được quy định tại Quyết định số 07/2020/QĐ-UBND. Do đó, Quyết định số 3936/QĐ-UBND được ban hành đúng quy định pháp luật.
- [4.2.1]. Về nguồn gốc đất, quá trình sử dụng và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
- [4.3]. Về nội dung Quyết định số 4166/QĐ-UBND:
Quyết định số 4166/QĐ-UBND là quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu đối với Quyết định số 14355/QĐ-UBND do có khiếu nại về bồi thường diện tích đất thu hồi 21,9 m² theo giá đất nông nghiệp và bồi thường, hỗ trợ vật kiến trúc tại Mục C Quyết định. Như đã phân tích ở trên, Quyết định số 14355/QĐ-UBND với nội dung không bồi thường diện tích đất 21,9 m² là không đúng quy định pháp luật. Do đó, Quyết định số 4166/QĐ-UBND với nội dung bác khiếu nại về bồi thường diện tích đất 21,9 m² cũng trái pháp luật.
- [4.1]. Về trình tự, thủ tục và thẩm quyền ban hành:
- [5] Từ những phân tích và nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xét thấy có căn cứ để chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà C về việc hủy phần diện tích đất không bồi thường 21,9 m² tại phần 1 Điều 1 của Quyết định số 14355, hủy Quyết định số 4166/QĐ-UBND và buộc UBND thành phố V thực hiện nhiệm vụ công vụ về bồi thường bổ sung cho bà C.
- [6] Quan điểm của đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà C là phù hợp với phân tích và nhận định nêu trên, nên Hội đồng xét xử chấp nhận quan điểm của đại diện Viện kiểm sát tại phiên tòa.
- [7]. Về án phí hành chính sơ thẩm: Người bị kiện phải chịu án phí theo quy định của pháp luật do yêu cầu khởi kiện của người khởi kiện được chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 173; các điểm a, b, khoản 2 Điều 193 Luật Tố tụng Hành chính;
Căn cứ Điều 75 và khoản 2 Điều 100 Luật Đất đai 2013;
Căn cứ khoản 3 Điều 12 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15-5-2014 của Chính phủ;
Căn cứ khoản 2 Điều 32 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.
- Đình chỉ xét xử sơ thẩm đối với yêu cầu huỷ Quyết định số 14341/QĐ-UBND ngày 28-12-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc thu hồi 76,7m² đất do bà Trần Thị C đang sử dụng để thực hiện dự án đầu tư xây dựng công trình Cải tạo, nâng cấp đường P, phường T, thành phố V.
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C:
- - Hủy phần diện tích đất không bồi thường 21,9 m² tại phần 1 Điều 1 Quyết định số 14355/QĐ-UBND ngày 28-12-2022 của Ủy ban nhân dân thành phố V về việc phê duyệt phương án bồi thường hỗ trợ tái định cư cho ông (bà) Trần Thị C, địa chỉ B đường P, phường T, thành phố V do Nhà nước thu hồi đất để thực hiện dự án Cải tạo, nâng cấp đường P, phường T;
- - Hủy Quyết định số 4166/QĐ-UBND ngày 28-7-2023 của Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V về việc giải quyết khiếu nại của bà Trần Thị C, địa chỉ số B đường P, phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu (lần đầu).
- - Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V thực hiện nhiệm vụ, công vụ bồi thường bổ sung cho bà Trần Thị C đối với diện tích đất 21,9 m² đất tại phường T, thành phố V, tỉnh Bà Rịa - Vũng Tàu theo quy định pháp luật.
- Bác yêu cầu khởi kiện của bà Trần Thị C về việc: Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V ban hành quyết định thu hồi và phê duyệt bồi thường đối với toàn bộ diện tích đất bị thu hồi theo giá đất ở.
- Án phí hành chính sơ thẩm:
- Buộc Ủy ban nhân dân thành phố V phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).
- Buộc Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố V phải chịu 300.000đ (ba trăm ngàn đồng).
H2 lại cho bà Trần Thị C tiền tạm ứng án phí đã nộp 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 538 ngày 06-11-2023 của Cục Thi hành án dân sự tỉnh Bà Rịa – Vũng Tàu.
Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, các đương sự được quyền kháng cáo bản án để yêu cầu Tòa án nhân dân Cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử lại theo thủ tục phúc thẩm. Đương sự vắng mặt được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đã ký Phạm Xuân Hưng |
Bản án số 57/2024/HC-ST ngày 13/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU về khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Số bản án: 57/2024/HC-ST
- Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện quyết định hành chính về quản lý đất đai thuộc trường hợp bồi thường, hỗ trợ, tái định cư
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 13/06/2024
- Loại vụ/việc: Hành chính
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÀ RỊA - VŨNG TÀU
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà C khiếu kiện quyết định hành chính của Ủy ban V
