Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH NINH THUẬN

Bản án số: 57/2021/DS-PT

Ngày: 29-12-2021

V/v: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH NINH THUẬN

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Trần Thị Dịu

Các Thẩm phán: Bà Phạm Thị Anh Trang

Ông Hàng Lâm Viên

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Hải Thu - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Ninh Thuận tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Thắng - Kiểm sát viên.

Ngày 29 tháng 12 năm 2021, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 36/2021/TLPT-DS ngày 07 tháng 10 năm 2021 về việc “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm”.

Do bản án dân sự sơ thẩm số 03/2021/DS-ST ngày 21 tháng 7 năm 2021 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Ninh Thuận bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 65/2021/QĐ-PT ngày 23 tháng 12 năm 2021 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ông Katơr B - Sinh năm: 1953;
    Địa chỉ: Thôn O, xã T, huyện A, tỉnh Ninh Thuận.
    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn: Ông Lê Xuân L – Trợ giúp viên pháp lý Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh Ninh Thuận.
  2. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Ngọc D, sinh năm 1964;
    Địa chỉ: Thôn R, xã C, huyện A, tỉnh Ninh Thuận.
  3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • 3.1/ NLQ1, sinh năm: 1962;
    • 3.2/ NLQ2, sinh năm: 1984;
    • 3.3/ NLQ3, sinh năm: 1986;
    • 3.4/ NLQ4, sinh năm: 1989;
    • 3.5/ NLQ5, sinh năm: 1994;
    • 3.6/ NLQ6, sinh năm: 1997;
      Cùng địa chỉ: Thôn O, xã T, huyện A, tỉnh Ninh Thuận.
    • 3.7/ NLQ7, sinh năm 1992;
      Địa chỉ: Thôn T1, xã P, huyện A, tỉnh Ninh Thuận.
    • 3.8/ NLQ8, sinh năm: 1959.
      Địa chỉ: Thôn R, xã C, huyện A, tỉnh Ninh Thuận.

(Nguyên đơn có mặt, bị đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, người liên quan NLQ8, NLQ3, NLQ4, NLQ7 có đơn xin xét xử vắng mặt.)

4. Người kháng cáo: Ông Katơr B là nguyên đơn.

NỘI DUNG VỤ ÁN

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, biên bản lấy lời khai và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Katơr B trình bày:

Năm 2002, gia đình ông có mua của ông Patâu Axá Y và bà Ca Dá Thị Z một thửa đất ở khu vực thôn R, xã C, huyện A với giá 01 con bò, diện tích khoảng hơn 03 ha (diện tích đã đo đạc thực tế ngày 31/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh A là 34.442,5m²) và có vị trí tứ cận: Đông giáp đất ông Patâu Axá Doi; Tây giáp đất bà Phương; Nam giáp đất ông Mai Thắm; Bắc giáp đất bà Chamaléa Thị Thu. Năm 2013, do hoàn cảnh gia đình khó khăn, ông đã cho bà Nguyễn Thị Ngọc D thuê toàn bộ diện tích 34.442,5m² để bà D trồng cây keo lai lá tràm, thời gian thuê từ năm 2013 – 2019, giá thuê là 50.000.000 đồng, hai bên có làm giấy viết tay về việc thuê, bà D là người trực tiếp viết giấy cho thuê, giấy thuê lập thành một bản, khi lập giấy thuê này bà D có đưa cho ông đọc và ông có ký vào giấy cho thuê đất giữa hai bên, bà D là người giữ giấy tờ thuê. Sau khi thu hoạch xong vụ cây keo lai vào cuối năm 2019, ông yêu cầu bà D trả lại đất nhưng bà D không đồng ý và nói ông đã bán đất cho bà D, việc bà D cho rằng ông bán toàn bộ diện tích 34.442,5m² đất cho bà D là không đúng, vì vậy ông đã mua trụ bê tông và thuê người trồng quanh khu đất. Đến cuối năm 2020, bà D thuê máy cày vào cày đất đã làm gãy 05 cây trụ bê tông của ông.

Nay ông khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết như sau:

- Yêu cầu bà D phải trả lại toàn bộ diện tích đất 34.442,5m² cho ông vì đã hết thời hạn thuê giữa ông và bà D.

- Yêu cầu bà D phải bồi thường thiệt hại về tài sản là 05 cây trụ cho ông với số tiền 500.000 đồng.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của ông B đồng ý với toàn bộ lời trình bày của ông B và không bổ sung gì thêm.

Quá trình giải quyết vụ án, bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D trình bày:

Ngày 15/12/2013, bà có nhận chuyển nhượng của ông Katơr B và NLQ1 một thửa đất khoảng 3,1 ha (diện tích thực tế theo trích lục bản đồ địa chính ngày 31/5/2021 của Văn phòng đăng ký đất đai chi nhánh A là 34.442,5m²) ở khu vực thôn R, xã C. Bà và ông B có làm 01 giấy viết tay về việc chuyển nhượng diện tích đất trên, giấy này do bà trực tiếp viết và đã được ông B đọc và ký tên, vợ ông B là NLQ1 có lăn tay vào giấy tờ chuyển nhượng này, giá trị chuyển nhượng là 50.000.000 đồng. Sau khi chuyển nhượng bà đã trồng cây keo lá tràm trên toàn bộ diện tích và thu hoạch được một vụ, đến cuối năm 2019, ông B đòi bà phải trả toàn bộ diện tích 34.442,5m² với lý do ông B chỉ cho bà thuê đất. Sau khi xảy ra tranh chấp, ông B tự ý trồng một số trụ bê tông ở khu vực đất đã chuyển nhượng cho bà, bà không biết ông B trồng trụ rào từ khi nào và trồng bao nhiêu cây trụ, nhưng đến cuối năm 2020 bà thuê máy cày vào cày ranh đất có làm gãy 05 cây trụ bê tông của ông B.

Trước yêu cầu khởi kiện của ông B, bà có ý kiến như sau:

- Bà không đồng ý với việc đòi lại đất của ông B vì diện tích đất 34.442,5m² ông B đã chuyển nhượng cho bà.

- Bà đồng ý bồi thường cho ông B 500.000 đồng giá trị 05 trụ bê tông bị gãy.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

[1] Về thủ tục tố tụng: ...

[2] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xét thấy: Cấp sơ thẩm xác định quan hệ pháp luật cần giải quyết “Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất” là chưa đầy đủ, bởi lẽ: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, nguyên đơn ông Katơr B đều có yêu cầu buộc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D bồi thường giá trị của 05 trụ bê-tông bà D đã làm gãy. Vì vậy, Tòa án cấp phúc thẩm xác định thêm quan hệ pháp luật cần giải quyết trong vụ án này là “Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm” được quy định tại Điều 589 Bộ luật dân sự năm 2015.

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự;

Không chấp nhận toàn bộ kháng cáo của nguyên đơn.

Sửa bản án dân sự sơ thẩm số 03/2021/DS-ST ngày 21/7/2021 của Tòa án nhân dân huyện A, tỉnh Ninh Thuận.

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của ông Katơr B về việc đòi lại tài sản là diện tích đất 34.442,5m² thuộc tờ bản đồ số 18 xã C, huyện A, tỉnh Ninh Thuận do hết hạn hợp đồng thuê với bà Nguyễn Thị Ngọc D.
  2. Tuyên bố hợp đồng chuyển nhượng 34.442,5m² đất thuộc bản đồ số 18 xã C, huyện A, tỉnh Ninh Thuận giữa ông Katơr B, NLQ1 và bà Nguyễn Thị Ngọc D vô hiệu.
  3. Công nhận sự thỏa thuận của đương sự về việc bị đơn bà Nguyễn Thị Ngọc D đồng ý bồi thường thiệt hại về tài sản cho nguyên đơn ông Katơr B 05 cây trụ bê tông với số tiền 500.000 đồng.
  4. Về án phí: Ông Katơr B được miễn toàn bộ tiền án phí dân sự sơ thẩm, phúc thẩm. Bà Nguyễn Thị Ngọc D phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm của nguyên đơn được chấp nhận.

Nơi nhận:

  • - Đương sự (10);
  • - VKSND tỉnh Ninh Thuận (1);
  • - TAND huyện A (1);
  • - Chi cục THADS huyện A (1);
  • - Phòng KTNV&THA (1);
  • - Lưu hồ sơ, án văn, HC-TP (3).

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

(Đã ký và đóng dấu)

Trần Thị Dịu

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 57/2021/DS-PT ngày 29/12/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận về tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm

  • Số bản án: 57/2021/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất; Yêu cầu bồi thường thiệt hại do tài sản bị xâm phạm
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 29/12/2021
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân tỉnh Ninh Thuận
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng thuê quyền sử dụng đất giữa ông Katơr Bấm và Nguyễn Thị Ngọc D
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger