TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 57/2024/DS-PT
Ngày 26 - 4 - 2024
V/v tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Ông Trần Văn Lực
Các Thẩm phán: Ông Huỳnh Đắc Đương
Ông Phạm Văn Long
- Thư ký phiên toà: Bà Phan Thị Cẩm Nang - Thư ký Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Trà Vinh tham gia phiên toà: Bà Lê Thị Thanh Xuân - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 24 và 26 tháng 4 năm 2024, tại trụ sở Toà án nhân dân tỉnh Trà Vinh mở phiên toà xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 135/2023/TLPT-DS, ngày 02 tháng 11 năm 2023 về việc tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 51/2023/QĐ-PT ngày 18 tháng 5 năm 2023, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị T, sinh năm 1956; địa chỉ số C, đường Đ, Phường H, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (có mặt).
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T: Luật sư Nguyễn Tấn L là Luật sư của Văn phòng L4 thuộc Đoàn Luật sư tỉnh T (có mặt).
- Bị đơn: Bà Hà Thị T1, sinh năm 1963, địa chỉ khóm C, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của bà Hà Thị T1: Ông Thái Săm B, sinh năm 1975; địa chỉ khóm A, phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 19/01/2024, có mặt).
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
- Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1946, địa chỉ số D, đường Q, phường T, Quận B, thành phố Hồ Chí Minh
- Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1951; địa chỉ ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1962; địa chỉ khóm C, Phường B, thị xã D, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Bà Nguyễn Thị N1, sinh năm 1948; địa chỉ số C, đường K, Khóm B, Phường G, thành phố T, tỉnh Trà Vinh (có mặt).
- Anh Nguyễn Chí L1, sinh năm 1980 (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Hoài L2, sinh năm 1983 (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Duy T3, sinh năm 1985 (vắng mặt);
- Chị Lê Thị Cẩm T4, sinh năm 1995 (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Chí P, sinh năm 2005 (vắng mặt);
- Anh Nguyễn Chí Đ, sinh năm 2005 (vắng mặt);
- Chị Nguyễn Thị Ngọc M, sinh năm 2003 (vắng mặt);
- Chị Trần Thị Thu L3, sinh năm 1987 (có mặt);
- Anh Nguyễn Văn V, sinh năm 1978 (có mặt).
Người đại diện hợp pháp của ông Nguyễn Văn H: Anh Nguyễn Thanh T2, sinh năm 1970; địa chỉ số F, khóm B, Phường C, thành phố V, tỉnh Vĩnh Long (là con ông H, được ủy quyền theo văn bản ủy quyền ngày 11/11/2022, có mặt).
Cùng địa chỉ: Ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh
Cùng địa chỉ: Khóm C, Phường A, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Người kháng cáo: Nguyên đơn bà Hà Thị T1, bị đơn bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có yêu cầu độc lập gồm ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H1.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Trong đơn khởi kiện ngày 15 tháng 8 năm 2022 và trong quá trình tố tụng tại Tòa án cấp sơ thẩm nguyên đơn bà Nguyễn Thị T trình bày:
Cụ Nguyễn Văn C (hy sinh năm 1963) và cụ Phạm Thị H2 (chết năm 2006) là cha mẹ của bà. Cha mẹ bà không có con riêng, con chung có 07 người gồm: Nguyễn Văn H, Nguyễn Thị N1, Nguyễn Thị H1, Nguyễn Văn P1 (hy sinh không có vợ con), Nguyễn Thị T (là bà), Nguyễn Thái N2 (chồng bà Hà Thị T1, chết năm 2003) và Nguyễn Thị N.
Sau khi cụ C hy sinh, cụ H2 có 57.549m² đất do ông bà để lại tọa lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Ông Nguyễn Thái N2 là em ruột khi có vợ (bà Hà Thị T1) thì sống chung nhà với cụ H2, năm 1983 cụ H2 đứng tên kê khai thành 04 thửa đất: Thửa 639 diện tích 2.054m², thửa 720 diện tích 720m², thửa 722 diện tích 5.700m² và thửa 723 diện tích 49.075m².
Năm 1995, ông N2 đã tự ý kê khai diện tích đất 35.150m² và được Ủy ban nhân dân huyện D (nay là thị xã D) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với 05 thửa đất gồm: Thửa 166 diện tích 5.140m², thửa 405 diện tích 7.930m², thửa 406 diện tích 520m², thửa 408 diện tích 6.130m², thửa 409 diện tích 10.770m² và thửa 410 diện tích 4.660m².
Khi còn sống mẹ bà thống nhất cho vợ chồng ông N2 được quyền sử dụng thửa 409 diện tích 10.770m² và thửa 410 diện tích 4.660m². Năm 2003 ông N2 bị tai nạn giao thông chết, bà T1 không thông qua ý kiến cụ H2 mà tự ý làm thủ tục thừa kế chuyển quyền sử dụng đất cho bà T1 đứng tên, cho nên thửa đất 166 chuyển thành thửa đất 246 có diện tích thực đo 5.122,7m². Khi ông N2 và cụ H2 mất được chôn cất, lập mộ trên thửa đất 166 có diện tích 571,1m², phần đất này bà cùng anh em trong gia đình thống nhất dùng vào việc thờ cúng. Như vậy phần đất còn lại của thửa 166 có diện tích 4.551,6m².
Đối với thửa 405, khi nhà nước làm tuyến đường số A có thu hồi một phần diện tích đất và bồi hoàn tiền do bà T1 nhận. Do có đường đi ngang nên chia ra thửa đất làm 02 phần, thành thửa thửa 927 diện tích thực đo 5.187,4m² và thửa 758 diện tích thực đo 1.363,9m².
Năm 2006 cụ H2 chết không để lại di chúc, năm 2019 bà trao đổi với bà T1 yêu cầu phân chia thừa kế quyền sử dụng đất của mẹ bà, còn bà T1 được hưởng suất thừa kế của ông N2 nhưng bà T1 không đồng ý. Vì vậy, bà đã khởi kiện yêu cầu Toà án nhân dân thị xã Duyên Hải giải quyết, Toà án xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà nên bà kháng cáo, sau đó bà rút đơn kháng cáo và rút đơn khởi kiện nên Toà án tỉnh Trà Vinh ra Quyết định số 12/2022/QĐ-PT ngày 05/8/2022 huỷ bản án sơ thẩm và đình chỉ giải quyết vụ án.
Về hiện trạng các thửa đất:
- Thửa đất 246 có diện tích thực đo 5.122,7m² (trước đây là thửa 166), sau khi trừ đất mộ diện tích 571,1m², phần đất còn lại diện tích 4.551,6m² con bà T1 là anh Nguyễn Chí L1 đang quản lý, sử dụng làm nhà ở, công trình phụ và 02 ao nuôi tôm.
- Thửa 758 diện tích thực đo 1.363,9m² (được tách ra từ thửa 405) hiện nay bà T1 đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị Thu L3.
- Thửa đất 923 diện tích thực đo 5.187,4m² (được tách ra từ thửa 405) con bà T1 là anh Nguyễn Hoài L2 quản lý, sử dụng làm nhà ở, công trình phụ và 01 ao nuôi tôm.
Nay bà khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa bà T1 và vợ chồng anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị Thu L3 đối với thửa đất diện tích thực đo 1.363,9m². Buộc bà T1 giao trả phần đất mà bà được hưởng thừa kế từ cụ H2 với diện tích 2.241m² thuộc thửa 758, diện tích 887,8m² thuộc thửa 927, diện tích 658,92m² thuộc thửa 246. Phần tiền nhà nước bồi hoàn cho bà T1 khi làm lộ và các thửa đất khác bà thống nhất không yêu cầu giải quyết.
* Bị đơn bà Hà Thị T1 trình bày:
Chồng bà là ông Nguyễn Thái N2 đã chết năm 2003. Khi bà và ông N2 cưới nhau bà về làm dâu bên chồng và sống chung nhà với cụ Phạm Thị H2 là mẹ chồng cho đến năm 2006 cụ H2 chết.
Trước đây vợ chồng bà được cụ H2 cho 06 thửa đất tổng diện tích là 35.150m² (thửa 166, thửa 405, thửa 406, thửa 408, thửa 409, thửa 410), tọa lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh. Các thửa đất này do chồng bà là Nguyễn Thái N2 đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Sau khi ông N2 bị tai nạn chết và được sự đồng ý của cụ H2, nên bà đã làm thủ tục thừa kế để được đứng tên các thửa đất này.
Toàn bộ các thửa đất nêu trên bà làm thủ tục nhận thừa kế là đúng quy định. Năm 2021 bà chuyển nhượng cho vợ chồng anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị Thu L3 diện tích đất 1.363,9m² thuộc thửa 758 (được tách ra từ thửa 405) với giá 2.550.000.000 đồng. Vợ chồng anh V và chị Thu L3 đã nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải số 750.000.000 đồng để thi hành nghĩa vụ trả nợ của bà mà Cơ quan Thi hành án thị xã D đang thụ lý, trừ tiền mua vật tư xây dựng của chị Thu L3 số tiền 1.628.617.000 đồng, số tiền còn lại 171.383.000 đồng do chưa làm xong thủ tục chuyển quyền nên bên anh V chưa trả đủ.
Theo yêu cầu khởi kiện chia thừa kế của bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N thì bà không đồng ý, bà chỉ đồng ý cắt phần đất có diện tích đo thực tế là 571,1m² thuộc thửa 246 để sử dụng chung vào việc mộ.
* Trong đơn yêu cầu độc lập ngày 14/10/2022, đơn yêu cầu độc lập bổ sung ngày 12/4/2023 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H, lời trình bày của anh Nguyễn Thanh T2 là người đại diện theo uỷ quyền của ông Nguyễn Văn H như sau:
Thống nhất với toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa bà T1 và vợ chồng anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị Thu L3 đối với thửa 758 diện tích thực đo 1.363,9m². Buộc bà T1 giao trả cho ông H phần đất mà ông H được hưởng thừa kế từ cụ H2 với diện tích 373,63m² thuộc thửa 758, diện tích 916,66m² thuộc thửa 927, diện 3.034,42m² thuộc thửa 246. Phần tiền nhà nước bồi hoàn cho bà T1 khi làm lộ và các thửa đất khác thống nhất không yêu cầu.
* Trong đơn yêu cầu độc lập ngày 19/10/2022, đơn yêu cầu độc lập bổ sung ngày 03/4/2023 và trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N1 lời trình bày:
Thống nhất với toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa bà T1 và vợ chồng anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị Thu L3 đối với thửa đất 758 diện tích thực đo 1.363,9m². Buộc bà T1 giao trả cho bà phần đất mà bà được hưởng thừa kế từ cụ H2 với diện tích 373,63m² thuộc thửa 758, diện tích 2.739,9m² thuộc thửa 927, diện 761,48m² thuộc thửa 246. Phần tiền nhà nước bồi hoàn cho bà T1 khi làm lộ và các thửa đất khác thống nhất không yêu cầu.
* Trong đơn yêu cầu độc lập ngày 19/10/2022, đơn yêu cầu độc lập bổ sung ngày 03/4/2023 và trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị N lời trình bày:
Thống nhất với toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa bà T1 và vợ chồng anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị Thu L3 đối với thửa 758 diện tích thực đo 1.363,9m². Buộc bà T1 giao trả cho bà phần đất mà bà được hưởng thừa kế từ cụ H2 với diện tích 373,63m² thuộc thửa 758, diện tích 916,66m² thuộc thửa 927, diện tích 1.161,12m² thuộc thửa 246. Phần tiền nhà nước bồi hoàn cho bà T1 khi làm lộ và các thửa đất khác thống nhất không yêu cầu.
* Trong đơn yêu cầu độc lập ngày 03/4/2023 và trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị H1 lời trình bày:
Thống nhất với toàn bộ lời trình bày của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T.
Yêu cầu Tòa án giải quyết: Hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất được xác lập giữa bà T1 và vợ chồng anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị Thu L3 đối với thửa 758 diện tích thực đo 1.363,9m². Buộc bà T1 giao trả cho bà phần đất mà bà được hưởng thừa kế từ cụ H2 với diện tích 373,63m² thuộc thửa 758, diện tích 916,66m² thuộc thửa 927, diện tích 856,66m² thuộc thửa 246. Phần tiền nhà nước bồi hoàn cho bà T1 khi làm lộ và các thửa đất khác thống nhất không yêu cầu.
* Trong đơn yêu cầu độc lập ngày 17/01/2023 và trong quá trình tố tụng người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Thu L3 và anh Nguyễn Văn V trình bày:
Vào ngày 25 tháng 10 năm 2021, bà Hà Thị T1 thỏa thuận chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho chị T5 lâm cùng chồng là anh Nguyễn Văn V diện tích đất 1.363,9 m² thuộc thửa 405 (nay là thửa 758), đất tọa lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh với giá 2.550.000.000 đồng. Do gia đình có bán vật tư xây dựng cho bà T1 với tổng số tiền 1.628.617.000 đồng nên hai bên thống nhất khấu trừ, nộp cho Chi cục Thi hành án dân sự thị xã Duyên Hải 750.000.000 đồng để thi hành nghĩa vụ trả nợ của bà T1 mà Cơ quan Thi hành án thị xã D đang thụ lý. Số tiền còn lại 171.383.000 đồng hai bên thoả thuận khi nào bà T1 hoàn tất việc tách thửa sang tên thì sẽ trả đủ tiền cho bà T1.
Nay yêu cầu Tòa án giải quyết công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa vợ chồng anh chị với bà T1 về diện tích đất như trên, đồng ý trả cho bà Hà Thị T1 số tiền nhận chuyển nhượng đất còn nợ 171.383.000 đồng.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Nguyễn Chí L1, anh Nguyễn Hoài L2 và anh Nguyễn Duy T3 (là các con của bà Hà Thị T1 và ông Nguyễn Thái N2) trình bày: Thống nhất ý kiến của bà Hà Thị T1, ngoài ra không có yêu cầu nào khác.
* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Lê Thị Cẩm T4, cháu Nguyễn Chí P, cháu Nguyễn Chí Đ, cháu Nguyễn Thị Ngọc M (là vợ và các con của anh Nguyễn Chí L1) trình bày: Thống nhất ý kiến của bà Hà Thị T1, ngoài ra không có yêu cầu nào khác.
Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên Hải đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T; chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N.
Buộc bà Hà Thị T1 trả cho bà Hà Thị T6, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N giá trị quyền sử dụng đất tương ứng với diện tích 363,96m² thuộc thửa 405, diện tích 252,86m² thuộc thửa 246 mỗi người với số tiền 338.758.345 đồng.
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu độc lập của chị Trần Thị Thu L3.
Công nhận hiệu lực hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hà Thị T1 và chị Trần Thị Thu L3 với diện tích đất chuyển nhượng là 1.363,9m² thuộc thửa 405, tờ bản đồ số 3, đất toạ lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Buộc bà Hà Thị T1 phải tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất theo quy định pháp luật đối với diện tích đất chuyển nhượng là 1.363,9m² thuộc thửa 405, tờ bản đồ số 3; đất toạ lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Công nhận quyền sử dụng đất cho chị Trần Thị Thu L3 với diện tích đất chuyển nhượng là 1.363,9m² thuộc thửa 405, tờ bản đồ số 3; đất toạ lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Trong trường hợp bà Hà Thị T1 không tiếp tục thực hiện hợp đồng chuyển nhượng quyền sử đối với diện tích đất chuyển nhượng là 1.363,9m² thuộc thửa 405, tờ bản đồ số 3; đất toạ lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh thì chị Trần Thị Thu L3 được quyền liên hệ với cơ quan nhà nước có thẩm quyền để đăng ký cấp quyền sử dụng đất theo qui định của pháp luật. Buộc bà Hà Thị T1 phải giao Bản chính Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất thửa 405, tờ bản đồ số 3; đất toạ lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh cho cơ quan nhà nước có thẩm quyền thực hiện việc chỉnh lý biến động khi cấp quyền sử dụng đất cho chị Trần Thị Thu L3 đối với diện tích đất được Toà án công nhận quyền sử dụng đất.
- Buộc chị Trần Thị Thu L3 phải trả cho bà Hà Thị T1 số tiền nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất còn nợ là 171.383.000 đồng.
- Công nhận quyền sử dụng đất chung cho bà Hà Thị T1, bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N đối với diện tích 571,1m² thuộc thửa 246, tờ bản đồ số 19, loại đất trồng cây lâu năm; đất toạ lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Bà Hà Thị T1 được tiếp tục công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 405, tờ bản đồ số 3, diện tích là 5.187,4m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do UBND huyện D (nay là UBND thị xã D) cấp vào ngày 08/8/1995 hiện chỉnh trang 4 cho bà Hà Thị T1 đứng tên. Đất toạ lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Bà Hà Thị T1 được tiếp tục công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 246, tờ bản đồ số 9, diện tích là 4.551,6m² theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất do Sở Tài nguyên và môi trường tỉnh T cấp vào ngày 29/6/2022 do bà Hà Thị T1 đứng tên. Đất toạ lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
- Đối với phần di sản thừa kế mà anh Nguyễn Chí L1, anh Nguyễn Hoài L2, anh Nguyễn Duy T3 được hưởng thừa kế thế vị là quyền sử dụng đất diện tích 363,96m² thuộc thửa 405 và diện tích 252,86m² thuộc thửa 246 do không yêu cầu nên không xem xét giải quyết.
- Đối với tài sản trên thửa 405 của anh Nguyễn Chí L1 do không có ai tranh chấp nên anh Nguyễn Chí L1 được thực hiện quyền sở hữu tài sản theo quy định.
Đối với tài sản trên thửa 246 của anh Nguyễn Hoài L2 do không có ai tranh chấp nên anh Nguyễn Hoài L2 được thực hiện quyền sở hữu tài sản theo quy định.
Ngoài ra án sơ thẩm còn tuyên về vị trí, kích thước phần đất giao cho chị Thu L3, tuyên đình chỉ xét xử phần đương sự đã rút, tuyên lãi suất chậm thi hành án, quyền thỏa thuận, tự nguyện thi hành án, tuyên về án phí và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
- Ngày 31/7/2023 bị đơn bà T1 kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, không chấp nhận yêu cầu độc lập của ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N.
- Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N cùng kháng cáo yêu cầu sửa án sơ thẩm theo hướng công nhận quyền sử dụng đất tại thửa 405, tờ bản đồ số 3 và thửa 166, tờ bản đồ số 3 (nay là thửa 246, tờ bản đồ số 19) là di sản thừa kế của cha mẹ các ông, bà và chấp nhận yêu cầu khởi kiện của các ông, bà; không chấp nhận yêu cầu độc lập của bà Trần Thị Thu L3 và tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Trần Thị Thu L3 với bị đơn bà Hà Thị T1 là vô hiệu.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
- Nguyên đơn không rút đơn khởi kiện, người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan không rút đơn yêu cầu độc lập, các đương sự không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án, không đương sự nào bổ sung chứng cứ mới.
- Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Nguyễn Thị T cho rằng: Đất tranh chấp có nguồn gốc của cụ H2 và được cụ Hoa đăng k kê khai năm 1983, năm 1992 ông N2 là con đứng tên kê khai nhiều thửa đất của cụ H2 trên 35.000m² trong đó có 02 thửa đất 166 và 405 diện tích như cấp sơ thẩm đã xét xử 11.102 m². Việc ông N2 kê khai được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và sau khi ông N2 chết chuyển tên cho bà T1 đứng tên đều không có tài liệu chứng minh có sự đồng ý của cụ H2.
Đất của cụ H2 để lại chưa phân chia nhưng bà T1 chuyển nhượng cho vợ chồng anh V là không đúng pháp luật. Đề nghị Hội đồng xét xử sửa án sơ thẩm, chia thừa kế theo pháp luật tài sản của cụ H2 thửa đất 166 và 405 (sau khi trừ phần đất mộ), hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T1 và vợ chồng anh V, yêu cầu cho bà T được nhận quyền sử dụng đất và hoàn tiền phần ông N2 được hưởng cho bà T1.
- Bà Nguyễn Thị T thống nhất ý kiến trình bày của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp.
- Người đại diện hợp pháp của bị đơn bà Hà Thị T1, ông Thái Săm B trình bày: Sau khi ông N2 chết năm 2003 đến khi cụ H2 mất năm 2006 không ai tranh chấp gì phần đất này, đến khi nhà nước làm lộ giá đất tăng thì mới phát sinh tranh chấp.
Đất tranh chấp cấp cho hộ ông N2 vào năm 1995, sau khi ông N2 chết, bà H2 là thành viên hộ gia đình không có ý kiến gì và đồng ý nên bà T1 mới được điều chỉnh trang tư sang tên từ hộ ông N2 qua tên cá nhân bà T1. Mặc dù tài liệu chuyển quyền sử dụng đất không thu thập được trả lời bị thất lạc, bà T1 cũng không còn lưu giữ nhưng theo quy định của pháp luật việc chuyển nhượng quyền sử dụng đất trong trường hợp này phải được sự đồng ý của cụ H2, giấy chứng nhận mang tên bà T1 là hợp pháp, chưa bị hủy bỏ nên vẫn còn giá trị pháp lý. Tuy nhiên tại phiên tòa phúc thẩm bà T1 thay đổi ý kiến chấp nhận đất tranh chấp cấp cho hộ gia đình gồm có cụ H2, ông N2 và bà T1 nên thống nhất chia thừa kế theo pháp luật phần của cụ H2, đề nghị Tòa án chia bằng hiện vật vì bà T1 không có khả năng thanh toán giá trị cho các đồng thừa kế. Đối với phần đất bà T1 đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh V đề nghị Tòa án công nhận.
- Chị Trần Thị Thu L3 và anh Nguyễn Văn V trình bày: Chúng tôi mua đất của bà T1 có xác nhận của địa phương, đề nghị bà T1 tiếp tục thực hiện hợp đồng, chúng tôi đồng ý trả phần tiền còn lại cho bà T1.
- Các đương sự khác không tham gia ý kiến tranh luận.
* Ý kiến phát biểu quan điểm của kiểm sát viên:
Qua phân tích các tình tiết của vụ án, vị đại diện viện kiểm sát cho rằng 02 thửa đất tranh chấp 166 và 405 có căn cứ cấp cho hộ gia đình ông N2, bà T1 và cụ H2. Cả 03 thửa đất đều tiếp giáp lộ nhựa và có thể phân chia được bằng hiện vật, các con cụ H2 kháng cáo yêu cầu phân chia bằng hiện vật. Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết chia 02 thửa đất nên trên (sau khi trừ phần đất mộ) cho hộ gia đình, xác định cụ H2 được quyền sử dụng 1/3 rồi chia thừa kế theo pháp luật phần đất của cụ H2; tính công sức gìn giữ, tôn tạo đất cho bà T1; công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T1 và anh V, chị Thu L3 là có căn cứ. Nhưng giao toàn bộ đất cho bà T1, buộc bà T1 thanh toán giá trị cho các đồng thừa kế là không đảm bảo quyền lợi của các bên, ý kiến của bị đơn bà T1 cũng đề nghị chia hiện vật. Đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự sửa án sơ thẩm, chia thừa kế cho các đương sự bằng hiện vật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị T và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1 và bà Nguyễn Thị N cho rằng cụ Nguyễn Thị H3 (chết năm 2006) là mẹ ruột trước khi chết để lại nhiều thửa đất, trong đó có thửa 166 diện tích 5.122,7 m² và thửa 405 diện tích 6.551,3 m² (sau đó tách ra thành thửa 927 diện tích 5.187,4 m² và thửa 758 diện tích 1.363,9 m²). Toàn bộ 02 phần đất nêu trên hiện do bị đơn bà Hà Thị T1 là con dâu của cụ H3 (em chồng của ông H, bà N1, bà H1, bà T và là chị dâu của bà N) quản lý, sử dụng. Trong thửa đất 166 có phần đất diện tích 571,1 m² anh em trong gia đình thống nhất sử dụng vào việc mộ để chôn cất cụ H3 và ông Nguyễn Thái N2 (chết năm 2003, là chồng bà T1). Như vậy, tổng diện tích đất còn lại là: 5.122,7m² – 571,1 m² = 11.102,9 m². Do bà T1 đã chuyển nhượng cho vợ chồng anh V, chị L3 diện tích 1.363,9 m² thuộc một phần của thửa 405 (chiết thành thửa 758) nên yêu cầu Tòa án giải quyết hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà T1 và vợ chồng anh V, chị L3, yêu cầu chia di sản của cụ H3 theo pháp luật ra 06 phần bằng nhau (trong đó chia cho bà T1 01 phần là suất thừa kế của ông N2). Phần đất của mỗi người được hưởng yêu cầu bà T1 giao trả, thống nhất giao cho bà N quản lý, anh chị em phân chia sau. Từ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và những người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan như trên Tòa án cấp sơ thẩm đã đưa tất cả hàng thừa kế của cụ H3, đưa người nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất anh V và chị L3, đưa người cùng quản lý thửa đất 166, 405 anh Chí L1 và 03 người con của anh L1 (C, Chí Đ, Ngọc M), anh Hoài L2 cùng vợ là chị Cẩm T4 vào tham gia tố tụng là đầy đủ. Căn cứ vào yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và yêu cầu của người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan thì quan hệ pháp luật phải giải quyết là tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất và tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất thì mới đúng bản chất của vụ án. Tòa án cấp sơ thẩm xác định “tranh chấp về đòi lại di sản thừa kế là quyền sử dụng đất và hủy hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất” là chưa chính xác, nhưng quyết định chia di sản thừa kế của cụ H3, có xem xét đến tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là giải quyết hết yêu cầu của đương sự.
[2] Về nội dung vụ án:
[3] Đối với thửa đất 166 và 405 các đương sự thống nhất xác định có nguồn gốc của cụ H3 (được bên chồng cụ H3 phân chia sau khi cụ C hy sinh). Cụ H3 sống chung với ông N2, khoảng năm 1978-1979 bà T1 và ông N2 cưới nhau thì sống với cụ H3 và cùng canh tác, sử dụng 02 thửa đất nêu trên đến khi ông N2 và cụ H3 chết. Năm 1983 cụ H3 kê khai đăng ký, năm 1993 được sự đồng ý của cụ H3 (các đương sự khai thống nhất tại phiên tòa sơ thẩm ngày 31/5/2023 và tại phiên tòa phúc thẩm) ông N2 đứng tên kê khai đăng ký xin cấp đất cho hộ có 03 người (cụ H3, ông N2, bà T1), ngày 08/8/1995 Ủy ban nhân dân huyện D (nay là Thị xã D) cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất cho ông N2 đứng tên hộ gia đình. Như vậy, có căn cứ xác định có sự chuyển giao quyền sử dụng đất của cụ H3 sang hộ gia đình gồm cụ H3 và vợ chồng ông N2, bà T1. Tòa án sơ thẩm xác định thửa đất 166 và 405 Nhà nước cấp đất cho hộ và quyết định chia làm 03 phần là có căn cứ pháp lý.
[4] Về sự chuyển giao đất cấp từ hộ gia đình cho cá nhân bà T1: Tại phiên tòa phúc thẩm bà T1 thừa nhận đất hiện nay do bà đứng tên các thửa 246 diện tích 4.551,6 m² (sau khi trừ diện tích đất sử dụng vào việc mộ), thửa 758 diện tích 1.363,9 m², thửa 927 diện tích 5.187,4 m² là tài sản chung của hộ gia đình gồm có bà, ông N2 và cụ H3, thống nhất chia ra làm 03 phần bằng nhau, phần di sản của cụ H3 yêu cầu chia bằng hiện vật, chia bằng tiền như Tòa sơ thẩm bà không có khả năng. Từ lời khai của các bên đương sự được khẳng định tại phiên tòa phúc thẩm, án sơ thẩm xác định quyền sử dụng đất cấp cho hộ gia đình từ đó chia di sản phần phần đất của cụ H3 theo pháp luật là phù hợp với các tình tiết khách quan của vụ án.
[5] Xét giá trị tài sản: Sau khi có kết quả định giá tài sản các bên đương sự không ai khiếu nại gì, Tòa án cấp sơ thẩm căn cứ Biên bản định giá tài sản ngày 03/4/2023 (bút lục 261 đến 271) để xác định giá trị đất tranh chấp của 03 thửa đất nêu trên có tổng giá trị bằng 6.871.910.000 đồng (sau khi trừ diện tích đất mộ), phần tài sản của cụ H3, ông N2, bà T1 mỗi người có giá trị bằng 2.290.636.600 đồng.
[6] Xét về người được hưởng di sản và công sức gìn giữ tôn tạo đất: Ông N2 chết trước cụ H3, hàng thừa kế thứ nhất của ông N2 gồm có cụ H3, bà T1 và 03 người con chung giữa ông N2 và bà T1 (anh Nguyễn Chí L1, anh Nguyễn Hoài L2 và anh Nguyễn Duy T3), nên di sản của ông N2 được chia làm 05 phần bằng nhau, cụ H3 được hưởng 01 phần bằng 458.127.320 đồng (2.290.636.600₫ : 5 = 458.127.320đ), nên di sản của cụ H3 có tổng giá trị bằng 2.748.763.920 đồng (2.90.636.600đ + 458.127.320d = 2.748.763.920₫). Tòa sơ thẩm xác định công sức gìn giữ di sản của bà T1 bằng 01 suất thừa kế theo pháp luật từ đó chia di sản của cụ H3 làm 07 phần là đảm bảo quyền lợi của bà T1. Như vậy di sản của cụ H3 đem chia thừa kế theo pháp luật thì hàng thừa kế thứ nhất của cụ H3 gồm ông H, bà T, bà H1, bà N, ông N2, bà N1 mỗi người được hưởng có giá trị bằng 392.680.560 đồng (2.748.763.920₫ : 7 = 392.680.560đ). Đối với di sản của ông N2, phần di sản thừa kế thế vị của các con ông N2 đối với di sản của cụ H3 do bà T1 và các con bà T1 không yêu cầu, nên Tòa sơ thẩm không giải quyết là đúng quy định của pháp luật.
[7] Về phân chia di sản và tính hợp pháp của hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất:
Xét thửa đất 927 diện tích 5.187,4 m² hiện nay anh L2 (con bà T1) chỉ sử dụng 01 phần làm nhà ở diện tích 397,7 m², phần còn lại là đất nuôi trồng thủy sản nhưng có vị trí thuận lợi vì 02 đầu có lộ nhựa đi qua. Các đương sự bên nguyên đơn yêu cầu phân chia bằng hiện vật là có căn cứ, Tòa sơ thẩm chia bằng tiền là chưa đảm bảo quyền và lợi ích của các bên đương sự. Theo sơ đồ khu đất (Kèm theo Công văn số 711/CNTXDH ngày 22/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D) thì phần B có diện tích 1.165,3 m² có giá trị 2.000.000 đồng/m² = 2.330.600.000 đồng. Tổng giá trị tài sản được hưởng thừa kế của ông H, bà T, bà H1, bà N, bà N1 bằng 1.963.402.800 đồng (392.680.560đ x 5 = 1.963.402.800đ). Như vậy giá trị đất 1.165,3 m² nên trên so với tài sản được hưởng chênh lệch số tiền 367.197.200 đồng (2.330.600.000₫ - 1.963.402.800đ = 367.197.200đ) nên ông H, bà T, bà N, bà H1, bà N1 có trách nhiệm hoàn trả cho bà T1. Việc bà T1 chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị Thu L3 diện tích đất 1.363,9m² thuộc thửa 758 là trong phạm vi đất thuộc quyền sử dụng của bà T1, không ảnh hưởng đến quyền lợi của các đồng thừa kế của cụ H3, bên chuyển nhượng và bên nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất không tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng nên cần công nhận như án sơ thẩm.
[8] Từ những nhận định trên, xét thấy kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N được chấp nhận một phần, kháng cáo của bà Hà Thị T1 không có căn cứ chấp nhận, nên chấp nhận ý kiến phát biểu của Kiểm sát viên tại phiên tòa sửa án sơ thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308, Điều 309 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015.
Áp dụng Điều 118 của Bộ luật dân sự năm 1995; các điều 108, 109, 631, 634, 674, 675, 676, 677, 733, 734, 735 của Bộ luật dân sự năm 2005; các điều 166, 623, 649, 650, 651, 652, 129, 500 của Bộ luật dân sự năm 2015; các điều 20, 26, 100, 166, 170, 179 của Luật Đất đai năm 2013; các điều 12, 15, 26, 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH 14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí về lệ phí Tòa án.
Chấp nhận một phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N. Không chấp nhận kháng cáo của bà Hà Thị T1.
Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 14/2023/DS-ST ngày 17 tháng 7 năm 2023 của Tòa án nhân dân thị xã Duyên, tỉnh Trà Vinh.
Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N về yêu cầu chia di sản thừa kế. Xác định tài sản thừa kế mỗi người được nhận trong khối di sản của cụ H3 chết để lại bằng 392.680.560đ (ba trăm chín mươi hai triệu sáu trăm tám mươi ngàn năm trăm sáu mươi đồng).
Ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị N1 được quyền sử dụng chung diện tích đất 1.165,3 m² có giá trị bằng 2.330.600.000đ (hai tỷ ba trăm ba mươi triệu sáu trăm ngàn đồng). Phần đất ông H, bà T, bà H1, bà N, bà N1 được quyền sử dụng chung có tứ cận như sau:
- Hướng Đông giáp thửa 927, có chiều dài 90,3m;
- Hướng Tây giáp thửa 1180 và giáp kênh, có chiều dài 88,8m;
- Hướng Nam giáp tuyến đường nhựa số 01, có chiều dài 13,1m;
- Hướng Bắc giáp thửa 927, có chiều dài 13,0m;
(Thuộc phần B sơ đồ khu đất kèm theo Công văn số 711/CNTXDH ngày 22/4/2024 của Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai thị xã D được đính kèm theo Bản án này).
Buộc ông Nguyễn Văn H, bà Nguyễn Thị T, bà Nguyễn Thị H1, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị N1 có trách nhiệm thanh toán giá trị tài sản chênh lệch so với giá trị tài sản được nhận cho bà Hà Thị T1 với số tiền 367.197.200đ (ba trăm sáu mươi bảy triệu một trăm chín mươi bảy ngàn hai trăm đồng).
- Công nhận hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất giữa bà Hà Thị T1 với anh Nguyễn Văn V, chị Trần Thị Thu Lâm p đất có diện tích 1.363,9m², thuộc thửa 405, tờ bản đồ số 3, đất toạ lạc tại ấp G, xã L, thị xã D, tỉnh Trà Vinh.
Anh Nguyễn Văn V và chị Trần Thị Thu L3 có trách nhiệm trả cho bà Hà Thị T1 số tiền còn nợ là 171.383.000đ (một trăm bảy mươi mốt triệu ba trăm tám mươi ba ngàn đồng).
- Về chi phí tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm:
Tổng chi phí là 8.180.000 đồng, bà Nguyễn Thị T đã nộp tạm ứng và chi xong. Buộc bà Nguyễn Thị T, ông Nguyễn Văn H4, bà Nguyễn Thị N1, bà Nguyễn Thị N, bà Nguyễn Thị H1 phải chịu số tiền 4.090.000đ (bốn triệu không trăm chín mươi ngàn đồng), bà Hà Thị T1 phải chịu số tiền 4.090.000đ (bốn triệu không trăm chín mươi ngàn đồng) để hoàn trả lại cho bà Nguyễn Thị T.
- Về án phí dân sự phúc thẩm: Các đương sự không phải chịu.
Các quyết định khác của án sơ thẩm không bị kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Khi bản án có hiệu lực pháp luật, kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền, hàng tháng bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật dân sự năm 2015.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành án theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7,7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Trần Văn Lực |
Bản án số 57/2024/DS-PT ngày 26/04/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH về tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng qsd đất
- Số bản án: 57/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp thừa kế quyền sử dụng đất, tranh chấp yêu cầu hủy hợp đồng chuyển nhượng QSD đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 26/04/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TRÀ VINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: T/c thừa kế QSDĐ
