|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2024/DS-ST Ngày: 30 - 7 - 2024 “V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng” |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thái Thị Hồng Vân
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Dương Thanh Cảnh
Ông Phạm Ngọc Hồng
Thư ký phiên tòa: Bà Lý Thanh Tâm - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Hải - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 7 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 188/2023/TLST-DS ngày 12 tháng 10 năm 2023, về việc “Tranh chấp về hợp đồng tín dụng”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử sơ thẩm số 90/2024/QĐXXST-DS ngày 26 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ (B).
Địa chỉ: T, C H, quận H, thành phố Hà Nội.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Lê Ngọc L; Chức vụ: Tổng giám đốc. Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Tiến P- Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh P1. Vắng mặt.
Đại diện theo ủy quyền lại của ông Nguyễn Tiến P: Ông Trần Thanh T; Chức vụ: Trưởng phòng khách hàng cá nhân 2 - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh P1. Vắng mặt.
Ông Võ Quốc T1; Chức vụ: Trưởng phòng quản lý rủi ro - Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhánh P1. Có mặt.
2. Bị đơn: Chị Ngô Thị T2, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
+ Cháu Nguyễn Phương A, sinh năm 2012; Địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
+ Cháu Nguyễn Yến N, sinh năm 2015; Địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
Người đại diện theo pháp luật cho hai cháu Nguyễn Phương A, Nguyễn Yến N: Chị Ngô Thị T2, sinh năm 1992; Địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
+ Bà Nguyễn Thị L1, sinh năm 1957; Địa chỉ: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An. Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện đề ngày 14 tháng 10 năm 2022, bản tự khai ngày 30 tháng 7 năm 2024, quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ trình bày:
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ - Chi nhánh P1 đồng ý cho chị Ngô Thị T2 vay vốn theo Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9882400/HĐTD ngày 13/11/2018, cấp tín dụng cho chị Ngô Thị T2 chi tiết như sau:
- Số tiền vay: 500.000.000 (Năm trăm triệu) đồng.
- Lãi suất: Theo quy định của ngân hàng.
- Mục đích: Cho vay sửa chữa nâng cấp nhà ở.
- Thời hạn: 84 tháng.
- Ngày đến hạn trả lãi đầu tiên: 25/02/2019.
- Ngày vi phạm trả nợ lãi đầu tiên: 25/02/2019.
- Ngày vi phạm trả nợ gốc đầu tiên: 15/11/2019.
Số tiền lãi khách hàng đã nạp: 36.100.000 đồng (Ước tính từ ngày 13/11/2018 đến 09/8/2019).
Lãi thông thường từ ngày 10/8/2019 đến hết ngày 30/7/2024: 265.460.275 đồng.
Lãi quá hạn (Lãi phạt) từ ngày 15/11/2019 đến hết ngày 30/7/2024: 44.140.863 đồng.
Tổng cộng số tiền tính đến hết đến ngày 30/7/2024 là: 809.601.138 (T3 trăm linh chín triệu sáu trăm linh một ngàn một trăm ba tám) đồng.
Tài sản đảm bảo khoản vay: Tất cả các khoản vay của chị Ngô Thị T2 được bảo đảm bằng tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền trên đất cụ thể như sau:
- Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số: CK 993959 do Ủy ban nhân dân huyện D cấp ngày 21/03/2018, cho chị Ngô Thị T2 - Là người đại diện cho những người cùng sử dụng đất gồm chị Ngô Thị T2, cháu Nguyễn Phương A, cháu Nguyễn Yến N. Thửa đất số 256, tờ bản đồ số: 15, diện tích: 247.3 m² (Hai trăm bốn mươi bảy phẩy ba mét vuông); Tài sản gắn liền với đất là: Ngôi nhà 1 tầng, diện tích xây dựng khoảng 100 m², xây dựng năm 2009 đã được lập thành hợp đồng thế chấp bất động sản số 01/2018/9100268/HĐBĐ ngày 28/03/2018 ký giữa đại diện chị Ngô Thị T2 với Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ - Chi nhánh P1.
Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ - Chi nhánh P1 đề nghị Tòa án buộc bà Ngô Thị T2 thực hiện nghĩa vụ trả nợ cho ngân hàng số tiền nợ tạm tính đến ngày 30/7/2024 là: 809.601.138 (T3 trăm linh chín triệu sáu trăm linh một ngàn một trăm ba tám) đồng, trong đó:
- + Tiền nợ gốc: 500.000.000 đồng.
- + Tiền nợ lãi trong hạn: 265.460.275 đồng.
- + Tiền nợ lãi quá hạn: 44.140.863 đồng.
(Đối với lãi vay tiếp tục được tính theo Hợp đồng tín dụng cho đến khi khách hàng thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ hoặc xử lý xong tài sản thế chấp để thu hồi nợ)
Nếu không trả được số tiền nợ nói trên đề nghị Quý tòa thực hiện theo quy định của pháp luật để xử lý tài sản thế chấp của chị Ngô Thị T2 theo hợp đồng thế chấp nêu trên thu hồi vốn cho nhà nước.
Đối với bị đơn chị Ngô Thị T2: Qua xác minh tại Công an xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An chị Ngô Thị T2 không có mặt tại địa phương. Theo công văn số 6397/QLXNC-P5 ngày 24/3/2023 của Cục Q Bộ C thể hiện: Trường hợp Ngô Thị T2 sinh ngày 04/01/1992, hộ khẩu thường trú tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An đã xuất cảnh 7 lần, lần cuối sử dụng hộ chiếu C4119922 xuất cảnh ngày 28/01/2020, qua Cửa khẩu T5 hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Do đó, không có lời khai hoặc ý kiến của chị Ngô Thị T2.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị L1 trình bày: Bà là mẹ chồng của chị Ngô Thị T2, trước đây bà có nghe chị T2 nói qua việc chị T2 vay tiền ngân hàng chứ không biết cụ thể như thế nào, bao nhiêu tiền. Đối với phần tài sản chị T2 thế chấp tại ngân hàng: Bà là mẹ chồng chị T2, sau khi con trai bà là Nguyễn Văn H chết thì toàn quyền chị T2 quyết định tài sản nên bà không can thiệp. Chị T2 đã đi xuất khẩu lao động ở nước ngoài (N), khối tài sản mà chị T2 thế chấp tại ngân hàng H1 do bà quản lý. Việc Ngân hàng phát mãi tài sản để thanh toán khoản vay của chị T2, bà cam kết gọi điện thoại cho chị T2 về vấn đề này, còn bà không biết nên không có ý kiến gì.
Tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền nguyên đơn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An phát biểu quan điểm: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Ngô Thị T2 phải trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tổng số tiền nợ 809.601.138 (T3 trăm linh chín triệu sáu trăm linh một ngàn một trăm ba tám) đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc: 500.000.000 đồng; Số tiền lãi trong hạn 265.460.275 đồng; Số tiền lãi quá hạn 44.140.863 đồng. Trường hợp chị Ngô Thị T2 không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ. Về án phí, chi phí tố tụng giải quyết theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về thủ tục tố tụng:
[1.1] Về quan hệ pháp luật và thẩm quyền giải quyết: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khởi kiện chị Trần Thị T4 về việc kiện đòi nợ liên quan đến hợp đồng tín dụng. Đây là vụ án có tranh chấp phát sinh trong lĩnh vực dân sự được quy định tại khoản 3 Điều 26 Bộ luật tố tụng dân sự. Bị đơn chị Trần Thị T4, có địa chỉ cư trú trước khi xuất cảnh: Xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An và hiện đang sinh sống, làm việc ở nước ngoài trước khi Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An thụ lý nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm c khoản 1 Điều 37, Điều 469 của Bộ luật tố tụng dân sự.
[1.2] Về sự vắng mặt của các đương sự:
Căn cứ thông tin do Cục Q Bộ C về cung cấp thông tin xuất nhập cảnh của chị Ngô Thị T2 tại Công văn số 6397/QLXNC-P5 ngày 24 tháng 3 năm 2023. Theo đó xác nhận trường hợp chị Ngô Thị T2 đã xuất nhập cảnh 7 lần. Lần cuối sử dụng hộ chiếu số C4119922 xuất cảnh ngày 28/01/2020, qua Cửa khẩu T5 hiện chưa có thông tin nhập cảnh. Bà Nguyễn Thị L1 là mẹ chồng của chị Ngô Thị T2 có cùng địa chỉ nơi cư trú cuối cùng của chị T2, hiện đang quản lý tài sản của chị T2, bà L1 cam đoan thông báo cho chị T2 về việc Ngân hàng đòi nợ và xử lý tài sản thế chấp.
Bà Nguyễn Thị L1, cháu Nguyễn Phương A, cháu Nguyễn Yến N đã được Toà án triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vắng mặt không có lý do. Do đó, căn cứ điểm b khoản 2 Điều 227 của Bộ luật tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định.
[2] Về nội dung:
[2.1] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ về việc yêu cầu chị Ngô Thị T2 phải thực hiện nghĩa vụ trả nợ theo hợp đồng tín dụng, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Ngày 28 tháng 3 năm 2018, Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhanh P2 và chị Ngô Thị T2 ký thỏa thuận về các điều khoản và điều kiện tín dụng theo Hợp đồng tín dụng số 01/2018/9882400/HĐTD ngày 13/11/2018 cấp tín dụng cho chị Ngô Thị T2 chi tiết như sau: Số tiền vay: 500.000.000 đồng (Năm trăm triệu đồng); Lãi suất: Theo quy định của ngân hàng; Mục đích: Cho vay sửa chữa nâng cấp nhà ở; Thời hạn: 84 tháng; Ngày đến hạn trả lãi đầu tiên: 25/02/2019; Ngày giải ngân: 13/11/2018.
Việc hai bên giao kết hợp đồng hoàn toàn tự nguyện và tuân thủ các quy định của pháp luật cả về hình thức và nội dung của hợp đồng, do đó Hợp đồng tín dụng giữa Ngân hàng Thương mại cổ phần Đ - Chi nhanh Phủ D và chị Ngô Thị T2 là có thật và hợp pháp nên được pháp luật bảo vệ.
Quá trình thực hiện hợp đồng chị Ngô Thị T2 không thực hiện đúng nghĩa vụ thanh toán nợ vay theo hợp đồng mà hai bên đã cam kết, thoả thuận, vi phạm hợp đồng về nghĩa vụ thanh toán tiền nợ gốc và lãi suất. Do đó, việc ngân hàng khởi kiện yêu cầu thanh toán tiền nợ gốc và lãi suất là có căn cứ xem xét. Cần chấp nhận yêu cầu của Ngân hàng cụ thể như sau:
Số tiền lãi chị Ngô Thị T2 đã nạp: 36.100.000 đồng.
Lãi thông thường từ ngày 10/8/2019 đến hết ngày 30/7/2024: 265.460.275 (Hai trăm sáu mươi lăm triệu bốn trăm sáu mươi ngàn hai trăm bảy lăm) đồng.
Lãi quá hạn (Lãi phạt) từ ngày 15/11/2019 đến hết ngày 30/7/2024: 44.140.863 (Bốn mươi tư triệu một trăm bốn mươi ngàn tám trăm sau ba) đồng.
Tổng cộng số tiền tính đến hết đến ngày 30/7/2024 là: 809.601.138 (T3 trăm linh chín triệu sáu trăm linh một ngàn một trăm ba tám) đồng.
[2.2] Xét yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ về việc xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ, Hội đồng xét xử thấy rằng:
Thửa đất số 256, tờ bản đồ số 15 tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 993959 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 21 tháng 3 năm 2018, cho chị Ngô Thị T2 - là người đại diện cho những người cùng sử dụng đất gồm chị Ngô Thị T2, cháu Nguyễn Phương A, cháu Nguyễn Yến N được thế chấp theo Hợp đồng thế chấp Bất động sản số 01/2018/9882400/HĐTC, được công chứng tại Phòng C1, khối D, thị trấn D, huyện D, tỉnh Nghệ An ngày 29 tháng 3 năm 2018, số công chứng 2327/2018, quyển số 18TP/CC-SCC/HĐGD.
Xét thấy các bên đã thoả thuận, cam kết hoàn toàn tự nguyện đúng pháp luật. Hợp đồng thế chấp đã được Văn phòng C2, huyện D, tỉnh Nghệ An công chứng nội dung giao dịch và được đăng ký giao dịch bảo đảm theo đúng quy định tại cơ quan có thẩm quyền là Văn phòng đăng ký đất đai huyện D, tỉnh Nghệ An. Như vậy, hợp đồng thế chấp tài sản giữa các bên đã làm phát sinh quyền và nghĩa vụ đối với khối tài sản thế chấp. Đây là vụ án tranh chấp hợp đồng tín dụng có thế chấp tài sản đã thực hiện đầy đủ các quy định của Bộ luật dân sự nên Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ yêu cầu xử lý tài sản thế chấp để đảm bảo thu hồi nợ nếu bị đơn không trả được nợ là có căn cứ chấp nhận.
Từ những phân tích nêu trên, có căn cứ chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, buộc chị Ngô Thị T2 phải trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ tổng số tiền nợ 809.601.138 (T3 trăm linh chín triệu sáu trăm linh một ngàn một trăm ba tám) đồng. Trong đó: Số tiền nợ gốc: 500.000.000 đồng; Số tiền lãi trong hạn 265.460.275 đồng; Số tiền lãi quá hạn 44.140.863 đồng. Trường hợp chị Ngô Thị T2 không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ.
[3] Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Quá trình giải quyết vụ án, Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ đã nộp 4.000.000 đồng tại Tòa án nhân dân huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An và tự nguyện chịu chi phí, do đó Hội đồng xét xử không xem xét.
[4] Về án phí: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ khởi kiện được chấp nhận nên không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chị Ngô Thị T2 phải chịu án phí dân sự sơ thẩm theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
-
Căn cứ khoản 3 Điều 26, khoản 3 Điều 35, điểm c khoản 1 Điều 37, điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 147, Điều 469 Bộ luật tố tụng dân sự; Điều 91, Điều 95, Điều 98 của Luật các Tổ chức tín dụng; Điều 12, Điều 56 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Điều 3 Nghị định 83/2010/NĐ-CP ngày 23 tháng 7 năm 2010, của Chính phủ về đăng ký giao dịch bảo đảm; Nghị định số 11/2012/NĐ-CP ngày 22 tháng 02 năm 2012, của Chính phủ sửa đổi, bổ sung một số điều của Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29 tháng 12 năm 2006, của Chính phủ về giao dịch bảo đảm; Nghị định 21/2021/NĐ-CP định thi hành Bộ luật dân sự bảo đảm thực hiện nghĩa vụ; Khoản 2 Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016, của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Xử: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ.
Buộc chị Ngô Thị T2 phải có nghĩa vụ trả nợ cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ số tiền nợ tính đến ngày xét xử sơ thẩm là: 809.601.138 (T3 trăm linh chín triệu sáu trăm linh một ngàn một trăm ba tám) đồng, trong đó:
- + Tiền nợ gốc: 500.000.000 đồng.
- + Tiền nợ lãi trong hạn: 265.460.275 đồng.
- + Tiền nợ lãi quá hạn: 44.140.863 đồng.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành án xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận nhưng phải phù hợp với quy định của pháp luật; nếu không có thỏa thuận về mức lãi suất thì quyết định theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
-
Trường hợp chị Ngô Thị T2 không trả được nợ hoặc trả nợ không đủ thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ có quyền yêu cầu cơ quan thi hành án có thẩm quyền xử lý tài sản bảo đảm để thu hồi nợ là thửa đất số 256, tờ bản đồ số 15, diện tích 247,3 m² tại xóm A, xã D, huyện D, tỉnh Nghệ An, theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 993959 do Ủy ban nhân dân huyện D, tỉnh Nghệ An cấp ngày 21 tháng 3 năm 2018, cho chị Ngô Thị T2, cháu Nguyễn Phương A, cháu Nguyễn Yến N (Chị Ngô Thị T2 là người đại diện cho những người cùng sử dụng đất gồm chị Ngô Thị T2, cháu Nguyễn Phương A, cháu Nguyễn Yến N).
Nếu số tiền thu được từ việc bán tài sản bảo đảm không đủ trả nợ cho Ngân hàng thì chị Ngô Thị T2 phải có trách nhiệm tiếp tục trả nợ gốc và lãi cho đến khi tất toán toàn bộ khoản vay.
Nếu chị Ngô Thị T2 thực hiện việc trả nợ đúng, đầy đủ theo bản án có hiệu lực pháp luật thì Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ phải thực hiện thủ tục xóa thế chấp, giải chấp tài sản và trả lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số CK 993959 cho chị Ngô Thị T2.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người yêu cầu thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
- Về chi phí xem xét, thẩm định tại chỗ và định giá tài sản: Ngân hàng không yêu cầu nên không xem xét.
- Về án phí: Chị Ngô Thị T2 phải chịu 36.288.000 (Ba mươi sáu triệu hai trăm tám tám ngàn) đồng án phí dân sự sơ thẩm.
Trả lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Đ 15.538.000 (Mười lăm triệu năm trăm ba mươi tám ngàn) đồng, số tiền tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0002191 ngày 13 tháng 02 năm 2023, tại Chi cục Thi hành án dân sự huyện Diễn Châu, tỉnh Nghệ An.
- Nguyên đơn có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
Bị đơn có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 01 tháng, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án lên Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Thái Thị Hồng Vân |
Bản án số 57/2024/DS-ST ngày 30/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 57/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/07/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NGHỆ AN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
