TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/DS-ST Ngày: 31-8-2024 V/v: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Nguyễn Văn Thọ.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Nguyễn Sang,
- Ông Trần Thanh Liên.
- Thư ký phiên tòa: ông Nguyễn Thành Đạt.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam tham gia phiên tòa ông Lương Quốc Phòng - Kiểm sát viên.
Trong ngày 31 tháng 8 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Quảng Nam, tiến hành xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 50/2023/TLST-DS ngày 03 tháng 11 năm 2023, về việc: “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu hủy quyết định cá biệt” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 34/2024/QĐXXST-DS Quảng Nam, ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: bà Đoàn Thị T, sinh năm 1962; địa chỉ: Tổ E, Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo ủy quyền: bà Phạm Thị D, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
Người bảo về quyền và lợi ích hợp pháp: Luật sư Nguyễn Thanh C, Luật sư Đào Duy K - Văn phòng Luật sư Đào Duy K, thuộc Đoàn Luật sư tỉnh Q. Có mặt.
- Bị đơn: ông Trần Đ, sinh năm 1970; địa chỉ: Tổ E, Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Q, sinh năm 1963. Vắng mặt.
- Ông Phạm D1, sinh năm 1984. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ E, Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
- Ông Phạm A, sinh năm 1986; địa chỉ: Tổ dân phố C, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum. Vắng mặt.
- Bà Phạm Thị H, sinh năm 1989. Vắng mặt.
- Ông Phạm Duy P, sinh năm 1993. Vắng mặt.
Cùng địa chỉ: Tổ dân phố E, thị trấn P, huyện N, tỉnh Kon Tum.
- Bà Phạm Thị D, sinh năm 1996; địa chỉ: Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Có mặt.
- Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Địa chỉ: Số H H, thị trấn T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo pháp luật: ông Trầm Quế H1 - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Võ Vi N - Chức vụ: Chuyên viên Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T, tỉnh Quảng Nam.
- Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Anh M - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
- Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn, người bảo vệ lợi ích hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Năm 1983, vợ chồng nguyên đơn khai hoang mảnh đất với diện tích khoảng 3.600m² để xây dựng nhà ở, làm vườn và trồng khoai tại Tổ E, Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Đến năm 1985, vợ chồng nguyên đơn có đơn xin phép làm nhà ở diện tích đất 250m² trên mảnh đất 3.600m² và được đội 2, Hợp tác xã và Uỷ ban nhân dân (Viết tắt là UBND) xã T chứng thực vào ngày 07/5/1985. Năm 1997, UBND huyện T cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với diện tích đất 2.445m² trong tổng số diện tích đất 3.600m tại thửa đất số 82, tờ bản đồ số 12. Phần đất còn lại khoảng 1.200m² chưa được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (Viết tắt là GCNQSDĐ), tuy nhiên từ năm 1983 đến nay gia đình nguyên đơn sử dụng ổn định, liên tục, phù hợp với quy hoạch và có ranh giới rõ ràng, nhưng không biết lý do gì ông Trần Đ không hề sử dụng một ngày nào sang tranh chấp đối với thửa đất số 07, tờ bản đồ 03, diện tích 371m², theo hồ sơ bồi thường giải phóng mặt bằng và cho rằng diện tích đất này đã được UBND huyện T cấp GCNQSDĐ cho hộ bà Nguyễn Thị P1 số 1 942016 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ 12, với diện tích 500m². Việc cấp GCNQSDĐ cho hộ bà Nguyễn Thị P1 là không đúng quy định của pháp luật, không phù hợp với thực tế khách quan, xâm phạm đến lợi ích hợp pháp của nguyên đơn.
Nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc ông Trần Đ và các con bà Nguyễn Thị P1 trả lại diện tích đất đo đạc thực tế ngày 10/4/2024 có diện tích 369,4 m² (diện tích đất này có 276,4m² nằm trong diện tích đất 500m² mà hộ bà Nguyễn Thị P1 được cấp GCNQSDĐ), đồng thời hủy một phần GCNQSDĐ đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1. Không yêu cầu giải quyết 93m² nằm trong thửa 95 do UBND xã T quản lý.
- Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên toà bị đơn ông Trần Đ trình bày: Nguyên mảnh đất hiện nay bà T đang khởi kiện tranh chấp là của cha mẹ bà Phước cho làm ăn trước 1975. Sau năm 1975 thì bà Phước tiếp tục khai hoang, sử dụng mảnh đất đó để lấy tranh (cỏ tranh) lợp nhà suốt nhiều năm. Năm 1997 Nhà nước cấp GCNQSDĐ cho hộ bà Nguyễn Thị P1 số 1 942016 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ 12 với diện tích 500m². Sau đó ông Phạm Hồng V (chồng bà T) có mượn mẹ tôi để trồng sắn và mẹ tôi có nói khi nào lấy lại thì phải trả. Khoảng 4 năm sau thì mẹ tôi có đòi lại nhưng ông V không trả. Nay, bà T khởi kiện yêu cầu hộ bà Phước (gồm có tôi và anh Trần Q) trả lại diện tích đất 369,4m² nằm trong diện tích đất 500m² mà hộ bà Nguyễn Thị P1 được cấp GCNQSDĐ, đồng thời hủy một phần GCNQSDĐ của bà Phước, tôi đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: ông Phạm D1, ông Phạm A, bà Phạm Thị H, ông Phạm Duy P, bà Phạm Thị D có bản tự khai thống nhất nội dung khởi kiện của bà Đoàn Thị Tuyết .
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Trần Q trình bày: Việc mẹ tôi (là bà Nguyễn Thị P1) có cho ông Phạm Hồng V mượn mảnh đất đó để làm ăn hay không thì tôi không biết, đồng thời tôi cũng không biết mẹ tôi có đổi lại mảnh đất đó hay không nhưng tôi chỉ chứng kiến sự việc ông Phạm Hồng V khai hoang mảnh đất này để trồng các loại cây từ năm 1983. Nay bà T khởi kiện, mặc dù tôi là con của bà Phước nhưng tôi không có yêu cầu gì, đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Người đại diện theo pháp luật: ông Lê Anh M - Chức vụ: Chủ tịch Ủy ban nhân dân xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam có văn bản số: 19/CV-UBND ngày 29/9/2023 với nội dung:
Trong phần diện tích đất tranh chấp 377m² thì có phần diện tích đất 284m² nằm trong GCNQSDĐ số 1 942016 đã được UBND huyện T cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ số 12 với diện tích 500m² vào năm 1997. Trước đây, bà Phước là người khai hoang, sử dụng, trong quá trình sử dụng thì bà Nguyễn Thị P1 có cho vợ chồng ông Phạm Hồng V, bà Đoàn Thị Tuyết m để canh tác hay không thì địa phương không rõ, bà Nguyễn Thị P1 có kê khai, đăng ký diện tích đất này trong sổ mục kê và sổ địa chính. Phần 93m² đất còn lại nằm trong thửa 195 do UBND xã quản lý.
Ngày 17/7/1999, UBND xã T có ban hành Thông báo số 17/TB- UB về việc thu hồi đất với diện tích 199m² của ông Phạm Hồng V. Tuy nhiên, do thời gian quá lâu nên địa phương không rõ diện tích đất bị thu hồi này có nằm tại vị trí các đương sự đang tranh chấp hay không. Đề nghị Tòa án giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan UBND huyện T:
Căn cứ các quy định của pháp luật và hồ sơ, tài liệu có liên quan, UBND huyện T có ý kiến đối với vụ án này, cụ thể như sau: Theo hồ sơ lưu trữ tại huyện T thể hiện: Ngày 25/8/1995, hộ bà Nguyễn Thị P1 có Đơn xin đăng ký quyền sử dụng đất gửi UBND huyện T và được UBND xã T ký xác nhận ngày 30/11/1996. Căn cứ Luật Đất đai năm 1993, Nghị định số 64/CP của Chính phủ, các quy định của pháp luật, hồ sơ, tài liệu có liên quan và đề nghị của các cơ quan chuyên môn thuộc huyện, ngày 21/10/1997, UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ cho hộ bà Nguyễn Thị P1 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ số 12, diện tích: 500m², loại đất: LN, theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án nhân dân huyện xem xét, giải quyết vụ án theo quy định của pháp luật.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Quảng Nam phát biểu ý kiến:
Về thủ tục tố tụng: Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên toà, các đương sự đã thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4, Điều 32, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 21, Điều 27 Luật Đất đai 1993; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về án phí và lệ phí Toà án. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất, công nhận 369,4 m² tranh chấp thuộc quyền sử dụng của nguyên đơn. Chấp nhận một phần yêu cầu huỷ quyết định cá biệt của bị đơn, hủy một phần GCNQSDĐ đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1 đối với diện tích đất nêu trên. Không chấp nhận yêu cầu huỷ một phần GCNQSDĐ đối với 93m² nằm trong thửa 195 UBND xã T đang quản lý.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết vụ án: bà Đoàn Thị T khởi kiện yêu cầu ông Trần Đ trả lại 369,4m² đất địa chỉ tại Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam. Bà T yêu cầu Toà án tuyên huỷ một phần GCNQSDĐ số I 942016 UBND huyện T, tỉnh Quảng Nam đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1 vào ngày 21/10/1997. Do đó, quan hệ pháp luật giải quyết là “Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt” thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Quảng Nam theo quy định tại khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự, khoản 4, Điều 32 Luật Tố tụng hành chính và Điều 203 Luật Đất đai năm 2013.
[1.2] Về sự vắng mặt của những người tham gia tố tụng: tại phiên tòa, những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có đơn xin xét xử vắng mặt. Đã có lời khai của họ trong hồ sơ vụ án và việc vắng mặt của họ không ảnh hưởng đến việc xét xử vụ án. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ các Điều 227 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành xét xử vắng mặt.
[2] Về nội dung vụ án:
[2.1] Về diện tích đất tranh chấp:
Theo biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 30/11/2022 (trích đo ngày 24/4/2023); biên bản xem xét thẩm định tại chỗ ngày 10/4/2024 (trích đo ngày 05/6/2024) thì diện tích đất các bên thống nhất đã đo đạc 369,4m² (Trong đó có 276,4m² tranh chấp nằm trong thửa 194 đã được cấp GCNQSDĐ cho bà Nguyễn Thị P1 và 93m² đất nằm trong thửa 195 do UBND xã T quản lý không tranh chấp). Trên đất tranh chấp có tài sản gồm:
- Cau chưa có quả cao 1-2m là 21 cây;
- Cau mới trồng 7 cây;
- Dâu đất có quả 03 cây;
- Tắc có quả 01 cây;
- Chuối chưa có quả 8 cây;
- Keo lá tràm có đường kính từ 05 – 30 cm 45 cây;
- Trụ bê tông cốt thép 10cm x10cm x 1,2m Có 08 cây.
Bị đơn thừa nhận các loại cây (keo, cau) và các trụ bê tông do nguyên đơn trồng, các loại cây khác còn lại do mọc tự nhiên.
[2.2] Xét yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất và huỷ quyết định cá biệt của bà Đoàn Thị T thì thấy:
Ngày 12/5/2023 bà T có đơn xin thay đổi nội dung khởi kiện, theo đó bà T không tranh chấp với ông Trần Đ đối với 93m² nằm trong thửa 195 do UBND xã T quản lý, bà T chỉ tranh chấp với ông Trần Đ và yêu cầu huỷ một phần GCNQSDĐ nằm trong thửa 194 được cấp GCNQSDĐ cho bà Phước, nên Hội đồng xét xử cần đình chỉ giải quyết vụ án đối với 93m² nằm trong thửa 195 do UBND xã T quản lý theo điểm c khoản 1 Điều 217 Bộ luật Tố tụng dân sự.
- Về nguồn gốc và quá trình sử dụng đất tranh chấp:
Bị đơn cho rằng thửa đất tranh chấp do gia đình bà Phước sử dụng từ sau năm 1975 đến khoảng trước năm 1997 thì bà Phước cho ông Phạm Hồng V (chồng bà T) mượn để sử dụng nhưng chỉ thoả thuận miệng, không lập thành văn bản, khoảng năm 2000 bà Phước có đòi lại đất nhưng ông V, bà T không trả.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Trần Q (con ruột bà Phước) thừa nhận, trong quá trình sinh sống khoảng năm 1983 đã thấy ông Phạm Hồng V khai hoang, sử dụng liên tục đối với toàn bộ diện tích đất hiện nay bà T đang tranh chấp với ông Đ. Vào năm 1994 ông Q và bà Phước có nhờ ông Phạm Hồng V (chồng bà T) viết giúp đơn, vẽ sơ đồ để ông Q, bà Phước ký đơn xin phép làm nhà được UBND xã T xác nhận, lúc này ông V đã sử dụng phần đất đang tranh chấp hiện nay, nên ông là người được mẹ (bà Phước) cho đất làm nhà ở đến nay không tranh chấp với gia đình ông V, bà T. Ông Q không biết bà Phước có cho gia đình ông V, bà T mượn để sử dụng đối với diện tích đất này không.
Những người làm chứng: ông Lê T1, ông Mai Kim T2, bà Đỗ Thị C1, Phan Bá N1, là những người sống lâu năm tại Thôn B, xã T, huyện T (nơi có đất tranh chấp) đều xác nhận, trong quá trình sinh sống đã chứng kiến vào những năm 1983 - 1984 đã thấy ông Phạm Hồng V khai hoang, sử dụng đối với toàn bộ diện tích đất hiện nay đang tranh chấp với ông Đ, không thấy gia đình bà Phước, ông Đ, ông Q sử dụng, đồng thời cũng không thấy các bên xảy ra tranh chấp gì cho đến khi nhà nước mở rộng đường 40B vào năm 2021.
- Về thủ tục kê khai, đăng ký và cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất:
Sổ địa chính số 2, trang 128, Sổ Mục kê tờ bản đồ 01 đến 12 tại trang 198 được UBND xã T lập vào năm 1996 thể hiện thửa đất 194, tờ bản đồ 12 có diện tích 500m² loại đất trồng cây lâu năm do bà Nguyễn Thị P1 kê khai, hộ bà Phước được cấp GCNQSDĐ vào năm 1997. Tuy nhiên, bị đơn và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Q (con bà Phước) và những người làm chứng đều xác nhận gia đình ông Phạm Hồng V, bà Đoàn Thị T đã sử dụng ổn định thửa đất từ trước khi bà Phước kê khai, đăng ký quyền sử dụng đất đến nay.
Điều 21 và Điều 27 Luật Đất đai năm 1993 quy định: "Việc quyết định giao đất đang có người sử dụng cho người khác chỉ được tiến hành sau khi có quyết định thu hồi đất đó" và "Trước khi thu hồi đất phải thông báo cho người đang sử dụng biết về lý do thu hồi, thời gian, kế hoạch di chuyển, phương án đền bù thiệt hại". Điều 3 Nghị định 64/CP ngày 27/9/1993 của Chính phủ quy định: Việc giao đất nông nghiệp cho hộ gia đình, cá nhân sử dụng vào mục đích sản xuất nông nghiệp theo những nguyên tắc: Trên cơ sở hiện trạng, bảo đảm đoàn kết, ổn định nông thôn, thúc đẩy sản xuất phát triển. Nhưng, UBND huyện T đã cấp GCNQSDĐ số 1 942016 cho hộ bà Nguyễn Thị P1 tại thửa đất số 194, sở bản đồ số 12 với diện tích 500m² (trong đó có 276,4m² diện tích đất tranh chấp) trong khi hộ bà Nguyễn Thị P1 không phải là người sử dụng đất, đồng thời không lập thủ tục thu hồi đất của gia đình nguyên đơn bà Đoàn Thị T (là người đang sử dụng đất) là trái với quy định của Luật Đất đai năm 1993.
Từ sự phân tích trên, thấy cần chấp nhận đơn khởi kiện của nguyên đơn về tranh chấp quyền sử dụng đất với ông Trần Đ và chấp nhận một phần yêu cầu huỷ quyết định cá biệt huỷ một phần GCNQSDĐ số 1 942016 UBND huyện T đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1 vào ngày 21/10/1997 tại thửa đất số 194, sơ bản đồ số 12 diện tích 276,4m² đất tranh chấp theo yêu cầu của bà Đoàn Thị T là có căn cứ.
[2.3] Về chi phí tố tụng:
Bà Đoàn Thị T tự nguyện chịu toàn bộ tiền chi phí chi phí xem xét thẩm định tại chỗ và định giá tài sản nên Hội đồng xét xử không phân tích.
[2.4] Về án phí:
Căn cứ Điều 147 Bộ luật Tố tụng Dân sự phí sơ thẩm không có giá ngạch đối với tranh chấp đất đai 300.000 đồng. Nguyên đơn tự nguyện chịu tiền án phí dân sự sơ thẩm nên Hội đồng xét xử cần ghi nhận, không phân tích thêm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 9 Điều 26, khoản 4 Điều 34, Điều 37, Điều 147, điểm c khoản 1 Điều 217, Điều 227, Bộ luật Tố tụng dân sự; khoản 4, Điều 32, Điều 193 Luật Tố tụng hành chính; Điều 21, Điều 27 Luật Đất đai 1993; Điều 203 Luật Đất đai năm 2013; khoản 4, Điều 21 Nghị định 43/2014/NĐ-CP của Chính phủ quy định chi tiết thi hành một số điều của Luật Đất đai; điểm a, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.
Tuyên xử:
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Đoàn Thị T về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất” với ông Trần Đ, bà Đoàn Thị T có quyền sử dụng đối với 276,4m² (trong đó có 173 m² nằm trong hành lang giao thông đường quốc lộ 40B), tại thửa đất số 194, sơ bản đồ số 12, địa chỉ thửa đất Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam (có trích đo địa chính thửa đất kèm theo).
Đình chỉ giải quyết vụ án đối với 93m² nằm ngoài thửa đất số 194, tờ bản đồ số 12, địa chỉ thửa đất Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam Quảng Nam, đương sự có quyền khởi kiện lại theo quy định của pháp luật.
- Chấp nhận một phần yêu cầu của bà Đoàn Thị T về việc huỷ quyết định cá biệt: huỷ một phần Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1 942016 Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1 vào ngày 21/10/1997 tại thửa đất số 194, sơ bản đồ số 12 với diện tích 276,4m² địa chỉ thửa đất Thôn B, xã T, huyện T, tỉnh Quảng Nam.
Sau khi bản án có hiệu lực pháp luật, Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Quảng Nam thu hồi và lập thủ tục chỉnh lý biến động 276,4m² trên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 1 942016 Ủy ban nhân dân huyện T đã cấp cho hộ bà Nguyễn Thị P1 vào ngày 21/10/1997 tại thửa đất số 194, tờ bản đồ số 12 và hồ sơ quản lý đất đai theo đúng quy định của pháp luật. Bà Đoàn Thị T được thực hiện quyền kê khai, đăng ký, cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quy định của pháp luật.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Đoàn Thị T tự nguyện chịu án phí không có giá ngạch 300.000 (Ba trăm nghìn) đồng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí bà T đã nộp tại Biên lai thu tạm ứng án phí số 0008836 ngày 07/10/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Tiên Phước, tỉnh Quảng Nam.
- Các đương sự có mặt tại phiên toà có quyền kháng cáo bản án sơ thẩm trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án (31/8/2024); đương sự không có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo từ ngày nhận được bản án hoặc được niêm yết.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN- CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ Nguyễn Văn Thọ |
Bản án số 57/2024/DS-ST ngày 31/08/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM về tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt
- Số bản án: 57/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và yêu cầu huỷ quyết định cá biệt
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 31/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH QUẢNG NAM
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tuyét tranh chấp đất đai với Đình
