|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH Bản án số: 57/2022/DS-PT Ngày: 25-04-2022 V/v tranh chấp QSDĐ |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Đỗ Văn Thinh
Các Thẩm phán: Ông Trần Quốc Vũ, Bà Phạm Thị Hồng Vân
- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Mạnh Hùng, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 21 và 25 tháng 04 năm 2022, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 218/2021/TLPT-DS, ngày 30 tháng 12 năm 2021, về việc “tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 30/2021/DS-ST, ngày 23-11-2021 của Tòa án nhân dân thị xã TB, tỉnh Tây Ninh có kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 65/2022/QĐXX-PT, ngày 24 tháng 03 năm 2022, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: ông Lê Văn D (Hồ Văn B), sinh năm 1932; địa chỉ: ấp Phước Đức B, xã Phước Đ, huyện GD, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của ông D: Ông Trần Thế Hòa B1, sinh năm 1975, địa chỉ: Khu phố 1, phường 1, thành phố TN, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo ủy quyền (Văn bản ủy quyền ngày 21/02/2019); có mặt.
- Bị đơn: Anh Hồ Văn T, sinh năm 1983 và vợ là chị Đặng Thị Nh, sinh năm 1993; cùng địa chỉ: số 50 Khu phố GT, phường GL, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh, (anh T có mặt, chị Nh vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ngân hàng Nông nghiệp và Phát triển Nông thôn Việt Nam; địa chỉ: Số 02, Láng Hạ, quận Ba Đình, Thành phố Hà Nội. Người đại diện: Ông Nguyễn Duy Tr, chức vụ: Giám đốc Agribank chi nhánh TB, Tây Ninh; vắng mặt.
- Anh Hồ Văn Th, sinh năm 1972; vắng mặt.
- Anh Hồ Văn T2, sinh năm 1974; vắng mặt.
- Chị Tạ Thùy D, sinh năm 1978; vắng mặt.
- Anh Hồ Văn T3, sinh năm 1978; vắng mặt.
- Ông Hồ Văn B1, sinh năm 1945; có mặt.
- Bà Đặng Thị Ph, sinh năm 1952; vắng mặt.
- Anh Hồ Minh T4, sinh năm 1974; vắng mặt.
- Anh Hồ Minh Tr, sinh năm 1983; vắng mặt.
- Anh Hồ Minh T5, sinh năm 1980; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị M, sinh năm 1960; vắng mặt.
- Chị Hồ Thị Kim L, sinh năm 1975; vắng mặt.
- Chị Hồ Thị L1, sinh năm 1980; vắng mặt.
- Bà Hồ Thị M, sinh năm 1951; có mặt.
- Ông Hồ Văn N, sinh năm 1963; vắng mặt.
- Bà Phạm Thị P, sinh năm 1962; vắng mặt.
- Chị Hồ Thị Kim A, sinh năm 1981; vắng mặt.
- Chị Phan Thị Hồng Đ, sinh năm 1983; vắng mặt.
- Anh Nguyễn Thanh P1, sinh năm 1979; vắng mặt.
- Chị Phạm Thị Hồng H1, sinh năm 1975; vắng mặt.
- Ông Lê Minh T6, sinh năm 1973; vắng mặt.
- Bà Lê Thị R, sinh năm 1979; vắng mặt.
- Ông Trần Công G, sinh năm 1957; vắng mặt.
- Bà Dương Hồng N1, sinh năm 1960; vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của Anh Hồ Văn Th, Anh Hồ Văn T2, chị Hồ Thị Kim L, Anh Hồ Văn T3, Chị Hồ Thị L1, chị Đặng Thị Nh: Anh Hồ Văn T (Bị đơn trong vụ án); là người đại diện theo ủy quyền (các văn bản ủy quyền ngày 28/10/2021).
- Người làm chứng: Ông Võ Minh H3, sinh năm 1966; địa chỉ: Khu phố GT, phường GL, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
- Người kháng cáo: bị đơn – anh T, chị Nh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Nguyên đơn - ông Lê Văn D (Hồ Văn B) trình bày: Cha ông là cụ Hồ Văn B3 (chết năm 1986) và mẹ là cụ Lê Thị C3 (chết năm 1989). Cha mẹ ông có 07 người con gồm: 1/ ông - Lê Văn D, tên gọi khác là Hồ Văn B; 2/ ông Hồ Văn B2, chết năm 2016, có vợ chết năm 1990, các con gồm: Hồ Văn Th, Hồ Văn T2 (sinh năm 1974), Hồ Thị Kim L, Hồ Văn T3 (sinh năm 1978), Hồ Thị L, Hồ Văn T; 3/ Ông Hồ Văn B1; 4/ bà Hồ Thị M; 5/ ông Hồ Văn N; 6/ bà Hồ Thị Y (chết không rõ năm), có chồng (chết), có 02 người con: Hồ Thị Kim A và Phan Thị Hồng Đ; 7/ ông Hồ Văn Th2 (chết lúc nhỏ).
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ đã được xem xét tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến đại diện Viện kiểm sát, ý kiến của các đương sự, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Tại phiên tòa phúc thẩm, các đương sự vắng mặt nhưng có người đại diện, những đương sự khác không liên quan đến việc kháng cáo Tòa án không triệu tập nên Tòa án xét xử vắng mặt các đương sự này là phù hợp với quy định tại Điều 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: 2.1 Phần đất tranh chấp qua đo đạc, xem xét thẩm định thực tế có diện tích 1.086,1 m2, thửa 178, tờ bản đồ 32, tọa lạc tại Khu phố GT, phường GL, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh; loại đất: 400 m2 đất ở đô thị (ODT) + đất trồng cây lâu năm (CLN). Đất do anh Hồ Văn T và chị Đặng Thị Nh đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, được Ủy ban nhân dân thị xã TB cấp ngày 05/5/2009. Tài sản gắn liền với đất: Không có;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận một phần yêu cầu kháng cáo của anh T và chị Nh, sửa một phần bản án dân sự sơ thẩm.
- Buộc anh Hồ Văn T, chị Đặng Thị Nh có nghĩa vụ phải giao trả cho ông Lê Văn D được quyền sử dụng diện tích đất 1.086,1m2, thửa 178, tờ bản đồ 32 (Bản đồ 2005), tọa lạc tại Khu phố GT, phường GL, thị xã TB, tỉnh Tây Ninh.
- Buộc ông Lê Văn D (Hồ Văn B) có trách nhiệm giao cho anh T, chị Nhịn số tiền 200.000.000 (hai trăm triệu) đồng.
|
Nơi nhận: - VKSND. TTN; - Phòng KTNV&THA; - TAND TX TBg; - CCTHADS Tx TBg; - Những người tham gia tố tụng; - Lưu hồ sơ vụ án; - Lưu tập án. |
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA (Đã ký) Đỗ Văn Thinh |
Bản án số 57/2022/DS-PT ngày 25/04/2022 của Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 57/2022/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/04/2022
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh
- Áp dụng án lệ:
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Phân đất tranh chấp là của cụ Hồ Văn B3, chết năm 1986 và cụ Lê Thị C3, chết năm 1989 không để lại di chúc, hai cụ có 7 người con, đã chết hai người. Năm 2004 các anh chị em họp mặt gia đình phân chia tài sản do cha mẹ để lại. Khi phân chia có mặt 5/7 anh chị em gồm ông D (nguyên đơn), ông B2 (cha anh T), Ông Hồ Văn B1; bà Hồ Thị M; ông Hồ Văn N và bà Hồ Thị Y (không tính 02 người đã chết trước thời điểm phân chia). Đất để lại do ông B1, ông B2, ông N đăng ký đứng tên năm 1995 nhưng các anh chị em đều thừa nhận là tài sản chung do cha mẹ để lại nên ngày 19/02/2004 các anh chị em cùng phân chia và sau đó thực hiện theo thỏa thuận này. Các anh chị em đã được tách sổ và giao đất; riêng phần đất của ông D cho ông B2 mượn sản xuất đến hết đời trả lại. Khi ông B2 còn sống thì năm 2009 ông B2 lại lập hợp đồng tặng quyền sử dụng đất cho con ruột của mình là anh T, trong đó có cả phần đất của ông D được chia. Nay ông D yêu cầu anh T trả lại QSDĐ
