Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HẠ HÒA

TỈNH PHÚ THỌ

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 57 /2024/HS-ST

Ngày 05/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ

Thành phần hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Lạc

Các hội thẩm nhân dân: 1. Ông Lê Quốc Trinh

2. Ông Ngô Ngọc Khương

Thư ký phiên tòa: Ông Chu Xuân Tùng là Thư ký TAND huyện Hạ Hoà

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hạ Hòa tham gia phiên tòa:

Ông Phạm Ngọc Nam - Kiểm sát viên

Ngày 05 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân huyện Hạ Hòa, tỉnh Phú Thọ xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 55/2024/TLST-HS ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 78/2024/QĐXXST-HS ngày 21 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

PHÙNG ĐÌNH LÂM, sinh năm 1987

tại huyện H, tỉnh Phú Thọ; nơi cư trú: Khu C xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ; nghề nghiệp: Lao động tự do; trình độ văn hóa: Lớp 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Không; quốc tịch: Việt Nam; Bố đẻ: Phùng Đình T (đã chết); mẹ đẻ: Đỗ Thị S, sinh năm 1957; vợ: Trần Thị T1, sinh năm 1987 (đã ly hôn) và 01 người con sinh năm 2011.

Tiền án: Có 02 tiền án.

  • Tại bản án số 31/2012/HSST ngày 29/5/2012 của TAND huyện Hạ Hòa xử phạt L 30 tháng tù về tội mua bán trái phép chất ma túy. Án phí HSST 200.000đ. L chấp hành xong hình phạt tù ngày 11/8/2014, nộp xong tiền án phí ngày 25/7/2012.
  • Tại bản án số 21/2016/HSST ngày 28/4/2016 của TAND huyện Hạ Hòa phạt L 7 năm 9 tháng tù về tội cướp tài sản. Án phí HSST 200.000đ. Bị cáo L chấp hành xong hình phạt tù ngày 28/11/2022, nộp xong án phí ngày 21/6/2016.
  • Tại bản án số 13/2006/HSST ngày 22/6/2006 của TAND huyện Hạ Hòa xử phạt L 15 tháng tù về tội cướp giật tài sản, buộc bồi thường số tiền 650.000đ. Án phí HSST là 50.000đ, án phí dân sự 50.000đ. Bị cáo L đã thi hành xong bản án và đã được xóa án tích.

Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 30/7/2024. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại trại tạm giam Công an tỉnh P. (có mặt)

Tiền sự: Không.

Nhân thân:

Bị hại: Anh Đào Hữu T2, sinh năm 1978 (vắng mặt)

Địa chỉ: Tổ dân phố N, Xã B, Thị xã M, tỉnh Hưng Yên.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Anh Nguyễn Đức H, sinh năm 1980 – Địa chỉ: khu C xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ (có mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt theo như bản cáo trạng số 58/CT-VKSHH ngày 15/10/2024, VKSND huyện Hạ Hòa truy tố bị cáo Phùng Đình L về tội “Trộm cắp tài sản ” theo quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật hình sự với các tình tiết như sau:

Ngày 30/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra - Công an huyện H tiếp nhận đơn trình báo của anh Đào Hữu T2 (Sinh năm 1978 ở xã B, huyện M, tỉnh Hưng Yên) là lái xe cho hãng S1, về việc: Khoảng 6 giờ ngày 29/7/2024, anh T2 điều khiển xe ô tô khách BKS: 24F-000.89 chạy tuyến từ thành phố Hà Nội đi tỉnh Lào Cai theo đường C - Lào Cai. Đến khoảng 08 giờ 30 phút cùng ngày, anh T2 điều khiển xe vào trạm dừng nghỉ tại Km 98 IC A cao tốc N - Lào Cai thuộc khu D, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ để nghỉ ngơi và cho khách xuống xe. Khi lên xe để chuẩn bị đưa khách về Lào Cai thì anh T2 phát hiện mình bị mất 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M53, để tại giường nằm ở trên xe. Chiếc điện thoại bị mất trị giá khoảng 7.000.000 đồng. Kiểm tra dữ liệu camera trên xe ô tô, anh T2 xác định chiếc điện thoại của mình bị một nam thanh niên là hành khách trên xe trộm cắp. Sau khi tiếp nhận tin báo, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H tiến hành xác minh, xác định người thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của anh T2 là Phùng Đình L (Sinh năm 1987 ở khu C, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ).

Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H, Phùng Đình L khai nhận như sau:

Khoảng 06 giờ ngày 29/7/2024, Phùng Đình L bắt xe khách giường nằm BKS: 24F-000.89 của hãng S1 do anh Đào Hữu T2 điều khiển chạy tuyến Hà Nội – Lào Cai từ thành phố Hà Nội để đi về nhà tại xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Khi lên xe, L đi đến dãy giường nằm bên tay phải theo hướng đi từ đầu xe đến cuối xe (xe có 03 dãy giường nằm là dãy giữa, dãy bên phải và dãy bên trái), khi đi đến hàng giường nằm thứ hai thì L leo lên nằm ở giường tầng trên. Khoảng 08 giờ 10 phút cùng ngày, xe đi vào trạm dừng nghỉ Km 98 IC 11 đường C - Lào Cai thuộc khu D, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, nên L xuống xe để đi về nhà tại khu C xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Đến 08 giờ 13 phút, Lâm trèo từ trên giường tầng hai xuống lối đi giữa hai dãy giường nằm, L phát hiện có 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Sam sung loại Garaxy M53 màu nâu đang để tại giường nằm tầng một thuộc dãy giường giữa của xe ô tô và không có ai nằm ở giường này. L liền nảy sinh ý định trộm cắp chiếc điện thoại này để bán lấy tiền chi tiêu cá nhân. L liền lấy túi nilon đựng giày của mình vẫn đang để ở trên giường vừa nằm cầm ở tay trái, rồi ngồi xuống sàn xe gần vị trí chiếc điện thoại giả vờ tháo nút buộc của túi nilon đựng giày, nhanh chóng dùng tay phải nhặt chiếc điện thoại đúc vào túi quần bên phải, rồi L đứng lên đi ra cửa đeo giày và xuống xe.

Sau khi xuống xe, L thuê xe ôm để đi về nhà tại xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ. Khi đi đến cầu H chiếc điện thoại do L trộm cắp có nhiều cuộc gọi đến, sợ bị phát hiện nên L đã tháo sim chiếc điện thoại vứt xuống sông H. Khi đến cửa hàng mua bán điện thoại của anh Nguyễn Đức H (Sinh năm 1980 ở khu C xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ) thì L xuống xe, trả tiền xe ôm. Sau đó, L vào cửa hàng của anh H để bán chiếc điện thoại vừa trộm cắp được. Khi gặp anh H, L nói mình có chiếc điện thoại bị quên mật khẩu muốn bán để mua điện thoại khác và đưa anh H xem chiếc điện thoại S2 vừa trộm cắp được. Anh H kiểm tra điện thoại xong thì nói chỉ mua được với giá là 1.000.000 đồng do máy không có mật khẩu, L đồng ý bán. Sau khi nhận 1.000.000 đồng do anh Hoàn T3, L bắt xe ôm đi lên tỉnh Yên Bái tiêu xài hết số tiền rồi quay về nhà vào tối cùng ngày.

Ngày 30/7/2024, anh Nguyễn Đức H đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M53 màu nâu, đã qua sử dụng, không lắp thẻ sim; số Imei 1: 353041900630473; số Imei 2: 358528660630474, bên ngoài lắp một ốp điện thoại màu cam đã qua sử dụng.

Ngày 30/7/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra – Công an huyện H đã yêu cầu định giá tài sản đối với chiếc điện thoại do L trộm cắp. Tại bản Kết luận định giá tài sản số 12/KL-HĐĐGTS ngày 30/7/2024 của Hội đồng định giá huyện Hạ Hòa kết luận:

  • 01 (một)chiếc điện thoại nhãn hiệu Samsung loại Garaxy M53 màu nâu mua mới tháng 02/2023 với giá 12.500.000. Điện thoại này đã cũ, đã qua sử dụng. Đến ngày 29/7/2024 có trị giá 10.625.000 đồng.
  • 01 (một) phôi sim điện thoại của nhà mạng Vinaphone. Sử dụng đến ngày 29/7/2024 có trị giá 2.000 đồng”.
  • 01 (một) ốp điện thoại Galaxy M53 màu cam vàng, mua mới tháng 2/2023 với giá 25.000 đồng. Đã qua sử dụng đến ngày 29/7/2024 có trị giá 5.000 đồng.

Tổng giá trị đồ vật, tài sản cần định giá vào ngày 30/7/2024 là 10.632.000 đồng”.

Tại phiên tòa, đại diện VKSND huyện Hạ Hòa giữ nguyên quyết định truy tố và khẳng định bản cáo trạng đã truy tố bị cáo Phùng Đình L về tội danh và điều luật đã nêu là hoàn toàn đúng. Đề nghị HĐXX căn cứ điểm g khoản 2 điều 173, điểm s khoản 1 điều 51; điều 38; khoản 2 điều 47 - BLHS; điểm b khoản 3 điều 106; khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

1-Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Đình L phạm tội “Trộm cắp tài sản”

2-Về hình phạt: Đề nghị xử phạt bị cáo Phùng Đình L từ 04 năm tù đến 04 năm 06 tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo L.

3- Về xử lý vật chứng:

-Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả cho anh Đào Hữu T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M53 theo biên bản lập ngày 31/7/2024 là hợp pháp.

4- Về TNDS: Không đặt ra giải quyết.

5-Về án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Lời khai của bị cáo Phùng Đình L tại phiên tòa phù hợp với lời khai của bị cáo tại cơ quan điều tra, lời khai người bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và các tài liệu khác có trong hồ sơ vụ án, có đủ cơ sở để kết luận: Vào hồi 08 giờ 13 phút ngày 29/7/2024, khi xe khách giường nằm của hãng S1 mang BKS: 24F-000.89 do anh Đào Hữu T2 sinh năm 1978 ở xã B, huyện M, tỉnh Hưng Yên điều khiển dừng đỗ tại trạm dừng nghỉ Km 98 thuộc khu D, xã V, huyện H, tỉnh Phú Thọ, Phùng Đình Lâm sinh năm 1987 ở khu C, xã Đ, huyện H, tỉnh Phú Thọ là hành khách trên xe đã lợi dụng sơ hở trong việc quản lý tài sản, thực hiện hành vi trộm cắp 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M53 có tổng trị giá là 10.639.000 đồng (Mười triệu sáu trăm ba mươi chín nghìn đồng) của anh T2, khi anh T2 đang để chiếc điện thoại này ở giường nằm của xe.

Hành vi nêu trên của bị cáo Phùng Đình L đã cấu thành tội: “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật dình sự.

Điều 173 của BLHS quy định:

1. Người nào trộm cắp tài sản của người khác trị giá từ 2.000.000 đồng đến dưới 50.000.000 đồng hoặc dưới 2.000.000 đồng nhưng thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt cải tạo không giam giữ đến 03 năm hoặc bị phạt tù từ 06 tháng đến 03 năm:

2. Phạm tội thuộc một trong các trường hợp sau đây, thì bị phạt tù từ 02 năm đến 07 năm:

a, ...

g, Tái phạm nguy hiểm.

Đến lần phạm tội ngày 29/7/2024 bị cáo L chưa được xóa án tích đối với bản án hình sự sơ thẩm số 31/2012/HSST ngày 29/5/2012 và bản án hình sự sơ thẩm số 21/2016/HSST ngày 28/4/2016 của TAND huyện Hạ Hòa. Do đó lần phạm tội trộm cắp tài sản này của L thuộc trường hợp tái phạm nguy hiểm được quy định tại điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ Luật Hình sự. Quyết định truy tố của VKSND huyện Hạ Hòa đối với bị cáo Phùng Đình L về tội “Trộm cắp tài sản” theo điểm g khoản 2 điều 173 của Bộ luật hình sự là hoàn toàn đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[2] Hành vi phạm tội của bị cáo là nghiêm trọng, nguy hiểm cho xã hội. Hành vi của bị cáo xâm phạm đến tài sản của cá nhân được pháp luật bảo vệ, xâm phạm đến trật tự an toàn xã hội trên địa bàn huyện H nói riêng, toàn xã hội nói chung, gây dư luận xấu trong nhân dân. Do đó vụ án cần được đưa ra xét xử thật nghiêm để giáo dục riêng và phòng ngừa chung.

[3] Xét về nhân thân: Bị cáo Phùng Đình L có nhân thân rất xấu. Bị cáo đã nhiều lần vi phạm pháp luật hình sự và bị xử phạt tù và phải đi chấp hành án. Tuy nhiên bị cáo không lấy đó làm bài học cho bản thân tiếp tục phạm tội. Bị cáo đã lợi dụng sơ hở của chủ sở hữu trộm cắp chiếc điện thoại về bán lấy tiền tiêu sài cá nhân. Bị cáo biết rõ hành vi trộm cắp tài sản của anh T2 là vi phạm pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Đối với bị cáo L cần phải có một hình phạt thật nghiêm khắc.

[4] Về các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo L chỉ được hưởng 01 tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đó là thành khẩn khai báo; ăn năn hối cải về hành vi phạm tội được quy định tại điểm s khoản 1 điều 51– BLHS. Bị cáo L không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự.

Xét hành vi phạm tội, nhân thân của bị cáo, các tình tiết giảm nhẹ, tăng nặng trách nhiệm hình sự, HĐXX xét thấy cần phải cách ly bị cáo ra khỏi xã hội, để bị cáo rèn luyện trở thành con người có ích cho xã hội. HĐXX chấp nhận đề nghị của Kiểm sát viên tại phiên tòa về áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo L.

[5] Về hình phạt bổ sung: Tại khoản 5 điều 173 – BLHS quy định: người phạm tội còn có thể bị phạt tiền từ 10.000.000đ đến 100.000.000đ triệu đồng, cấm đảm nhiêm chức vụ, cấm hành nghề hoặc làm công việc nhất định từ 01 năm đến 05 năm hoặc tịch thu một phần hoặc toàn bộ tài sản. Xét thấy bị cáo L là lao động tự do, không có tài sản đảm bảo thi hành án, HĐXX miễn áp dụng hình phạt bổ sung cho bị cáo L.

[6] Về trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:

Chiếc điện thoại di động do L trộm cắp, hiện tài sản đã được thu hồi và đã trả lại cho anh Đào Hữu T2. Anh Tú đã được nhận tài sản trên và không yêu cầu bị cáo phải bồi thường khoản tiền nào khác. Cần xác nhận.

Anh H không yêu cầu L phải hoàn trả số tiền 1.000.000₫ mà anh đã mua chiếc điện thoại. HĐXX không đặt ra giải quyết.

[7] Đối với anh H là người mua chiếc điện thoại của L. Qua điều tra xác định, anh H không biết chiếc điện thoại do L trộm cắp mà có, cơ quan CSĐT Công an huyện H không đề nghị xử lý đối với anh H là đúng quy định của pháp luật.

[8] Về tố tụng hình sự: Các quyết định tố tụng của Cơ quan Cảnh sát điều tra, hành vi tố tụng của điều tra viên trong quá trình điều tra vụ án; quyết định tố tụng của Viện kiểm sát và hành vi tố tụng của Kiểm sát viên trong giai đoạn truy tố là đúng quy định của Bộ luật tố tụng hình sự.

[9] Về án phí HSST: Bị cáo phải chịu theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên:

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ điểm g khoản 2 điều 173; điểm s khoản 1 điều 51; khoản 2 điều 47- BLHS; điểm b khoản 3 điều 106; khoản 2 điều 135, khoản 2 điều 136 - BLTTHS; điểm a khoản 1 điều 23 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016.

Xử:

1- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Phùng Đình L phạm tội: “Trộm cắp tài sản".

2- Về hình phạt: Xử phạt bị cáo Phùng Đình L 04 (bốn) năm 03 (ba) tháng tù, thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 30/7/2024.

Miễn hình phạt bổ sung cho bị cáo Phùng Đình L.

3- Về xử lý vật chứng:

- Xác nhận Cơ quan CSĐT Công an huyện H đã trả cho anh Đào Hữu T2 01 chiếc điện thoại di động nhãn hiệu Samsung Galaxy M53 theo biên bản lập ngày 31/7/2024 là hợp pháp.

4- Về TNDS: Không đặt ra giải quyết.

5-Về án phí HSST: Buộc bị cáo Phùng Đình L phải chịu 200.000đ (Hai trăm nghìn đồng).

Trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án sơ thẩm, bị cáo, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Phú thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm. Bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo lên TAND tỉnh Phú Thọ để yêu cầu xét xử phúc thẩm trong hạn 15 ngày kể từ ngày được giao nhận bản án hoặc bản án được niêm yết tại UBND nơi cư trú.

Nơi nhận:

  • - BC, BH; NLQ
  • -VKSND huyện, tỉnh
  • - CA huyện Hạ Hòa
  • - Sở tư pháp Phú thọ
  • - CCTHADS huyện Hạ Hòa;
  • - Lưu HS -VP

T/M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Thị Lạc

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2024/HS-ST ngày 05/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ về trộm cắp tài sản

  • Số bản án: 57/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 05/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HẠ HÒA, TỈNH PHÚ THỌ
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Vụ án trộm cắp tài sản bị cáo Phùng Đình L
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger