Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN BÙ ĐĂNG

TỈNH BÌNH PHƯỚC

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 57/2024/HNGĐ-ST
Ngày: 22/7/2024
“Về: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”.

NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Huệ.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Chín
  2. Bà Nguyễn Thị Lê.

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Thế Vinh – Thẩm phán Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

- Viện kiểm sát nhân dân huyện Bù Đăng không tham gia phiên toà.

Trong ngày 22 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân nhân dân huyện B, tỉnh Bình Phước mở phiên tòa xét xử sơ thẩm công khai vụ án Hôn nhân gia đình thụ lý số: 19/2024/TLST-HNGĐ, ngày 28 tháng 02 năm 2024, về “Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 65/2024/QĐXXST-HNGĐ, ngày 18 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Bà Mai Thị Ngọc D, sinh năm 1968
Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước

- Bị đơn: Ông Trần Hoàng T, sinh năm 1969
Nơi cư trú: Thôn A, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước
(Nguyên đơn xin vắng mặt, bị đơn vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

* Theo đơn khởi kiện ngày 24/01/2024, trong quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa nguyên đơn chị Mai Thị Ngọc D trình bày:

Bà và ông Trần Hoàng T tự nguyện tìm hiểu và chung sống với nhau từ năm 2000, đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước. Quá trình sống chung vợ chồng mỗi người có tính cách sống khác nhau, mỗi người mỗi ý, gia đình không hòa hợp, hay xảy ra cãi nhau và đã sống ly thân hơn 03 năm qua. Trong quá trình ly thân không ai quan tâm đến ai, hạnh phúc gia đình không còn vì vậy xin được ly hôn với ông Trần Hoàng T.

Về con chung: Bà và ông T có 03 con chung là Trần Mai Thảo N, sinh năm 1994 đã có gia đình riêng, Trần Mai Duy Nguyên s năm 2000 hiện đang học Đại học và Trần Hải Đ sinh ngày 03/5/2009 hiện đang ở với bà D. Đối với 2 con chung Trần Mai Thảo N và Trần Mai Duy N1 đã thành niên bà D không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con. Đối với con chung Trần Hải Đ bà có nguyện vọng tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung, nợ chung: Bà và ông T không yêu cầu Tòa án giải quyết.

* Đối với bị đơn ông Trần Hoàng T: Quá trình giải quyết vụ án Tòa án đã tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng (thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa...) cho bị đơn Trần Hoàng T, nhưng ông T không hợp tác làm việc, không gửi ý kiến cho Tòa án để xem xét, không tham gia phiên tòa sơ thẩm, nên Toà án không ghi nhận được ý kiến, yêu cầu của ông T đối với yêu cầu khởi kiện của bà D.

* Ý kiến các con chung của ông T bà D:

- Trần Mai Thảo N: Xác nhận bà Mai Thị Ngọc D và ông Trần Hoàng T là cha mẹ ruột của chị. Hiện nay cha, mẹ chị đang được Tòa án nhân dân huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước giải quyết vụ, việc ly hôn, chị đã 18 tuổi, có công việc ổn định. Nay Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa cha mẹ chị, chị không có ý kiến, yêu cầu gì đối với cha, mẹ chị.

- Trần Mai Duy N1: Xác nhận bà Mai Thị Ngọc D và ông Trần Hoàng T là cha mẹ ruột của anh. Hiện nay anh đã 18 tuổi và đang học tại Đại học. Nay Tòa án giải quyết việc ly hôn giữa cha mẹ anh, anh không có ý kiến, yêu cầu gì đối với cha, mẹ anh.

- Trần Hải Đ: Xác nhận cha mẹ ruột của con là Mai Thị Ngọc D và Trần Hoàng T, cư trú tại thôn A, xã N, huyện B. Con mới học xong lớp 9 tại Trường Đ1, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh. Thời gian qua con sống chung với mẹ con ở Thành phố Hồ Chí Minh và học tập tại đây, còn ba con ở tại thôn A, xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước. Trường hợp Toà án giải quyết cho ba mẹ con ly hôn, con có nguyện vọng tiếp tục được mẹ trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc để con được học tập cho đến khi trưởng thành. Ngoài ra, không có ý kiến, yêu cầu gì khác.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định về vụ án như sau:

[1] Về tố tụng: Tại phiên tòa hôm nay bà D và ông T vắng mặt, trong đó bà D có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, ông T vắng mặt lần thứ hai tại phiên toà không có lý do, nên Hội đồng xét xử căn cứ các điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự xét xử vắng mặt các đương sự.

[2] Về nội dung:

- Về quan hệ hôn nhân: Bà Mai Thị Ngọc D và ông Trần Hoàng T tự nguyện tìm hiểu tiến tới hôn nhân, đăng ký kết hôn và được Ủy ban nhân dân xã N, huyện B, tỉnh Bình Phước cấp Giấy chứng nhận kết hôn số 01/00, ngày 10/11/2000 nên quan hệ hôn nhân giữa bà D và ông T là hôn nhân hợp pháp.

Theo bà D trình bày thì hai vợ chồng sống chung hạnh phúc một thời gian thì phát sinh mâu thuẫn, nguyên nhân vợ chồng mỗi người có tính cách sống khác nhau, mỗi người mỗi ý, gia đình không hòa hợp, hay xảy ra cãi nhau và đã sống ly thân hơn 03 năm qua, quá trình ly thân không ai quan tâm đến ai, không có giải pháp để hàn gắn mâu thuẫn vợ chồng, hạnh phúc gia đình không còn đạt được. Quá trình Tòa án giải quyết vụ án đã tống đạt hợp lệ thông báo thụ lý vụ án; giấy triệu tập đương sự; thông báo phiên họp kiểm tra việc giao nộp tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; quyết định đưa vụ án ra xét xử; quyết định hoãn phiên tòa để ông T thực hiện quyền và nghĩa vụ của mình đối với yêu cầu khởi kiện của bà D, nhưng ông T không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến yêu cầu để Tòa xem xét, không tham gia phiên họp và phiên tòa sơ thẩm, nên coi như ông T tự từ bỏ quyền tham gia tố tụng để tự chứng minh bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của mình đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Từ những căn cứ trên có cơ sở xác định mâu thuẫn vợ chồng giữa bà D và ông T là trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được nên yêu cầu ly hôn của bà D đối với ông T là có cơ sở cần được chấp nhận.

- Về con chung: Bà D và ông T có 03 con chung, trong đó 02 con chung là Trần Mai Thảo N và Trần Mai Duy N1 đã thành niên, các bên không yêu cầu giải quyết nghĩa vụ trực tiếp nuôi dưỡng và cấp dưỡng nuôi con nên Hội đồng xét xử không xem xét.

Đối với con chung Trần Hải Đ, sinh ngày 03/5/2009 kể từ khi hai vợ chồng ông T bà D ly thân, bà D là người trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục. Nay bà D có nguyện vọng được tiếp tục trực tiếp nuôi dưỡng chăm sóc, giáo dục con cho đến khi thành niên, không yêu cầu ông T cấp dưỡng nuôi con.

Quá trình giải quyết vụ án ông T không đến Tòa án làm việc, không gửi ý kiến yêu cầu để Tòa xem xét đối với yêu cầu trực tiếp nuôi con của bà D. Hiện nay con chung Trần Hải Đ cũng có nguyện vọng được mẹ là bà D trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục; vì vậy, cần giao con chung Trần Hải Đ cho bà D có nghĩa vụ trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục cho đến khi con đủ 18 tuổi là phù hợp.

- Về nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con: Không có ai yêu cầu giải quyết nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con nên không xem xét.

- Về tài sản chung, nợ chung: Các đương sự không yêu cầu giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét.

[3] Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

- Căn cứ Điều 51; Điều 56; Điều 81, Điều 82; Điều 83; Điều 84 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;

- Căn cứ Khoản 1 Điều 28; Điều 35; Khoản 4 Điều 147; các điều 161, 218, 227, 228 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

- Căn cứ vào Nghị quyết số 326/ 2016/UBTVQH16 quy định về án phí và lệ phí Tòa án.

1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Mai Thị Ngọc D đối với bị đơn Trần Hoàng T; xử cho bà Mai Thị Ngọc D được ly hôn với ông Trần Hoàng T.

2. Về con chung: Giao cho bà Mai Thị Ngọc D có trách nhiệm trực tiếp nuôi dưỡng, chăm sóc, giáo dục con chung của ông T bà D là Trần Hải Đ, sinh ngày 03/5/2009 cho đến khi con chung thành niên; Không đặt ra nghĩa vụ cấp dưỡng nuôi con.

Sau khi ly hôn người không trực tiếp nuôi con có quyền, nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, giáo dục con mà không ai được cản trở; đồng thời có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người trực tiếp nuôi con theo quy định của pháp luật.

Người không trực tiếp nuôi con mà lạm dụng việc thăm nom, cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó.

3. Về án phí: Bà Mai Thị Ngọc D phải chịu 300.000đ án phí hôn nhân gia đình sơ thẩm, được khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp trước là 300.000đ theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số 0009050 ngày 28/02/2024 của Chi Cục Thi hành án dân sự huyện Bù Đăng, tỉnh Bình Phước.

4. Quyền kháng cáo: Nguyên đơn, bị đơn được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản sao bản án hoặc kể từ ngày bản án được tống đạt hợp lệ.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh Bình Phước;
  • - VKSND huyện Bù Đăng;
  • - CCTHADS huyện Bù Đăng;
  • - UBND xã Nghĩa Trung;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Lưu HS.

T/M.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa

(Đã ký)

Nguyễn Văn Huệ

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HNGĐ-ST ngày 22/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC về tranh chấp ly hôn, nuôi con chung

  • Số bản án: 57/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn, nuôi con chung
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 22/07/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN BÙ ĐĂNG, TỈNH BÌNH PHƯỚC
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án hôn nhân và gia đình về mâu thuẫn gia đình
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger