Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH HÀ TĨNH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/DSST

Ngày 18/10/2024

V/v “Yêu cầu chấm dứt hành vi

cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở

và dời dọn tài sản, tháo dỡ công

trình xây dựng trái phép trên đất”.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH:

Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

  • - Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Hồ Đức Quang
  • - Các hội thẩm nhân dân: Ông Nguyễn Tất Thể và ông Bùi Văn Hồng
  • - Kiểm sát viên Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Hòa.
  • - Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Lê Nguyễn Hoàng Đức.

Ngày 18 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 13/2024/TLST-DS, ngày 19 tháng 3 năm 2024 về tranh chấp “Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở và dời dọn tài sản, tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên đất”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 70/2024/QĐXX-ST ngày 20 tháng 9 năm 2024 và Thông báo về việc mở lại phiên tòa sơ thẩm số /TB-TA ngày 30 tháng 9 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn:
  2. Bà Đặng Thị H, sinh năm 1974; địa chỉ: Thôn B, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

    Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Bà Võ Thị Hồng N, sinh năm 1993; địa chỉ: K, thị trấn C, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).

  3. Bị đơn:
  4. Bà Đặng Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh ( Có mặt).

    Ông Trần Xuân T1; địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

  5. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:
  6. Ông Lê Chí T2, sinh năm 1970; địa chỉ: Thôn S, xã K, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Vắng mặt).

Người đại diện theo ủy quyền của ông T2: Bà Võ Thị Hồng N, sinh năm 1993; địa chỉ: K, thị trấn C, huyện T, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).

- Bà Đặng Thị H1; địa chỉ: Thôn M, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).

- Ủy ban nhân dân xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh: Ông Phạm Thái H2 - Chức vụ: Chủ tịch UBND xã L (Có mặt).

- Ủy ban nhân dân huyện K, tỉnh Hà Tĩnh: Đại diện theo ủy quyền: Ông Lê Tài T3 - Trưởng phòng Tài nguyên Môi trườn (Vắng mặt).

  1. Người làm chứng:
  2. Ông: Nguyễn Tú L – Cán bộ địa chính UBND xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn, đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện, bản ý kiến, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa nguyên đơn bà Đặng Thị H và người đại diện theo ủy quyền của bà Đặng Thị H trình bày:

Trước đây mẹ của bà Đặng Thị H là bà Phan Thị T4 (đã mất năm 2018), sinh năm 1927 có một thửa đất có diện tích 320m² tại địa chỉ thôn M, xã K huyện K, tỉnh Hà Tĩnh (Nay là thôn M, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh), được UBND huyện K cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 30/12/2007 mang tên bà Phan Thị T4 với diện tích 320m² (đất ở 300m², đất trồng cây lâu năm khác 20m²). Trước khi bà Phan Thị T4 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thì bà T4 ở trên thửa đất này đã lâu khi đó bà H còn nhỏ và đến năm 2002 được UBND xã hỗ trợ một khoản tiền khoản 2.800.000 đồng đến 3.000.000 đồng để xóa nhà tranh tre dột nát. Bà đã sử dụng tiền tích góp của bà cùng tiền bán 01 con bò (bò do con trai là anh T4 cho) và số tiền hỗ trợ trên làm 02 gian nhà cấp 4 để ở. Đến ngày 08/9/2010 bà Phan Thị T4 đã làm giấy chuyển nhượng nhà ở và đất ở cho bà H sử dụng lâu dài. Giấy chuyển nhượng nhà ở, đất ở này có sự tham gia chứng kiến và chữ ký của bà Đặng Thị T và các con khác của bà Phan Thị T4. Ngày 30/9/2010 vợ chồng bà Đặng Thị H, ông Lê Chí T2 đã làm hợp đồng chuyển nhượng quyền sự dụng đất mua lại toàn bộ thửa đất nói trên của bà Phan Thị T4, với giá chuyển nhượng là 30.000.000 đồng (ba mươi triệu đồng). Việc mua bán đất giữa hai bên là hoàn toàn tự nguyện, việc giao kết được thực hiện tại UBND xã K (nay là xã L), huyện K, tỉnh Hà Tĩnh. Sau khi các bên hoàn tất việc giao kết hợp đồng vợ chồng bà H đã thực hiện đầy đủ nghĩa vụ tài chính đối với thửa đất, đến ngày 23/9/2010 vợ chồng bà H được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 646621 mang tên chủ sử dụng là ông Lê Chí T2 và bà Đặng Thị H với diện tích 320m² (đất ở 300m², đất trồng cây lâu năm khác 20m²). Bà T4 ở trên nhà và đất đã chuyển nhượng cho bà H đến năm 2016 do già yếu nên chuyển vào nhà anh T4 là con trai trưởng. Đến năm 2018 thì mẹ bà H là bà Phan Thị T4 mất. Sau khi được cấp Giấy chứng nhận quyền gia đình bà H vẫn quản lý thửa đất nói trên, cho đến năm 2019 nhân lúc bà H không trực tiếp ở trên đất, chị gái bà H là bà Đặng Thị T5 (có nhà ở đối diện gần đó phía bên kia đường tỉnh lộ 12) đã tự ý sang xây chuồng lợn, chuồng gà trên đất của bà H để chăn nuôi. Bà H đã nhiều lần yêu câu bà T dỡ bỏ chuồng trại chăn nuôi trả lại mặt bằng đất nhưng bà T không thực hiện. Chính quyền địa phương đã nhiều lần hòa giải, bà đã đề nghị hỗ trợ một khoản tiền để bà T dời dọn tài sản (chuồng gà, lợn, bếp) trả lại mặt bằng đất nhưng bà T không chấp nhận. Năm 2022, vợ chồng bà H có ý định chuyển nhượng đất cho người khác và tiếp tục yêu cầu bà T dời dọn các chuồng trại, bếp nói trên nhưng bà T không thực hiện để trả lại mặt bằng đất nhằm cản trở quyền sử dụng đất hợp pháp của vợ chồng bà H. Trong lúc vụ án đang được Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh thụ lý, giải quyết thì ngày 02/8/2024, bà T đã tự ý thuê người làm lại mái che sân, xây tường gắn lưới B40 và làm cánh cổng gắn với mái che sân, làm một phòng ngủ bằng vật liệu nhẹ và thưng chắn bịt kín toàn bộ phần sân phía trước nhà và mặt tiền của thửa đất được cấp cho bà H. Toàn bộ công trình làm mái che sân và phòng ngủ tường rào cổng này nằm trên phần sân nhà bà H (sau khi cắm mốc chỉ giới tỉnh lộ 12 thì phần sân và 1 phần nhà bà H nằm trên đất hành lang giao thông) và đều có kèo sắt được hàn gắn kết nối vào tường nhà phía trước của bà H. Khi bà T làm các công trình này trên sân nhà bà H thì bà H đã có đơn trình báo với chính quyền và UBND xã L đã làm việc yêu cầu bà T đình chỉ việc xây dựng nhưng bà T không chấp hành.

Đối với yêu cầu, ý kiến phản tố của bà T cho rằng thửa đất 320m² cấp cho bà Phan Thị T4, chủ đất là của bà T (bà khai hoang từ năm 1977 sau đó cho mẹ là bà T4 đứng tên để xây nhà tình nghĩa) chứ không phải là bà T4 nên cho rằng hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị T4 và bà Đặng Thị H là không có giá trị pháp lý, bà T không biết việc mua bán này và bà H không có quyền định đoạt đối với thửa đất trên là hoàn toàn không có căn cứ và bà H không nhất trí. Đối với ngôi nhà xây 02 gian cấp 4 bà T cho rằng đó là nhà tình nghĩa vì bố bà ông Đặng Xuân L1 là liệt sỹ hy sinh năm 1966 (bà H không phải là con của ông L1) và trong hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà H và bà T4 phần tài sản trên đất ghi là “Không” nên bà H không có quyền định đoạt cũng hoàn toàn không có cơ sở, vì đất và nhà ở là của bà Phan Thị T4. Việc mua bán, chuyển nhượng thửa đất cũng như nhà ở giữa bà H và mẹ đẻ là bà Phan Thị T4 là hoàn toàn hợp pháp, có đầy đủ xác nhận của thôn, chính quyền địa phương, các con bà T4 đều biết và ký tên tại biên bản chuyển nhượng.

Đối với quan điểm của bà T cho rằng đất cấp cho bà T4 là 320m² trong đó chiều dài là 20m tính từ mốc hành lang giao thông đườngViệt – Lào kéo về phía sau nên bà H đã mua đất của bà T4 thì chỉ được quyền sở hữu, sử dụng diện tích 320m² đó tính từ mốc hành lang giao thông kéo về phía sau, còn phía trước mốc là đất hành lang giao thông chứ không phải đất bà H thì bà T làm gì là quyền của T chứ bà H không có quyền can thiệp. Bà H không nhất trí vì bà T làm công trình mái che, phòng ở, cổng gắn với ngôi nhà và bịt kín toàn bộ mặt tiền nhà ở cũng như đất ở thuộc quyền sở hữu của bà H là trái pháp luật, xâm hại đến quyền lợi ích hợp pháp của bà H về quyền sử dụng không gian phía trước gắn với nhà ở, đất ở, quyền sử dụng hành lang giao thông được nhà nước cho phép và quyền có lối đi vào nhà ở, đất ở của bà bà H. Do đó bà H khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bà Đặng Thị T chấm dứt mọi hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở hợp pháp của bà Đặng Thị H đối với thửa đất và ngôi nhà mà bà H đã mua lại của bà Phan Thị T4, tại thôn M, xã L huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Buộc bà Đặng Thị T dời dọn, tháo dỡ, dỡ bỏ các công trình bà T đã làm trái phép trên đất của bà H gồm: Bếp nấu ăn sát tường hồi nhà gian lồi, chuồng chăn nuôi liền kề bếp và toàn bộ công trình xây dựng bà T mới làm vào đầu tháng 8/2024 trên sân nhà bà H gắn liền với mặt tiền ngôi nhà và thửa đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng bà H và ông Lê Chí T2 tại phần đất hành lang giao thông trước để đảm bảo quyền sở hữu, sử dụng hợp pháp của vợ chồng bà đối với ngôi nhà và đất ở mà vợ chồng bà đã nhận chuyển nhượng của bà T4 và đã được UBND huyện K, tỉnh Hà Tĩnh cấp Giấy CNQSD đất nói trên. Nếu bà T tự nguyện tháo dỡ các công trình đã làm trên đất của bà H thì nguyên đơn sẽ xem xét hỗ trợ kinh phí cho bà Đặng Thị T.

Đối với các cây cối mà ông Trần Xuân T1 đã trồng trên diện tích thửa đất đã cấp cho bà H thì bà đề nghị Tòa án buộc ông T1 di dời, dời dọn, chặt bỏ để trả lại mặt bằng đất cho bà. Trường hợp ông T1 không tự nguyện di dời thì đề nghị Tòa giải quyết cho bà được sở hữu, sử dụng toàn bộ cây cối ông T1 đã trồng nói trên và bà H tự nguyện thanh toán cho vợ chồng ông T1 toàn bộ giá trị cây theo định giá của Hội đồng thẩm định, định giá tài sản. Tại phiên tòa người đại diện theo ủy quyền của bà H có quan điểm đối với 01 cây Mít ông T1 trồng đã lâu gần với tường hồi nhà gian lồi (ở vị trí sát với bếp, chuồng gà) bà H cũng thống nhất như ông T1 là để đó làm kỷ niệm mà không dời dọn, chặt bỏ, do đó nguyên đơn xin rút yêu cầu dời dọn, chặt bỏ đối với cây M.

* Tại đơn phản tố ngày 04/4/2024, đơn phản tố bổ sung ngày 18/6/2024, biên bản lấy lời khai và quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, bị đơn bà Đặng Thị T trình bày: Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị T4 với ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H là vi phạm Bộ luật dân sự năm 1995 tại các Điều: Vi phạm mục 8 Điều 708 Bộ luật dân sự 1995 về quyền của người thứ 3 đối với đất chuyển nhượng nếu có, vi phạm mục 4 Điều 709 Bộ luật dân sự 1995 về “Báo cho bên nhận QSDĐ về quyền của người thứ 3 đối với quyền sử dụng đất được chuyển nhượng, mục 4 Điều 712 Bộ luật dân sự 1995 về “Bảo đảm quyền của người thứ 3 về sử dụng đất”. Ngoài ra đơn xin cấp Giấy CNQSD đất của bà Phan Thị T4 ngày 12/10/2006 ghi ở phần ký tên “Chủ sử dụng đất” là bà Đặng Thị T ký tên; tại kết quả kiểm tra vị trí, kích thước thửa đất ngày 17/01/2007 có ghi “Đất được UNND xã cấp xây nhà tình nghĩa có tháng 5 năm 2002”. Từ đó bà T cho rằng người tạo dựng thửa đất trên từ năm 1977 là bà Đặng Thị T và là chủ thửa đất; trên thửa đất có 01 ngôi nhà tình nghĩa xây từ tháng 5/2002 nhưng tại mục 1.10 hợp đồng chuyển nhượng Quyền sử dụng đất ngày 07/9/2010 giữa bà Phan Thị T4 với vợ chồng ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H tại mục 1.10 ghi “Tài sản trên đất: Không”, như vậy là ngụy tạo không đúng thực tế nên hợp đồng chuyển nhượng QSD đất năm 2010 giữa bà Phan Thị T4 với vợ chông ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H nói trên không có giá trị pháp lý.

Tại đơn phản tố bổ sung bà T trình bày: Nhà tình nghĩa làm từ năm 2002, thửa đất đó bà là chủ đất và trước đó đã đồng ý cho mẹ là bà Phan Thị T4 đứng tên là giấy CNQSD đất. Năm 2010 bà H là em cùng mẹ khác cha (đã có nhà ở tại K, K) làm ăn thua lỗ nên các anh, chị, em bà trên tinh thần thương yêu đùm bọc đã thống nhất viết giấy nhường đất ở và nhà ở là ngôi nhà tình nghĩa trên đất đó cho vợ chồng bà H và để vợ chồng bà H cắm nhà ở đất ở để vay tiền giải quyết khó khăn nhưng sau đó bà H không ở mà đem bán cho người khác mà bà là chủ sử dụng đất. Lúc này mẹ bà là Bà Phan Thị T4, anh trai là Đặng Quốc T6 đã mất nên tôi không cho bán. Do đó bà yêu cầu Tòa án không cho bà H bán thửa đất này.

Quá trình làm việc bà T trình bày bà lấy chồng năm 1984, ra ở riêng tại thôn M một thời gian đến năm 1990 thì chuyển về thị xã K ở với bố mẹ chồng, đến tháng 4/1991 vợ chồng ly thân và bà về ở cùng mẹ đẻ là bà T6, đến năm 1993 bà mua đất gần đó và ra ở riêng cùng hai con và ở tại đó cho đến nay, từ thangs 10/2023 bà sang ở tại nhà mẹ đẻ là bà Phan Thị T4. Bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của Bà H vì nhà bếp bà T4 bằng gỗ bị hư hại nên bà đã làm lại nhà bếp bằng sắt và làm chuồng gà vào năm 2018. Diện tích đất của mẹ bà (Bà T4) đã được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất mang tên mẹ bà là Phan Thị T4 nhưng thửa đất này là của bà vì bà đi làm thủ tục cấp Giấy chứng nhận QSDĐ; và năm 1977 bà và mẹ bà khai hoang và cùng ở tại thửa đất này. Giấy chuyển nhượng nhà ở và đất ở ngày 08/92010 của bà Phan Thị T4 cho vợ chồng bà H có chữ ký của bà và các con bà Phan Thị T4, có xác nhận của thôn, chính quyền địa phương là sự thật nhưng xã chỉ xác nhận chuyển nhượng đất chứ không xác nhận chuyển nhượng nhà vì đó là nhà tình nghĩa và thửa đất đó là cho bà H mượn chứ không bán; hợp đồng chuyển nhượng đất ở ngày 07/9/2010 giữa bà T4 và vợ chồng bà H chỉ chuyển nhượng mỗi đất ở 320m² chứ không chuyển nhượng nhà ở vì mục tài sản trên đất tại hợp đồng chuyển nhương ghi là “Không”. Việc bà T4 ký hợp đồng chuyển nhượng đất cho vợ chồng bà H bà không biết. Tài sản trên đất gồm có 01 ngôi xây nhà cấp 4 là của bà Phan Thị T4 (xây năm 2002), một số cây như mít, chè... là của ông T1 (em rể) trồng, còn bếp, chuồng gà là của bà làm lại (bếp, chuồng gà của bà T4 làm năm 2002 đã bị hư hỏng). Vì vậy, bà T yêu cầu Tòa án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị T4 và vợ chồng ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H; không công nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H và không cho bà Đặng Thị H bán lô đất.

Tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải ngày 20/9/2024 bà T không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của bà H. Bà cho rằng thửa đất 320m² vợ chồng bà H đã được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất là của bà H, bà H muốn làm gì là quyền của bà H, còn nhà của mẹ bà (Bà Phan Thị T4) là nhà tình nghĩa nên để lại đó cho bà, còn đối với các công trình bà mới làm vào tháng 8/2024 gắn với mặt tiền ngôi nhà ở của bà T4 trước đây là bà làm trên đất hành lang giao thông không liên quan gì đến đất bà H đã mua của bà T4 mà bà H đã được cấp quyền sử dụng nên bà không nhất trí tháo dỡ các công trình bà đã làm.

* Bị đơn ông Trần Xuân T1 trình bày: Về nguồn gốc thửa đất mà bà Phan Thị T4 bán cho vợ chồng bà H thì bà T4 tạo lập và ở đó vào khoảng năm 1976-1977 đến năm 1985 thì vợ chồng ông về ở đó còn bà T4 vào nhà cũ của bà ở cùng con trai là Đặng Quốc T6, sau đó ông T1 đi ở chỗ khác và bà T6 quay lại ở đó (lâu rồi nên ông không nhớ rõ thời gian cụ thể) cho đến sau này, năm 2002 bà T6 được xã hỗ trợ xây nhà hiện tại đang còn đó và sau đó được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất cho bà Phan Thị T4 như hồ sơ hiện có. Các cây cối phía sau lưng nhà như kết quả thẩm định gồm khoảng 30-40 cây chè uống nước, 02 cây bưởi, 01 cây chè cao và 01 cây mít ở hồi nhà do ông trồng. Việc mua bán chuyển nhượng đất giữa bà Phan Thị T4 và vợ chồng con gái là Đặng Thị H cụ thể như thế nào thì ông không biết cụ thể. Còn đối với các cây cối phía sau lưng nhà không có giá trị nên bà H muốn dời dọn thì dời dọn chứ ông không dời dọn được vì không có thời gian và công sức. Ông nhất trí cho bà H2 dời dọn các cây cối ông đã trồng đó và không có yêu cầu gì. Riêng cây M ở hồi nhà thì để đó để làm ranh giới. Về việc tranh chấp giữa bà Đặng Thị T và vợ chồng bà H thì đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết, ông không có ý kiến yêu cầu gì.

* Tại phiên tòa Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Đặng Thị H1 trình bày: Về nguồn gốc thửa đất mà bà Phan Thị T4 bán cho vợ chồng bà H thì bà T4 cùng các con tạo lập và ở đó vào khoảng năm 1976 -1977 đến năm 1985 thì vợ chồng bà về ở đó còn bà T4 vào nhà cũ của bà ở cùng con trai là Đặng Quốc T6, sau đó vợ chồng bà đi ở chỗ khác và bà T6 quay lại ở đó cho đến sau này, năm 2002 bà T6 được xã hỗ trợ xây nhà và sau đó được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất cho bà Phan Thị T4 như hồ sơ hiện có. Việc mua bán chuyển nhượng đất giữa bà Phan Thị T4 và vợ chồng con gái là Đặng Thị H cụ thể như thế nào thì bà không biết, bà thừa nhận Giấy chuyển nhượng nhà ở, đất ở năm 2010 giữa bà T4 với ông T2, bà H là có và bà đã ký vào Giấy này, tuy nhiên bà H1 cho rằng không có việc chuyển nhượng đất giữa bà T4 với ông T2, bà H mà là bà T4 cùng các con cho vợ chồng ông T2, bà H mượn thửa đất để vạy tiền trả nợ, thời điểm đó có lập giấy mượn đất nhưng hiện nay bà không biết giấy này ở đâu, bà không có yêu cầu gì đối với thửa đất, nhưng bà muốn giữ lại ngôi nhà tình nghĩa để làm kỹ niệm. Còn đối với các cây cối phía sau lưng nhà do ông T1 trồng bà chấp nhận sự hỗ trợ theo đề nghị của bà H và giao cây cho bà H được quẩn lý. Riêng cây M ở hồi nhà thì để đó để làm kỷ niệm. Về việc tranh chấp giữa bà Đặng Thị T và vợ chồng bà H thì đề nghị Tòa án căn cứ quy định của pháp luật để giải quyết, bà không có ý kiến yêu cầu gì.

* Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan UBND xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh có quan điểm:

- Tại báo cáo số 45/BC-UBND ngày 02/6/2023 của UBND xã L gửi UBND huyện K báo cáo quá trình giải quyết liên quan đến đất hộ ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H và các công văn số 48/UBND ngày 09/9/2024, công văn số 63/UBND ngày 10/10/2024 của UBND xã L gửi TAND tỉnh Hà Tĩnh, quá trình giả quyết vụ án và tại phiên tòa UBND xã L trình bày:

Về nguồn gốc thửa đất bà Phan Thị T4 chuyển nhượng cho vợ chồng con gái là bà Đặng Thị H, ông Lê Chí T2: Năm 1994, bà Phan Thị T4 được cấp đất theo nghị định 64 thửa đất số 359 tờ bản đồ 299 với diện tích 1.100m², Giấy CNQSD đất sô A651726. Thửa đất này bà T4 đã để lại cho vợ chồng con trai là Đặng Quốc T6 sử dụng đến nay, còn bà T6 trước năm 2002 làm một quán bằng gỗ lợp tranh bán bánh lá tại vị trí có ngôi nhà xây hiện nay và ở tại đó. Năm 2002 bà Phan Thị T4 thuộc đối tượng xóa nhà tranh tre dột nát và được nhà nước hỗ trợ khoảng 11.000.000 đồng. Năm 2007, bà Phan Thị T4 được UBND xã K (nay là xã L) xét cấp đất ở với nội dung “Cấp đất xây nhà tình nghĩa” ở vị trí khác (nay là thửa đất đang có tranh chấp) có diện tích 320m² tại thôn M, xã K (nay là thôn M, xã L) và đến ngày 30/12/2007 được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất, số vào sổ H-0016 với diện tích 320m² (đất ở 300m², đất vườn 20m²). Năm 2014 - 2015 do nhà bị xuống cấp nên bà T4 được nhà nước hỗ trợ 2.800.000 đồng để nâng cấp sửa chữa lại nhà ở. Tại thời điểm bà T4 làm nhà năm 2002 và thời điểm bà T4 được cấp Giấy CNQSD năm 2007, toàn bộ con cái của bà T4 đã có gia đình tách ra ở riêng không ai ở chung với bà T4. Vì vậy, năm 2007 chỉ cấp Giấy CNQSD đất cho mỗi mình bà Phan Thị T4 và đó là tài sản riêng của bà Phan Thị T4. Đến năm 2010, bà Phan Thị T4 làm thủ tục chuyển nhượng toàn bộ thửa đất này cho ông Lê Chí T2 và bà Đặng Thị H và được cấp Giấy CNQSD đất số BB 646621 ngày 23/9/2010 mang tên hộ ông bà Lê Chí T2, bà Đặng Thị H. Tại thời điểm chuyển nhượng bà Phan Thị T4 có lập một văn bản viết tay “Giấy chuyển nhượng nhà và đất ở” nội dung ghi rất rõ do bà Phan Thị T4 tuổi cao sức yếu không có thể sử dụng đến sổ đỏ (GCNQSDĐ cấp năm 2007) và nhà ở nên đã thống nhất các con lại và thống nhất chuyển nhượng lại sổ đỏ (Giấy CNQSDĐ) số AL 19427 cấp năm 2007 và nhà ở cho vợ chồng con gái là bà Đặng Thị H và ông Lê Chí T2; toàn bộ các con bà Phan Thị T4 đã nhất trí ký vào văn bản trong đó có bà Đặng Thị T. Văn bản này đã được xác nhận bởi ban cán sự Thôn M cũ và UBND xã K cũ với nội dung “Việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất của gia đình bà Phan Thị T4 là đúng thực tế”. Đến năm 2022, bà H có ý định chuyển nhượng thửa đất trên cho người khác thì bị bà Đặng Thị T phản đối. Ngày 25/4/2022 UBND xã L nhận được đơn kiến nghị của bà T về việc đề nghị các cấp có thẩm quyền không giao dịch mua bán chuyển nhượng QSD đất liên quan đến thửa đất của hộ ông T2, bà H tại thôn M, xã L. Ủy ban nhân dân xã L đã tiến hành kiểm tra, xác minh, tìm hiểu nguyên nhân phát sinh tranh chấp, thu thập giấy tờ tài liệu có liên quan do các bên cung cấp về nguồn gốc đất, hiện trạng sử dụng đất và sau đó đã phối hợp với UBND huyện K và các phòng ban liên quan tổ chức 09 cuộc hòa giải giữa hai bên nhưng không thành.

Tính đến thời điểm năm 2023 bà Đặng Thị T đã xây dựng một số công trình trên thửa đất của ông T2, bà H như chuồng chăn nuôi gà lợn, rạp nắng, rạp nấu ăn và trồng một số cây ăn quả khi chưa được sự đồng ý của bà Đặng Thị H, ông Lê Chí T2. Ông Lê Chí T2 và bà Đặng Thị H đã nhiều lần yêu cầu bà Đặng Thị T tháo dỡ di dời các công trình trái phép nhưng bà T không thực hiện. Đến ngày 02/8/2024, bà T tiếp tục xây dựng thêm các công trình trái phép trước mặt và gắn với ngôi nhà (như hàn thêm các thanh sắt xà gồ, làm mái che lợp tôn xốp, nền bê tông, thưng phòng ở....) của bà T4 chuyển nhượng cho bà H. Do thửa đất đang tranh chấp nên UBND xã L đã lập biên bản và ban hành thông báo số 45 ngày 05/8/2024 về việc đình chỉ các hoạt động xây dựng của bà T trên thửa đất đang tranh chấp nhưng bà T không chấp hành.

Đối với hồ sơ cấp Giấy CNQSDĐ lần đầu năm 2007 cho bà Phan Thị T4 tại thôn M, xã K (nay là thôn M, xã L) là đảm bảo đúng quy trình quy định của pháp luật về đất đai. Thửa đất này thuộc quyền sở hữu riêng của bà Phan Thị T4 được cơ quan có thẩm quyền thừa nhận và được cấp Giấy CNQSD đất theo quy định của pháp luật nên bà T4 có quyền chuyển nhượng QSD đất đối với thửa đất này.

Đối với hồ sơ chuyển nhượng QSD giữa bà T4 và vợ chồng bà H: Hợp đồng chuyển nhượng đã được hai bên ký đúng thực tế, đúng quy định pháp luật và được UBND xã K cũ xác nhận đầy đủ, có sơ đồ vị trí đất kèm theo đúng với thực tế và hiện trạng sử dụng đất được thực hiện đúng pháp luật. Kèm theo hợp đồng chuyển nhượng có giấy mua bán nhà và đất ở có đầy đủ chữ ký của các con bà T4 và được chứng thực của UBND xã K cũ. Do đó Ông Lê Chí T2 bà Đăng Thị H3 là chủ sử dụng đất hợp pháp thửa đất trên nên được phép sử dụng phần hành lang giao thông và không được gây cản trở cho việc bảo vệ an toàn công trình đường bộ theo quy định tại khoản 3 điều 157 Luật đất đai năm 2013.

Đối với việc bà T tự ý xây dựng các công trình trên thửa đất đang có tranh chấp là hoàn toàn sai trái. Do đó UBND xã L Tòa án xem xét giải quyết theo đúng quy định của pháp luật

- Tại Văn bản số 1895/UBND-TNMT ngày 06/9/2024 UBND huyện K trình bày: Nguồn gốc thửa đất, quá trình cấp giấy CNQSDD cho bà T4, sau này cấp cho ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H như ý kiến của UBND xã L. Hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất cho bà Phan Thị T4, hồ sơ cấp đất cho bà Đặng Thị H, ông Lê Chí T2 được xây dựng và được UBND huyện K cấp Giấy CNQS đất là đúng quy định theo Bộ thủ tục hành chính của UBND tỉnh H tại QĐ số 20//2009/QĐ-UBND ngày 17/7/2009. Trường hợp có căn cứ xác định hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất không đúng pháp luật thì đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

* Kết quả thẩm định, định giá tài sản: Qua xem xét, thẩm định tại chỗ, diện tích thửa đất số 00, tờ bản đồ (trích đo) có tăng 5,6m² so với diện tích thửa đất theo Giấy CNQSDĐ số BB646621 do UBND huyện K cấp ngày 23/9/2010 cho ông Lê Chí T2 và bà Đặng Thị H do có sai số về đo đạc. Phía Nam thửa đất giáp hành lang Quốc lộ A, các phía Bắc, Đ, T7 thửa đất đều giáp đất dân cư.

Trên thửa đất có hiện trạng cụ thể như sau:

  1. Một căn nhà cũ cấp bốn, một tầng xây dựng từ năm 2001- 2002, tường chịu lực, xây gạch đặc, lợp ngói, hệ thống xà gồ gỗ, nền láng xi măng có diện tích 34,09m² (trong đó phần nằm trong thửa đất là 22,89m², phần nằm trên hành lang giao thông là 11,2m²). Căn nhà này đã được bà T4 bán cho bà H.
  2. Một khoảng đất có diện tích 26,98m² láng nền xi măng, dựng khung sắt, quây xung quanh là lợp mái che bằng phia-rô xi măng do bà T làm (trong đó phần nằm trong thửa đất là 21,93m², phần nằm trên hành lang giao thông là 5,05m²).
  3. Nằm cạnh ngôi nhà cũ có một chuồng nuôi gia súc nền đất, khung gỗ sắt, quây bằng lưới B40 và ngói phia-rô xi măng do bà T làm có diện tích 10,3m².
  4. Phía sau căn nhà cũ nằm trong diện tích thửa đất có 01 cây mít có đường kính (d)>20cm; 01 cây bưởi to d>20-25cm; 01 cây bưởi nhỏ d=<10cm; 01 cây xoan đâu d xấp xỉ 15cm; 01 cây chè lâu năm d xấp xỉ 10cm; 10 cây chuối trưởng thành, 30 cây chè nhỏ. Tất cả các loại cây trồng này đều do vợ chồng ông T1 bà H1 (là con gái và con rể của bà T4) trồng.
  5. Liên kết với căn nhà cũ, về phía trước ngôi nhà, nằm trên hành lang giao thông có hệ thống mái che khung sắt, gỗ, hàng rào quây bằng tôn và lưới B40, lợp bằng ngói phia-rô; có một phần hàng rào xây gạch chiều dài 9,96m, cao 0,7m; nền láng xi măng có diện tích 52,65m². Liên kết với hàng rào có cổng làm bằng khung thép ống, đan lưới B40, có chiều dài 2,2m, chiều rộng 3,6. Liên kết với căn nhà cũ có 01 căn nhà kiểu lắp ghép kết cấu nhẹ, khung sắt, tường thưng bằng nhựa, lợp ngói phia-ro, nền xi măng có diện tích 19,33m². Các tài sản này đều do bà T xây dựng.

Theo kết quả định giá, tổng giá trị thửa đất là 399.535.160 đồng; tổng toàn bộ tài sản trên có giá trị 167.640.113 đồng; cụ thể:

* Về giá đất:

Giá đất ở: 1.328.000 đồng/m², giá đất trồng cây lâu năm: 48.100 đồng/m².

Tổng giá trị thửa đất là: 1.328.000 x 300 + 48.100 x23,6 = 399.535.160 đồng.

* Về giá tài sản:

  1. Nhà cũ xây từ năm 2001: diện tích 34,09m²; đơn giá: 3.533.000 đồng/m²
  2. Giá trị chưa khấu hao: 3.533.000 x 34,09 = 120.439.970 đồng.

    Giá trị sau khấu hao (30%): 36.131.991 đồng.

  3. Nhà mới: Diện tích 19,33m²; đơn giá: 3.713.000 đồng.
  4. Giá trị: 3.713.000 x 19,33 = 71.772.290 đồng.

  5. Nền láng xi măng trong và ngoài nhà: diện tích 79,63m²; đơn giá 130.000 đồng/m².
  6. Giá trị: 130.000 x 79,63 = 10.351.900 đồng.

  7. Hệ thống mái che: diện tích 52,65m²; đơn giá 394.000 đồng/m²
  8. Giá trị: 394.000 x 52,65 = 20.744.100 đồng.

  9. Cổng: Kích thước 2,2mx3,6m; đơn giá 362.000 đồng/m².
  10. Giá trị: 362.000 x 2,2 x 3,6 = 2.867.040 đồng.

  11. Hàng rào lưới B40: giá trị: 3.598.152 đồng.
  12. Hàng rào xây, giá trị: 6.314.640 đồng.
  13. Các loại cây:
  14. 01 cây mít có đường kính (d)>20cm giá trị 3.200.000 đồng; 01 cây bưởi to d>20-25cm giá trị 8.530.000 đồng; 01 cây bưởi nhỏ d=<10cm giá trị 2.650.000 đồng; 01 cây xoan đâu d xấp xỉ 15cm giá trị: 24.000 đồng; 01 cây chè lâu năm d xấp xỉ 10cm giá trị: 65.000 đồng; 10 cây chuối trưởng thành tổng giá trị: 500.000 đồng; 30 cây chè nhỏ tổng giá trị: 900.000 đồng.

    Tổng giá trị cây trồng: 15.869.000 đồng

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh phát biểu quan điểm về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký đúng quy định của pháp luật. Việc chấp hành pháp luật của nguyên đơn, bị đơn, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan kể từ khi thụ lý vụ án đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án không có gì sai phạm. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan phía bị đơn, quá trình làm việc không chấp hành thông báo làm việc của Tòa án, nhưng Tòa án đã tiến hành phối hợp với chính quyền địa phương trực tiêp đến nơi cư trú lấy lời khai theo quy định của pháp luật.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đề nghị HĐXX căn cứ: Khoản 2 Điều 26; khoản 3 điều 35; điểm a, khoản 1 Điều 37, khoản 1 điều 147, điều 227, 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 164, 195, 197, 388, 389, 402, 405, 428, 429, 439, 450, 697, 698, 702 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 158, 159, 163, 164, 169, 186, 189, 248, 254, 267, 268, 269, 271 Bộ luật dân sự năm 2015; Điều 105, 106 Luật Đất đai năm 2003; khoản 3 Điều 157, 166, 203 Luật đất đai năm 2013; khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 2 Luật người cao tuổi; Điều 12, Điều 14, Điều 15; khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của UBTV Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị H:
    1. Buộc bà Đặng Thị T chấm dứt mọi hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở đối với thửa đất và nhà ở mà bà H ông T2 đã nhận chuyển nhượng từ bà Phan Thị T4 và đã được UBND huyện K cấp GCNQSD đất số BB 646621 ngày 23/9/2010 mang tên ông Lê Chí T2 và bà Đặng Thị H.
    2. Buộc bà Đặng Thị T tháo dỡ, di dời hoặc phá bỏ các công trình đã xây dựng trái phép gắn liền với mặt tiền ngôi nhà và đất ở thuộc quyền sở hữu của bà Đặng Thị H và ông Lê Chí T2 gồm bếp, chuồng chăn nuôi và toàn bộ phần xây dựng gắn liền với mặt trước ngôi nhà và đất của bà H và các tài sản khác của bà T làm trên thửa đất của bà H .
    3. Chấp nhận sự tự nguyện của bà Đặng Thị H thanh toán cho vợ chồng ông Trần Xuân T1, bà Đặng Thị H1 giá trị các cây mà ông T1 đã trồng trên thửa đất mà bà H nhận chuyển nhượng của bà T4 nói trên: Tổng số tiền bà H đưa lại cho ông T1, bà H1 là: 12.669.000 đồng. Đồng thời giao toàn bộ số cây trồng của ông T1 cho bà H4 được quản lý, sử dụng, trừ cây Mít.
    4. Đình chỉ yêu cầu khởi kiện của Bà Đặng Thị H về việc yêu cầu ông Trần Văn T8 di dời, phá bỏ cây Mít.
  2. Các bên đương sự phải chịu án phí, chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

  1. Về trình tự tố tụng:
  2. Nguyên đơn bà Đặng Thị H khởi kiện với nội dung: Buộc bà Đặng Thị T chấm dứt mọi hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở đối với thửa đất và nhà ở mà bà H, ông T2 đã nhận chuyển nhượng từ bà Phan Thị T4 và đã được UBND huyện K cấp Giấy CNQS đất số BB 646621 ngày 23/9/2010 mang tên ông Lê Chí T2 và bà Đặng Thị H ; Buộc bà Đặng Thị T tháo dỡ, di dời hoặc phá bỏ các công trình đã xây dựng trái phép gắn liền với mặt tiền ngôi nhà và đất ở thuộc quyền sở hữu của bà Đặng Thị H và ông Lê Chí T2 và yêu cầu xử lý cây cối của người liên quan là ông Trần Xuân T1 đã trồng trên đất của bà. Tranh chấp đã được chính quyền địa phương hòa giải nhiều lần nhưng không có kết quả. Bà Đặng Thị T có đơn phản tố cho rằng hợp đồng chuyển nhượng đất của bà T4 cho bà H không đúng quy định của pháp luật nên bà H không có quyền đối với thửa đất đã nhận chuyển nhượng của bà T4, công trình bà xây dựng nằm trên đất hành lang giao thông không nằm trên đất bà H được cấp Giấy CNQSD đất nên không đồng ý tháo dỡ, dời dọn các tài sản công trình bà đã làm tại thửa đất đó. Trước và trong quá trình thụ lý, giải quyết vụ án vụ án người liên quan Ông Lê Chí T2 (chồng bà Đặng Thị H) đang sống làm việc tại Ănggôla. Ông T2, bà H đều có Giấy ủy quyền hợp lệ cho bà Võ Thị Hồng N tham gia giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật. Ngày 29/3/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã thụ lý, giải quyết vụ án và ngày 12/7/2024 thụ lý yêu cầu phản tố của bị đơn theo đúng thẩm quyền và trình tự thủ tục tố tụng quy định tại khoản 2 Điều 26, khoản 3 điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 37 Bộ luật tố tụng dân sự.

    Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tiến hành lấy lời khai các đương sự, thu thập các tài liệu chứng cứ, tiến hành thẩm định, định giá, công khai chứng cứ, hòa giải theo quy định. Ngày 20/9/2024, Tòa án nhân dân tỉnh Hà Tĩnh đã ban hành quyết định đưa vụ án ra xét xử ấn định mở phiên tòa sơ thẩm vào ngày 30/9/2024. Tuy nhiên, tại phiên tòa mở ngày 30/9/2024, nguyên đơn có đơn xin hoãn phiên tòa vì vậy, phiên tòa được mở lại vào ngày 18/10/2024.

    Tại phiên tòa ngày 18/10/2024 vắng mặt nguyên đơn, bị đơn ông Trần Văn T8 và một số người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan, xét thấy: Đây là phiên tòa được mở lần thứ hai, Tòa án đã thực hiện việc tống đạt văn bản tố tụng hợp lệ đối với các đương sự; nguyên đơn và một số người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt nhưng đã có văn bản có ủy quyền cho người đại diện. Tại phiên tòa các đương sự có mặt và đại diện Viên kiểm sát đều có quan điểm đề nghị Hội đồng xét xử tiếp tục xét xử vụ án. Căn cứ quy định tại khoản 1, khoản 2 Điều 227 Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án.

  3. Về nội dung:
    1. Về khởi kiện của bà Đặng Thị H yêu cầu Tòa án buộc bà Đặng Thị H1 chấm dứt mọi hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở hợp pháp của bà Đặng Thị H đối với thửa đất và ngôi nhà mà bà H đã mua lại của bà Phan Thị T4 tại thôn M, xã L huyện K, Hà Tĩnh; Buộc bà Đặng Thị T dời dọn, tháo dỡ, phá bỏ các công trình bà T đã làm trái phép trên đất của bà H gồm: Bếp nấu ăn sát tường hồi nhà gian lồi, chuồng chăn nuôi liền kề bếp và toàn bộ công trình xây dựng bà T mới làm vào đầu tháng 8/2024 trên sân nhà bà H gắn liền với mặt tiền ngôi nhà và thửa đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng bà H và ông Lê Chí T2 và yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị T cho rằng thửa đất của bà Phan Thị T4 là của bà, hợp đồng chuyển nhường QSDĐ giữa bà T4 và bà H ông T2 là không đúng pháp luật và không có giá trị pháp lý.
      1. Xét về nguồn gốc thửa đất, quá trình sử dụng đất, cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất của thửa đất được cấp cho bà Phan Thị T4 và năm 2010 bà Phan Thị T4 chuyển nhượng lại cho vợ chồng bà Đặng Thị H, ông Lê chí T2.
      2. Căn cứ các tài liệu có tại hồ sơ, lời khai của các bên đương sự, người liên quan, hồ sơ cấp Gấy CNQSD đất của bà PhanThị T4 và bà Đặng Thị H, ông Lê Chí T2 và quan điểm của UBND xã L, UBND huyện K thể hiện: Năm 1994, bà Phan Thị T4 được cấp đất theo Nghị định 64 thửa đất số 359 tờ bản đồ 299 với diện tích 1.100m², Giấy CNQSD đất số A651726. Thửa đất này bà T4 đã để lại cho vợ chồng con trai là Đặng Quốc T6 sử dụng đến nay, còn bà T6 ra ở tại vị đất hiện nay đang có tranh chấp. Trước năm 2002 bà T6 làm một quán bằng gỗ lợp tranh bán bánh lá tại vị trí có ngôi nhà xây hiện nay và ở tại đó. Năm 2002 bà Phan Thị T4 thuộc đối tượng xóa nhà tranh tre dột nát và được nhà nước hỗ trợ khoảng 11.000.000 đồng. Ngày 12/10/2006 bà Phan Thị T4 làm đơn xin cấp Giấy CNQSDĐ đất và các thủ tục kèm theo theo đúng quy định của pháp luật. Năm 2007, bà Phan Thị T4 được UBND xã K (nay là xã L) xét cấp đất ở với nội dung “Cấp đất xây nhà tình nghĩa” ở vị trí đang ở (nay là thửa đất đang có tranh chấp) có diện tích 320m² tại thôn M, xã K (nay là thôn M, xã L) và đến 30/12/2007 được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất, số vào sổ H-0016 với diện tích 320m² (đất ở 300m², đất vườn 20m²). Theo UBND xã L thì tại thời điểm cấp Giấy CNQSD đất chỉ có sơ đồ đo bằng thủ công, không có số tờ, số thửa, đối chiếu với vị trí theo sơ đồ đo, vẽ thì phù hợp với vị trí thửa đất hiện tại. Sau khi được cấp Giấy CNQSD đất, bà Phan Thị T4 tiếp tục sử dụng ổn định thửa đất này. Việc cấp Giấy CNQSD đất của UBND huyện K cho bà Phan Thị T4 đối với thửa đất nói trên là đúng thủ tục, trình tự quy định của Nhà nước về đất đai và bà T4 sử dụng ổn định, không có tranh chấp với ai.

        Việc bà T cho rằng bà T và mẹ là bà T4 khai hoang năm 1977 (lúc đó bà T mới 15 tuổi, đang đi học) và tại Đơn xin cấp đất ghi tên người xin cấp đất là bà Phan Thị T4 nhưng dưới phần ký tên thể hiện “Con gái Đặng Thị T” và tại bản kết quả kiểm tra vị trí, kích thước thửa đất tại phần chủ sử dụng đất ký tên thể hiện “Con gái Đặng Thị T” để cho rằng thửa đất đã được UBND huyện K cấp cho bà Phan Thị T4 là của bà (Thuấn) chứ không phải của bà Phan Thị T4, Hội đồng xét xử xét thấy: Đối tượng xin cấp đất và được xét cấp đất là bà Phan Thị T4 chứ không phải bà Đặng Thị T. Tại hồ sơ cấp đất có đơn đề nghị cấp đất ngày 12/10/2006 ghi rõ người làm đơn và ký tên là Phan Thị T4. Tại biên bản làm việc ngày 16/9/2024 và tại phiên tòa UBND xã L cũng khẳng định việc bà Đặng Thị T ký “Con gái Đặng Thị T” tại 01 đơn xin cấp đất và tại bản kiểm tra vị trí, kích thước đất là ký thay mẹ là bà Phan Thị T4 với tư cách là con gái bà T4 chứ không phải với tư cách là người làm đơn hay chủ sử dụng đất; mặt khác tại thời điểm này bà T đã lập gia đình và ở riêng và khi cấp Giấy CNQSD đất năm 2007 cho bà Phan Thị T4 là cấp mới và cấp lần đầu và cấp sau khi bà T4 đã xây nhà ở nên cấp phía sau mốc chỉ giới hành lang giao thông tỉnh lộ 12 (Đường V - Lào) cách tim đường 15m (Năm 2002 khi bà T4 làm nhà thì lúc đó con đường trước nhà bà T4 còn là tỉnh lộ 10 có chỉ giới giao thông tính tim đường chỉ là 10m). Do vậy sau khi tỉnh lộ 10 nâng cấp lên tỉnh lộ 12 và có chỉ giới hành lang giao thông là 15m (tính từ tim đường) thì một phần phía trước ngôi nhà bà T4 nằm trên chỉ giới hành lang giao thông tỉnh lộ 12). Quá trình giải quyết vụ án Bà T cũng thừa nhận bà lập gia đình năm 1984 và mua đất ở gần nhà bà T4 vào năm 1993. Tại công văn số 63 ngày 10/10/2024 và tại phiên tòa UBND xã L cũng khẳng định: Tại thời điểm bà T4 làm nhà năm 2002 và thời điểm bà T4 được cấp Giấy CNQSD đất năm 2007, toàn bộ con cái của bà T4 đã lập gia đình tách ra ở riêng, không ai ở chung với bà T4. Vì vậy, năm 2007 chỉ cấp Giấy CNQSD đất cho mỗi mình bà Phan Thị T4 và đó là tài sản riêng của bà Phan Thị T4. Do đó lời nại của bà T nói trên là không có cơ sở và không được chấp nhận đồng thời có căn cứ khẳng định hồ sơ cấp Giấy CNQSD đất năm 2007 cho bà Phan Thị T4 là hợp pháp, đúng quy định của Luật Đất đai năm 2003 và thửa đất đã được cấp cho bà T4 nói trên là tài sản riêng của bà Phan Thị T4, bà Phan Thị T4 có toàn quyền sở hữu, sử dụng, định đoạt đối với thửa đất này theo quy định tại các Điều 105 và 106 luật đất đai năm 2003.

        Đối với ngôi nhà ở của bà Phan Thị T4 xây dựng năm 2002 trên thửa đất được cấp: Quá trình giải quyết vụ án các đương sự đều có lời khai trước đó là nhà tranh, nhà được xây dựng năm 2002 từ các nguồn tiền gồm tiền hỗ trợ của nhà nước, tiền cho của con trai (anh T4 cho 01 con bò bán lấy tiền để làm nhà) và tiền của bà Phan Thị T4. Sau khi xây nhà bà T4 ở đó cho đến khoảng năm 2016 khi ốm nặng thì vào tại gia đình con trai ông Đặng Quốc T6. Tại công văn số 63 ngày 10/10/2024 và tại phiên tòa UBND xã L xác định: Trước năm 2002 bà T6 làm một quán bằng gỗ lợp tranh bán bánh lá tại vị trí có ngôi nhà xây hiện nay và ở tại đó. Năm 2002 bà Phan Thị T4 thuộc đối tượng xóa nhà tranh tre dột nát và được nhà nước hỗ trợ khoảng 11.000.000 đồng; để hưởng và để không mất chế độ này ông T8 con rể bà T4 đã cắt cho bà T4 một phần đất mà ông khai hoang tại vị trí ngôi nhà quán của bà T4 để xây nhà ngôi nhà đang có hiện nay. Năm 2014 -2015 do nhà bị xuống cấp nên bà T4 được nhà nước hỗ trợ 2.800.000 đồng để nâng cấp sửa chữa lại nhà ở (Theo chính quyền địa phương đây không phải là nhà tình nghĩa vì nhà tình nghĩa việc xây dựng phải đầy đủ thủ tục trọn gói, bàn giao biển...). Tại thời điểm bà T4 làm nhà năm 2002 và thời điểm bà T4 được cấp Giấy CNQS đất năm 2007, toàn bộ con cái của bà T4 đã lập gia đình tách ra ở riêng không ai ở chung với bà T4. Bà T4 ở tại ngôi nhà đó cho đến năm 2010 thì chuyển nhượng lại toàn bộ đất ở và ngôi nhà ở trên đất này cho bà H và bà T4 tiếp tục ở đó cho đến khoảng năm 2016, do già yếu bệnh tật nên chuyển vào ở tại nhà con trai ở và mất tại đó. Như vậy, nhà ở của bà T4 xây dựng năm 2002 trên thửa đất được cấp Giấy CNQSD đất năm 2007 mang tên bà Phan Thị T4 đều là tài sản thuộc sở hữu riêng của bà Phan Thị T4. Bà Phan Thị T4 có quyền chiếm hữu, sử dụng, định đoạt đối với các tài sản là nhà ở đất ở đã được cấp cho bà theo quy định của pháp luật dân sự về sở hữu và quy định của Luật đất đai về quyền của người sử dụng đất.

      3. Xét hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và nhà ở giữa bà Phan Thị T4 và vợ chồng ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H.
      4. Ngày 07/9/2010 bà Phan Thị T4 và vợ chồng con gái là bà Đặng Thị H, ông Lê Chí T2 ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất với giá 30.000.000 đồng có xác nhận của chính quyền địa phương. Ngoài ra còn có giấy chuyện nhượng viết tay về chuyển nhượng nhà ở đất ở của bà T4 cho vợ chồng bà H có sự chứng kiến, ký tên của các con bà T4 trong đó có bà T và có xác nhận ngày 08/9/2010 của thôn và UBND xã K cũ. Trên cơ sở hợp đồng chuyển nhượng đó UBND huyện K đã cấp Giấy CNQSD đất số BB646621 ngày 23/9/2010 mang tên ông Lê Chí T2 và bà Đặng Thị H.

        Xét thấy hợp đồng chuyển nhượng QSDĐ giữa bà T4 và bà H nói trên được hai bên ký hoàn toàn tự nguyện, đúng pháp luật, có xác nhận của chính quyền địa phương, có sơ đồ vị trí đất kèm theo đúng với thực tế và hiện trạng sử dụng đất, được thực hiện đúng pháp luật. Tại thời điểm chuyển nhượng bà Phan Thị T4 có lập một văn bản viết tay “Giấy chuyển nhượng nhà và đất ở” nội dung ghi rất rõ do bà Phan Thị T4 tuổi cao sức yếu không có thể sử dụng đến sổ đỏ (GCNQSDĐ cấp năm 2007) và nhà ở nên đã thống nhất các con lại và thống nhất chuyển nhượng lại sổ đỏ (Giấy CNQSDĐ) số AL19427 cấp năm 2007 và nhà ở cho vợ chồng con gái là bà Đặng Thị H và ông Lê Chí T2; các con bà Phan Thị T4 đã nhất trí ký vào văn bản trong đó có bà Đặng Thị T, có xác nhận của Thôn M (cũ) và UBND xã K (cũ). Bà T cũng thừa nhận hợp đồng chuyển nhượng và “Giấy chuyển nhượng nhà và đất ở” viết tay là có thực và bà có ký tên vào giấy chuyển nhượng viết tay đó.

        Như vậy, có căn cứ để khẳng định thửa đất bà Phan Thị T4 được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất ngày 30/12/2007 và ngôi nhà bà T4 xây dựng năm 2002 là thuộc quyền sở hữu riêng của bà Phan Thị T4, đã được cơ quan có thẩm quyền thừa nhận và được cấp GCNQSDĐ theo quy định của pháp luật nên bà T4 có toàn quyền định đoạt, chuyển nhượng QSD đất đối với thửa đất và ngôi nhà này cho bà H, ông T2 theo quy định tại Điều 164, 195, 197 Bộ luật dân sự năm 2005. Việc bà T4 chuyển nhượng nhà ở cho bà H đã thể hiện rõ tại văn bản “Giấy chuyển nhượng nhà và đất ở” nói tern, do đó việc ghi “Không” tại mục 1.10 “Tài sản gắn liền với đất” tại hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà T4 và bà H không ảnh hưởng gì đến giá trị pháp lý của hợp đồng đã ký kết giữ hai bên. Vì vậy, hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà T4 với bà H và văn bản “Giấy chuyển nhượng nhà và đất ở” bà T4 lập nói trên là đúng pháp luật, phù hợp quy định tại các Điều 105, 106 Luật đất đai năm 2003 và các Điều 388, 389, 402, 405, 428, 429, 439, 450, 697, 698, 702 Bộ luật dân sự năm 2005. Ủy ban nhân huyện K và UBND xã L, huyện K cũng khẳng định điều này. Do đó việc UBND huyện K đã cấp Giấy CNQSD đất số BB646621 ngày 23/9/2010 mang tên ông Lê Chí T2 và bà Đặng Thị H là hợp pháp, đúng trình tự, thủ tục pháp luật nhà nước về đất đai. Mặt khác tại phiên họp công khai chứng cứ và hòa giải tai Tòa án, bà T cũng thừa nhận thửa đất bà T4 chuyển nhượng cho bà H và được UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất cho bà H, ông T2 là tài sản của bà H, ông T2; bà H, ông T2 sử dụng, định đoạt như thế nào thửa đất đó là quyền bà H và ông T2. Vì vậy, việc bà T có yêu cầu phản tố cho rằng hợp đồng chuyển nhượng QSD đất giữa bà T4 với ông T2, bà H là không có giá trị pháp lý vì các lý do đó là đất của bà, bà không biết việc UBND huyện K cấp Giấy CNQSD đất cho bà H, ông T2 nên vi phạm quyền lợi của người thứ ba đồng thời viện dẫn các điều luật của Bộ luật dân sự năm 1995 để làm căn cứ, ngoài ra tại hợp đồng chuyển nhượng phần tài sản trên đất ghi “Không” là gian dối, không đúng thực tế vì trên đất còn có ngôi nhà hai gian của bà T4 xây năm 2002 là không có căn cứ để HĐXX chấp nhận.

      5. Về yêu cầu khởi kiện nguyên đơn:
      6. - Xét yêu cầu của nguyên đơn đối với bị đơn Đặng Thị H1: Ông Lê Chí T2 bà Đặng Thị H là chủ sử dụng đất hợp pháp thửa đất và ngôi nhà xây hai gian mà ông bà nhận chuyển nhượng lại từ bà Phan Thị T4 nói trên nên được phép sử dụng phần hành lang giao thông và không được gây cản trở cho việc bảo vệ an toàn công trình đường bộ theo quy định tại khoản 3 Điều 157 Luật đất đai năm 2013. Việc năm 2018 bà T đã tự ý thưng bếp, làm chuồng gà trên đất của bà H, ông T2 khi chưa được sự đồng ý của bà H, ông T2 là trái pháp luật. Ngày 02/8/2024 khi vụ án đang được Tòa án giải quyết, bà T tiếp tục tự ý thuê người xây dựng và làm các công trình như mái che, phòng ngủ, hàng rào gắn với mái che xung quanh sân nối với mái che, cổng và các kèo sắt của công trình này được hàn, gắn trực tiếp vào tường nhà của bà H. Ủy ban nhân dân xã L đã làm việc và có Thông báo số 45/TB-UBND ngày 05/8/2024 gửi bà T về việc đình chỉ các hoạt động xây dựng các công trình của bà T trên đất của hộ ông T2, bà H tại thôn M, xã L nhưng bà T không chấp hành. Các công trình bà T đã làm vào ngày 02/8/2024 đã bịt kín toàn bộ mặt tiền ngôi nhà và chiều rộng đất phía trước của ông T2, bà H đã làm cản trở, xâm hại và ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền sở hữu, quyền sử dụng đất, nhà ở hợp pháp, quyền có lối đi, quyền về không gian, bề mặt đối với tài sản của nguyên đơn được quy định tại các Điều 158, 159, 163, 164, 169, 186, 189, 248, 254, 267, 268, 269, 271 Bộ luật dân sự năm 2015 và khoản 3 điều 157, Điều 166 Luật Đất đai 2013. Vì vậy, việc bà Đặng Thị T cho rằng bà làm và xây dựng các công trình nói trên là làm trên đất hành lang giao thông chứ không liên quan gì đến thửa đất của bà H vì theo Giấy CNQSD đất mà UBND huyện K cấp cho bà H thì đất bà H được cấp Giấy chứng nhận có vị trí mặt tiền tính từ chỉ giới mốc hành lang giao thông hiện tại kéo dài ra phía sau là hoàn toàn không có cơ sở chấp nhận (mâu thuẫn với đơn phản tố cho rằng đất bà T4 chuyển nhượng cho bà họa là đất của bà T). Do đó bà Đặng Thị H khởi kiện yêu cầu Tòa án buộc bà Đặng Thị T chấm dứt mọi hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở hợp pháp của bà Đặng Thị H đối với thửa đất và ngôi nhà mà bà H đã mua lại của bà Phan Thị T4 tại thôn M, xã L huyện K, tỉnh Hà Tĩnh; Buộc bà Đặng Thị T dời dọn, tháo dỡ, phá bỏ các công trình bà T đã làm trái phép trên đất của bà H gồm: Bếp nấu ăn sát tường hồi nhà gian lồi, chuồng chăn nuôi liền kề bếp và toàn bộ công trình xây dựng bà T mới làm vào đầu tháng 8/2024 trên sân nhà bà H gắn liền với mặt tiền ngôi nhà và thửa đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng bà H và ông Lê Chí T2 là có căn cứ cần được chấp nhận.

        Đối với các cây cối của ông Trần Xuân T1, bà Đặng Thị H1 đã trồng trên đất của bà H ông T:

        Quá trình giải quyết vụ án cũng như kết quả thẩm, định giá đã xác định trên thửa đất bà H nhận chuyển nhượng lại từ bà T4 hiện nay có một số cây ăn quả, cây lưu niên do ông T1 trồng trước đây gồm: 01 cây mít có đường kính (d)>20cm, 01 cây bưởi to d>20-25cm, 01 cây bưởi nhỏ d=<10cm, 01 cây xoan đâu (d) xấp xỉ 15cm, 01 cây chè lâu năm (d) xấp xỉ 10cm, 10 cây chuối trưởng thành, 30 cây chè nhỏ. Các cây này là tài sản thuộc quyền sở hữu của vợ chồng ông T1, bà H1. Nay bà H yêu cầu ông T1 bà H1 di dời các cây cối nói trên để trả mặt bằng đất cho bà H. Ông T1 nhất trí di dời dọn các cây cối đó trừ 01 cây mít (sát hồi nhà bà T4 trước đây) ông trồng từ năm 1985 thì ông đề nghị để lại để làm ranh giới. Ông đề nghị bà H tự dời dọn số cây cối đó vì ông không có công sức và thời gian đồng thời ông không có ý kiến hay yêu cầu gì đối với số cây cối phải di dời và việc việc di dời, dời dọn các cây cối đó.

        Xét thấy, thửa đất này thuộc quyền sử dụng của bà H nên việc bà H yêu cầu vợ chồng ông Trần Xuân T1, bà Đặng Thị H1 dời dọn, di dời, chặt bỏ các cây cối để trả mặt bằng đất cho bà sử dụng là phù hợp với quy định của pháp luật. Tuy ông T1 không có ý kiến hay yêu cầu gì về việc di dời số cây cối đó và đồng ý bà H tự dời dọn, nên bà H có đề nghị thay vì chặt bỏ, di dời số cây cối đó thì giao tất cả số cây cối mà ông T1 đã trồng trước đó trên đất của bà cho bà H sở hữu và bà H tự nguyện thanh toán lại cho ông T1, bà H1 giá trị số cây đó theo giá mà hội đồng định giá đã định giá; riêng đối với cây mít tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn nhất trí để lại làm kỷ niệm không yêu cầu dời dọn. Tổng số tiền bà H tự nguyên thanh toán cho ông T1, bà H1 là 12.669.000 đồng. Xét đề nghị của bà H là hoàn toàn tự nguyện, phù hợp, đảm bảo được quyền lợi của ông T1, bà H1, tiết kiệm được thời gian công sức và thuận lợi cho công tác thi hành án sau này, tại phiên Tòa bà Đặng Thị H1 (vợ ông T1) cũng nhất trí với đề nghị của bà H nên Hội đồng xét xử chấp nhận đề nghị của bà H. Theo đó giao cho bà H được quyền sở hữu tất cả số cây (trừ cây Mít) mà ông T1 đã trồng trên đất bà H và bà H có trách nhiệm thanh toán cho ông Trần Xuân T1, bà Đặng Thị H1 giá trị các cây cối đó theo kết quả của hội đồng định giá với tổng số tiền là 12.669.000 đồng.

        Đối với yêu cầu dời dọn 01 cây Mít: Tại phiên tòa đại diện của nguyên đơn rút yêu cầu về việc dời dọn cây Mít, nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự đình chỉ việc xét xử đối với yêu cầu này.

  4. Về chi phí tố tụng:
  5. Tại phiên tòa người đại diện của nguyên đơn đề nghị nguyên đơn tự nguyện chịu chi phí thẩm định, định giá tài sản, xét đây là sự tự nguyện của nguyên đơn nên Hội đồng xét xử chấp nhận. Số tiền chi phí thẩm định, định giá tài sản nguyên đơn đã nộp đầy đủ.

  6. Về án phí:
  7. Căn cứ khoản 1 Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và khoản 1 Điều 26, Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH, ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí, lệ phí Tòa án: Nguyên đơn không phải chịu án phí DSST và được trả lại số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.0000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000816 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của cục THADS tỉnh H, bị đơn bà Đặng Thị H1 là người cao tuổi được miễn án phí theo quy định tại Điều 2 Luật Người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy Ban thường vụ Quốc hội.

  8. Về quyền kháng cáo:
  9. Các đương sự được quyền kháng cáo theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 2 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm a, khoản 1 Điều 37, khoản 1 Điều 147, 227, 228, Điều 244 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015; Điều 164, 195, 197, 388, 389, 402, 405, 428, 429, 439, 450, 697, 698, 702 Bộ luật dân sự năm 2005; Điều 158, 159, 163, 164, 169, 186, 189, 248, 254, 267, 268, 269 và Điều 271 Bộ luật dân sự 2015; Điều 10, 46, 46, 48, 49, 50, 105,106 Luật Đất đai năm 2003; khoản 10 Điều 12, Điều 26, khoản 3 Điều 157, Điều 166, 170, 203 Luật đất đai 2013; Điều 2 Luật người cao tuổi; điểm đ khoản 1 Điều 12, Điều 14, Điều 15, khoản 1 Điều 26 Nghị quyết 326/NQ-UBTVQH ngày 30/12/2016 quy định về án phí, lệ phí Tòa án, tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn bà Đặng Thị H:
    1. Buộc bà Đặng Thị T chấm dứt mọi hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở hợp pháp của bà Đặng Thị H đối với thửa đất và ngôi nhà ở mà bà H đã mua lại của bà Phan Thị T4 tại thôn M, xã L, huyện K, tỉnh Hà Tĩnh.
    2. Buộc bà Đặng Thị T có nghĩa vụ phải dời dọn, tháo dỡ, phá bỏ các công trình, vật kiến trúc bà T đã làm trái phép trên đất của bà H, ông T2 và trên phần đất hành lang giao thông phía trước thửa đất, gồm:
      • Khoảng đất có diện tích 26,98m² láng nền xi măng, dựng khung sắt, quây xung quanh, lợp mái che bằng phia-rô xi măng do bà T làm (trong đó phần nằm trong thửa đất là 21,93m², phần nằm trên hành lang giao thông là 5,05m²).
      • Một chuồng nuôi gia súc nền đất, khung gỗ sắt, quây bằng lưới B40 và ngói phia-rô xi măng do bà T làm có diện tích 10,3m².
      • Phần công trình xây dựng, vật kiến trúc: Liên kết với căn nhà cũ (về phía trước ngôi nhà) nằm trên hành lang giao thông gồm hệ thống mái che khung sắt, gỗ, hàng rào quây bằng tôn và lưới B40, lợp bằng ngói phia-rô; một phần hàng rào xây gạch chiều dài 9,96m, cao 0,7m; nền láng xi măng có diện tích 52,65m². Liên kết với hàng rào có cổng làm bằng khung thép ống, đan lưới B40, có chiều dài 2,2m, chiều rộng 3,6. Liên kết với căn nhà cũ có 01 căn nhà kiểu lắp ghép kết cấu nhẹ, khung sắt, tường thưng bằng nhựa, lợp ngói phia-ro, nền xi măng có diện tích 19,33m² và toàn bộ các công trình xây dựng, vật kiến trúc khác (nếu có).

      Các tài sản này đều do bà T xây dựng gắn liền với mặt tiền ngôi nhà (trên phần đất hành lang giao thông) và thửa đất thuộc quyền sở hữu hợp pháp của vợ chồng bà Đặng Thị H và ông Lê Chí T2.

    3. Không chấp nhận yêu cầu phản tố của bà Đặng Thị T về việc yêu cầu Tòa án không công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Phan Thị T4 và vợ chồng ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H; không công nhận quyền sử dụng đất của ông Lê Chí T2, bà Đặng Thị H và không cho bà Đặng Thị H bán lô đất.
    4. Chấp nhận sự tự nguyện của nguyên đơn bà Đặng Thị H về việc thanh toán tiền giá trị toàn bộ các cây cối mà vợ chồng ông Trần Xuân T1, Đặng Thị H1 đã trồng trên thửa đất (trừ 01 cây Mít). Giao cho bà Đặng Thị H, ông Lê Chí T2 được quyền sở hữu, sử dụng số cây cối nói trên gồm: 01 cây bưởi to d>20-25cm, 01 cây bưởi nhỏ d=<10cm, 01 cây xoan đâu (d) xấp xỉ 15cm, 01 cây chè lâu năm (d) xấp xỉ 10cm, 10 cây chuối trưởng thành, 30 cây chè nhỏ.
    5. Bà Đặng Thị H, ông Lê Chí T2 có trách nhiệm đưa lại cho vợ chồng ông Trần Xuân T1, bà Đặng Thị H1 giá trị số cây trên với tổng số tiền là 12.669.000 đồng (Mười hai triệu, sáu trăm, sáu chín ngàn đồng).

    6. Đình chỉ xét xử đối với yêu cầu của nguyên đơn bà Đặng Thị H về việc yêu cầu ông Trần Xuân T1 dời dọn đối với 01 C.

    Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật, nếu bà Đặng Thị H không thi hành được, thì hàng tháng bà H còn phải chịu lãi suất theo quy định tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự tương ứng với thời gian và số tiền chậm thi hành án.

    Trường hợp Bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án dân sự được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  2. Về án phí: Trả lại cho nguyên đơn bà Đặng Thị H số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.0000 đồng theo biên lai thu tiền số 0000816 ngày 15 tháng 3 năm 2024 của cục THADS tỉnh H.
  3. Miễn án phí dân sự sơ thẩm đối với bị đơn bà Đặng Thị H1.

  4. Về quyền kháng cáo: Đương sự có mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt có quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết công khai.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao;
  • - VKSND tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Cục thi hành án dân sự tỉnh Hà Tĩnh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu HSVA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hồ Đức Quang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/DSST ngày 18/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH về yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở và dời dọn tài sản, tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên đất

  • Số bản án: 57/2024/DSST
  • Quan hệ pháp luật: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở và dời dọn tài sản, tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên đất
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 18/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH HÀ TĨNH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Yêu cầu chấm dứt hành vi cản trở quyền sử dụng đất, nhà ở và dời dọn tài sản, tháo dỡ công trình xây dựng trái phép trên đất
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger