|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 57/2023/HS-PT Ngày: 03/11/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Nguyên Tùng;
Các Thẩm phán: Ông Lê Ngọc Minh và bà Đậu Thị Quy.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Thu Linh – Thẩm tra viên, Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Phú Yên tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Minh Hồng – Kiểm sát viên Trung cấp.
Ngày 03 tháng 11 năm 2023, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự phúc thẩm thụ lý số: 54/2023/TLPT-HS ngày 29 tháng 9 năm 2023 đối với bị cáo Nguyễn Đức V, do có kháng cáo của bị cáo và bị kháng nghị của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa đối với Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2023/HS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên.
- Bị cáo có kháng cáo và bị kháng nghị: Nguyễn Đức V, sinh năm 1996; tại tỉnh Phú Yên. Nơi cư trú: Khu phố P, phường H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên; nghề nghiệp: Làm thuê; trình độ văn hóa (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn H, sinh năm 1970 và bà Nguyễn Thị Kim T, sinh năm 1978; tiền án, tiền sự: Không; tạm giam từ ngày 05/5/2023; có mặt.
- Bị hại: Vợ chồng ông Trần Đại N, sinh năm 1990 và bà Ngô Thị Thúy Q, sinh năm 1992. Cùng nơi cư trú: Thôn X, xã A, thành phố T, tỉnh Phú Yên; có đơn xin xét xử vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Trong tháng 3/2021, vợ chồng ông Trần Đại N, bà Ngô Thị Thúy Q có nhu cầu mua đất nên nhờ Nguyễn Đức V giới thiệu giúp. Vàng biết Phạm Huy C đang rao bán thửa đất số 1208, tờ bản đồ số 16-D, có diện tích 126,7m² ở thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên với giá 650.000.000 đồng, thửa đất này do bà Nguyễn Thị Thái N1 (mẹ C) đứng tên chủ sử dụng đất. Đến ngày 30/3/2021, V giới thiệu cho vợ chồng ông N mua thửa đất trên, vợ chồng ông N đồng ý mua và lập hợp đồng đặt cọc cho V 20.000.000 đồng. Cùng ngày, V gặp C thoả thuận thì C đồng ý chuyển nhượng cho V thửa đất nêu trên với giá 630.000.000 đồng. Vàng đặt cọc cho C 10.000.000 đồng, thoả thuận miệng trong 15 ngày kể từ ngày đặt cọc phải đưa đủ tiền mua đất nếu không sẽ mất cọc. Sau đó, V và vợ chồng ông N cũng thoả thuận giá chuyển nhượng thửa đất trên là 630.000.000 đồng.
Gần đến thời hạn giao tiền, V liên hệ trao đổi với vợ chồng ông N thì được biết vợ chồng ông N chưa đủ tiền nên V sẽ không có tiền thanh toán đúng hạn cho C. Lúc này, V liên lạc với C để thoả thuận gia hạn thời hạn trả tiền chuyển nhượng đất thì C yêu cầu phải đặt cọc thêm 50.000.000 đồng. Do không có tiền đặt cọc nên V không được gia hạn và mất số tiền đặt cọc 10.000.000 đồng mà V đã giao cho C trước đó, đồng thời thoả thuận chuyển nhượng đất giữa C và V bị huỷ bỏ, nhưng V không báo cho vợ chồng ông N biết sự việc này, vì V sợ nếu biết phải đóng thêm 50.000.000 đồng tiền cọc nữa thì vợ chồng ông N không đồng ý, sẽ huỷ bỏ việc mua bán đất và V phải trả lại 20.000.000 đồng tiền cọc đã nhận, phải bồi thường tiền cọc cho vợ chồng ông N theo Hợp đồng đặt cọc ngày 30/3/2021. Thời điểm này, vợ chồng ông N tin tưởng việc chuyển nhượng thửa đất vẫn đang thực hiện bình thường.
Do bản thân V đang nợ tiền của người khác, không có tiền tiêu xài nên V đã nảy sinh ý định đặt làm giả 01 giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất nhằm chiếm đoạt số tiền mua đất còn lại của vợ chồng ông N. Cụ thể:
Ngày 15/4/2021, V nói dối với vợ chồng ông N là đưa cho V 10.000.000 đồng để gia hạn thời hạn thanh toán mua đất, vợ chồng ông N tưởng thật nên giao tiền, giấy nhận tiền do Ngô Xuân Quỳnh N2 (bạn gái của V) viết giúp. Sau khi nhận được tiền, V liên hệ với đối tượng có tên tài khoản Zalo “Tài Lộc” (chưa rõ lai lịch) có số điện thoại 0337.410.xxx và cung cấp thông tin thửa đất số 1208 tờ bản đồ số 16-D, có diện tích 126,7m² ở thôn P, xã H, thị xã Đ cùng với thông tin của vợ chồng ông N là người đứng tên quyền sử dụng đất để đặt làm giả giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, với giá 11.000.000 đồng.
Ngày 19/4/2021, tại quán C1, Phường 1, thành phố T. Vàng tiếp tục nói dối vợ chồng ông N đưa 200.000.000 đồng để V làm thủ tục sang tên, chuyển nhượng quyền sử dụng đất. Vàng lập Hợp đồng đặt cọc đề ngày 18/4/2021 (thể hiện giá chuyển nhượng 630.000.000 đồng, V đã nhận 230.000.000 đồng) để vợ chồng ông N tin tưởng giao tiền và hẹn khi nào giao giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất, thì vợ chồng ông N sẽ đưa số tiền 400.000.000 đồng còn lại.
Đến ngày 15/5/2021, sau khi nhận được giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả thì V đem đến đưa cho bà Q (vợ ông N) để nhận số tiền 400.000.000 đồng. Nhưng do thấy giấy chứng nhận nêu trên thiếu thông tin nên bà Q hẹn kiểm tra lại rồi sẽ đưa tiền sau. Sau đó, vợ chồng ông N, bà Q đem giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất mà V đưa, đến Ủy ban nhân dân thị xã Đ để kiểm tra, thì phát hiện giấy này là giả nên đến Công an thị xã Đ báo cáo sự việc.
Tại Kết luận giám định số 191/GĐ-PC09 ngày 28/6/2021 của Phòng K Công an tỉnh P đã kết luận: Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất số: CU 685987; đứng tên người sử dụng đất ông Trần Đại N, sinh năm 1990, địa chỉ thường trú: X, xã P, huyện K, tỉnh Đăk Lăk và bà Ngô Thị Thúy Q, sinh năm 1992, địa chỉ thường trú: L, xã A, TP T, tỉnh Phú Yên; thửa đất số 1208, tờ bản đồ đồ số 16-D, địa chỉ thửa đất thôn P, xã H, thị xã Đ, tỉnh Phú Yên, diện tích 126,7m²; số vào sổ cấp giấy chứng nhận CH......., do UBND thị xã Đ cấp ngày 15 tháng 05 năm 2021 là giấy giả, bằng phương pháp in phun màu.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số: 82/2023/HS-ST ngày 17/8/2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên đã tuyên bị cáo Nguyễn Đức V phạm tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”; Áp dụng Điểm a, Khoản 3 Điều 174; Điểm b, s Khoản 1, Khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; Điểm b, Khoản 3 Điều 341; Điểm s, Khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự về tội “Sử dụng tài liệu giải của cơ quan, tổ chức”; Điều 55 Bộ luật Hình sự; phạt: Bị cáo Nguyễn Đức V 07 (B) năm tù về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản”; 03 (Ba) năm 06 (S) tháng tù về tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”. Tổng hợp hình phạt chung của 02 tội là 10 (Mười) năm 06 (Sáu) tháng tù, thời hạn tù tính từ ngày bắt tạm giam, ngày 05/5/2023.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên phần xử lý vật chứng, án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 24/8/2023, bị cáo Nguyễn Đức V kháng cáo xin giảm nhẹ hình phạt.
Ngày 31/8/2023, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa ban hành Quyết định kháng nghị số: 01/QĐ-VKSTH đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Phú Yên xét xử phúc thẩm, huỷ Bản án sơ thẩm để điều tra, xét xử lại.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Đức V vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo; và khai nhận hành vi phạm tội như đã khai tại cấp sơ thẩm.
Kiểm sát viên phát biểu quan điểm giải quyết vụ án: Đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận kháng nghị số: 01/QĐ-VKSTH ngày 31/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa. Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số: 82/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên để điều tra lại.
Bị cáo không tranh luận, tiếp tục xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ đã được tranh tụng tại phiên tòa. Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Trong khoảng thời gian từ ngày 15/4/2021 đến ngày 15/5/2021, tại thành phố T, tỉnh Phú Yên. Bị cáo Nguyễn Đức V đã thực hiện hành vi gian dối, sử dụng giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, quyền sở hữu nhà ở và tài sản khác gắn liền với đất giả, chiếm đoạt tài sản của vợ chồng ông Trần Đại N, bà Ngô Thị Thúy Q, nên đã bị cấp sơ thẩm truy tố, xét xử về tội “Lừa đảo chiếm đoạt tài sản” và tội “Sử dụng tài liệu giả của cơ quan, tổ chức”.
[2] Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa. Hội đồng xét xử thấy:
Quá trình điều tra, bị cáo Nguyễn Đức V không thừa nhận chiếm đoạt số tiền nhận đặt cọc 20.000.000 đồng của vợ chồng ông Trần Đại N, bà Ngô Thị Thúy Q, nên Cơ quan điều tra đã kết luận và Viện kiểm sát không quy kết Nguyễn Đức V chiếm đoạt số tiền này.
Tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo Nguyễn Đức V thừa nhận, ngoài việc chiếm đoạt 210.000.000 đồng như quyết định truy tố tại Bản Cáo trạng, bị cáo còn chiếm đoạt 20.000.000 đồng là số tiền đặt cọc ngày 30/3/2021 của bị hại. Hội đồng xét xử không trả hồ sơ cho Viện kiểm sát để điều tra bổ sung theo quy định tại Điều 280 Bộ luật Tố tụng hình sự, mà quy kết ngay bị cáo Nguyễn Đức V chiếm đoạt số tiền 230.000.000 đồng; là xét xử ngoài phạm vi truy tố của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa, vi phạm nghiêm trọng giới hạn của việc xét xử theo quy định tại Khoản 1 Điều 298 Bộ luật Tố tụng hình sự.
Để có cơ sở quy kết bị cáo Nguyễn Đức V có hành vi chiếm đoạt số tiền 20.000.000 đồng đặt cọc ngày 30/3/2021 của bị hại vợ chồng ông Trần Đại N, bà Ngô Thị Thúy Q hay không? Cần phải tố tụng lại từ giai đoạn điều tra.
Vì vậy, Kiểm sát viên đề nghị Hội đồng xét xử, chấp nhận kháng nghị số: 01/QĐ-VKSTH ngày 31/8/2023 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hòa. Hủy toàn bộ bản án sơ thẩm số: 82/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hòa, tỉnh Phú Yên để điều tra lại là có căn cứ chấp nhận.
[3] Do hủy toàn bộ bản án sơ thẩm, nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo Nguyễn Đức V không xem xét.
[4] Bị cáo Nguyễn Đức V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ Điều 345; Điều 358 Bộ luật Tố tụng hình sự;
Huỷ toàn bộ bản án sơ thẩm số: 82/2023/HS-ST ngày 17 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên, để điều tra lại.
Giao hồ sơ cho Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tuy Hoà, tỉnh Phú Yên giải quyết thuộc thẩm quyền.
Do huỷ toàn bộ bản án nên yêu cầu kháng cáo của bị cáo không xem xét.
Bị cáo Nguyễn Đức V không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Nguyên Tùng |
Bản án số 57/2023/HS-PT ngày 03/11/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN về hình sự phúc thẩm
- Số bản án: 57/2023/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự phúc thẩm
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 03/11/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH PHÚ YÊN
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Đức V Lừa đảo CĐTS
