Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

TỈNH TÂY NINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - hạnh phúc

Bản án số: 569/2024/DS-PT

Ngày: 27/11/2024

V/v “Tranh chấp về thừa kế tài sản".

NHÂN DANHNƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng

Các Thẩm phán: Bà Phạm Ngọc Giàu

Bà Nguyễn Thanh Minh Châu

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Gọn - Kiểm sát viên.

Ngày 27 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 447/2024/TLPT-DS, ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 108/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo, kháng nghị.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 582/2024/QĐ-PT ngày 31 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Cụ Châu Thị H, sinh năm 1939; nơi cư trú: Số A đường N, Khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của cụ H: Ông Nguyễn Duy H1, sinh năm 1965; nơi cư trú: Khu phố F, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  3. Bị đơn: Bà Võ Thị Tuyết Đ, sinh năm 1962; nơi cư trú: Số A đường N, Khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
  4. Người đại diện theo ủy quyền của bà Đ: Anh Lê Phước Ý, sinh năm 1995; cư trú tại: Số A đường H, Khu phố D, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

  5. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    • Anh Phạm Thành L, sinh năm 1987; nơi cư trú: Số A đường N, Khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt
    • Anh Phạm Minh L1, sinh năm 1993; nơi cư trú: Số A đường N, Khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt.
    • Người đại diện theo ủy quyền của anh Thành L, Minh L1: Anh Lê Phước Ý, sinh năm 1995; cư trú tại: Số A đường H, Khu phố D, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; có mặt.

    • Ông Dương Văn H2; Nơi cư trú: Khu phố R, huyện G, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
    • Ông Lâm Tấn T, sinh năm 1968; bà Nguyễn Thị Q, sinh năm 1968; cùng cư trú tại: Số A, đường C, khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
    • Ông Trần Văn B, sinh năm 1979; cư trú tại: Số I, đường Đ, phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; vắng mặt.
    • Người đại diện theo ủy quyền của ông B: Anh Trần Anh V, sinh năm 1981; cư trú tại: Số I, đường Đ, phường I, Quận D, Thành phố Hồ Chí Minh; có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

    • Anh Huỳnh Minh T1, sinh năm 1980; Chị Trần Thị Lệ H3, sinh năm 1982; cùng địa chỉ: Khu phố B, Phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
    • Ông Phạm Thế H4, sinh năm 1957; địa chỉ: Số B đường L, Khu phố D, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; có mặt.
    • Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh; vắng mặt, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.

Người kháng cáo: Bà Võ Thị Tuyết Đ là bị đơn, anh Phạm Thành L và anh Phạm Minh L1 là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện ngày 16-3-2023 và lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn cụ Châu Thị H và và người đại diện theo ủy quyền của cụ H là ông Nguyễn Duy H1 trình bày:

Trước đây cụ H có đứng tên quyền sử dụng đất phần đất tọa lạc tại số A đường N, Khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh nhưng vì tuổi cao nên đã để cho con trai là Phạm Thế K, sinh năm 1959 đứng tên quyền sử dụng đất cho tiện việc vay vốn Ngân hàng.

Do con trai cụ là ông K chết đột ngột, không để lại di chúc nên giữa cụ và con dâu Võ Thị Tuyết Đ (vợ ông K) không thống nhất nhau xảy ra tranh chấp thừa kế đối với tài sản ông K chết để lại là diện tích 1.058,1m² thuộc thửa thửa 852, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại Khu phố F, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Sau đó cụ H khởi kiện bổ sung yêu cầu:

  • Hủy văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 28/12/2022 tại Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  • Hủy văn bản từ chối nhận di sản thừa kế ngày 28/12/2022 tại Ủy ban nhân dân phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  • Hủy Hợp đồng tặng cho quyền sử dụng đất ngày 10/02/2023 tại Văn phòng C, số công chứng 363, quyển số 02/2023.TP/CC-SCC/HĐGD giữa bà Võ Thị Tuyết Đ với anh Phạm Thành L diện tích 114,1m² tại thửa 916 (tách ra từ thửa 852) tọa lạc tại Khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.
  • Yêu cầu hủy Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) do bà Võ Thị Tuyết Đ đứng tên theo Trang 4 của Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất do ông Phạm Thế K đứng tên ngày 12/11/2021 và chia thừa kế theo quy định của pháp luật cho các đồng thừa kế gồm cụ H, bà Đ, anh Phạm Thành L và anh Phạm Minh L1.

Ngày 28/5/2024, cụ H có đơn xin rút một phần yêu cầu khởi kiện đối với các yêu cầu khởi kiện bổ sung và yêu cầu Tòa án xem xét giải quyết chia di sản thừa kế của ông Phạm Thế K để lại theo quy định của pháp luật đối với phần đất diện tích 1.058,1m² thuộc thửa thửa 852, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại Khu phố F, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh.

Tại biên bản hòa giải ngày 26/6/2024, cụ H thay đổi yêu cầu khởi kiện, yêu cầu chia di sản thừa kế, yêu cầu được nhận phần di sản thừa kế tại vị trí căn nhà thờ có chiều ngang 7,2m x dài hết đất.

Về việc định giá tài sản, cụ H thống nhất giá theo biên bản định giá ngày 11/7/2023, không có ý kiến khác.

Đối với phần đất đã chuyển nhượng cho ông T, bà Q, cụ H không yêu cầu chia di sản thừa kế, tiền chuyển nhượng đối với phần đất này cũng không có yêu cầu chia.

Quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của bị đơn, anh Lê Phước Ý trình bày:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là do ông Phạm Thế K thừa kế từ cụ Phạm Văn T2 theo Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/10/2013. Cụ thể như sau: Nguyên trước đây, cụ Phạm Văn T2 là chủ phần đất thửa số: 40, tờ bản đồ số 9, diện tích: 4.768,4 m², tọa lạc tại: Khu phố F, phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh theo Giấy chứng nhận QSDĐ số: 04342QSDĐ/450602 do UBND huyện H (nay là thành phố T) cấp ngày 29/11/1996. Sau khi cụ T2 chết thì cụ H và 02 người con là ông K và ông Phạm Thế H4 thực hiện thủ tục khai nhận thừa kế theo Văn bản phân chia di sản thừa kế ngày 17/10/2013: ông H4 được chia 320 m², ông K được chia 4.448,4 m². Do đó, theo văn bản khai nhận thừa kế ngày 17/10/2013 thì cụ H cũng đồng ý giao toàn bộ phần thừa kế của cụ T2 cho 02 người con là ông H4 và ông K.

Sau khi ông K chết, bà Đ cùng với anh Phạm Minh L1, anh Phạm Thành L và cụ Châu Thị H tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông K tại Ủy ban nhân dân phường D. Ngày 28/12/2022, cụ Châu Thị H cùng anh Phạm Thành L và anh Phạm Minh L1 tự nguyện làm Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế đề ngày 28/12/2022 do ông Phạm Thế K chết để lại. Điều này được UBND phường I chứng thực chữ ký số: 27/2022-SCT-HĐ.GD ngày 28/12/2022. Ngày 28/12/2022 các bên đã ký văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giao toàn bộ di sản trên cho bà Đ đứng tên.

Bà Đ đã thực hiện thủ tục nộp hồ sơ và đã hoàn thành thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đối với phần di sản trên theo quy định của pháp luật (chỉnh lý trang 4).

Ngày 10/02/2023, bà Đ thực hiện thủ tục tặng cho QSDĐ diện tích: 114,1m², tại thửa 916 (tách từ thửa 852) cho con ruột là anh Phạm Thành L. Việc tặng cho được thực hiện tại Văn phòng C. Trên phần đất tặng cho không có nhà ở, chỉ có mái che.

Ngày 10/02/2023, bà Đ chuyển nhượng phần diện tích: 193,20 m², tại thửa 917 (tách từ thửa 852), tờ bản đồ số 09, cho ông Lâm Tấn T, sinh năm: 1968 và bà Nguyễn Thị Q, sinh năm: 1968, cùng địa chỉ: Khu phố H, phường H, thành phố T, tỉnh Tây Ninh theo Hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất ngày 10/02/2023. Trên phần đất đã chuyển nhượng có căn nhà cấp 4. Bà Đ đã giao nhà đất do ông Lâm Tấn T quản lý, sử dụng.

Hiện nay, diện tích đất còn lại có chiều ngang 19,04 m x dài hết đất = 750,8 m² thuộc thửa 918 (tách từ thửa 852), tờ bản đồ số 09 trên đất có 01 căn nhà cấp 4 và mái che bao quanh phần đất do bà Đ đang ở cùng với cụ H và anh Minh L1.

Đối với Biên bản xem xét thẩm định tài chỗ ngày 11/07/2023 và Biên bản định giá ngày 11/07/2023: Bà Đ, anh Minh L1, anh Thành L không đồng ý với Hội đồng thẩm định giá về việc xác định căn nhà trên phần đất tranh chấp là "Căn nhà thờ".

Bà không đồng ý yêu cầu chia thừa kế của nguyên đơn, lý do vị trí nhà phía nguyên đơn yêu cầu mặt dù là của cha mẹ chồng xây dựng nhưng nó đã được chia cho chồng bà khi còn sống, vợ chồng bà có tu sửa lại căn nhà để cho gia đình cùng ở. Việc sửa chữa nhà thực hiện 02 lần, lần thứ I vào năm 2000, lần thứ 2 vào năm 2017 (thay gạch nền, làm lại cửa sổ, cửa chính, thay tole mới...) tiền sửa chữa khoảng 160.000.000 đồng, do vợ chồng cùng bỏ tiền ra sửa chữa. Phần nhà tạm chỗ quán nước, khoảng năm 2014, vợ chồng xây lại cho con bà là Phạm Thành L sống. Trước đây T3 Luân sống trên căn nhà cấp 4 mà gia đình đã chuyển nhượng cho ông T, bà Q. Về giá trị tài sản bà thống nhất theo biên bản định giá ngày 11/7/2023, không có ý kiến khác.

Đối với các tài sản còn lại trên đất đều do vợ chồng bà xây dựng, thời gian xây dựng bà không nhớ rõ.

Trường hợp Tòa án chấp nhận yêu cầu khởi kiện của phía nguyên đơn, giao phần đất diện tích nhà cho cụ H, bà không yêu cầu hoàn trả tiền đã sửa chữa nhà. Đề nghị Tòa án tính công sức đóng sức đóng góp, tôn tạo, gìn giữ đất của bà theo 01 suất thừa kế theo quy định của pháp luật. Bà không cung cấp được tài liệu chứng cứ về việc tôn tạo, gìn giữ đất.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan anh Minh L1, Thành L là anh Lê Phước Ý trình bày:

Căn cứ Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế số: 27/2022-SCT-HĐ.GD ngày 28/12/2022 và Văn bản khai nhận di sản thừa kế số: 28/2022-SCT-HĐ.GD ngày 28/12/2022 thì bà Đ đã khai nhận thừa kế và đã kê khai đăng ký tại cơ quan nhà nước (chỉnh lý trang 4) đúng quy định pháp luật nên xác định nhà, các công trình trên đất và đất tại thửa đất số 852, tờ bản đồ số 9, diện tích: 1.058,1 m² tọa lạc tại: khu phố F, phường I, thành phố T, tỉnh Tây Ninh đang tranh chấp không còn là di sản thừa kế của ông K; hiện tại là tài sản riêng của bà Đ. Do đó, anh Thành L, Minh L1 không tranh chấp, không đồng ý với yêu cầu của cụ H về việc chia thừa kế theo quy định của pháp luật phần diện tích 1058,1 m².

Trường hợp Tòa án xác định tài sản nêu trên là di sản thừa kế của ông K chưa chia phải giải quyết chia thừa kế theo quy định pháp luật thì phần di sản thừa kế anh Minh L1, Thành L được chia, 02 anh đồng ý tặng cho phần di sản thừa kế được chia cho bà Đ.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Lâm Tấn T trình bày:

Ngày 10/02/2023, ông và vợ Nguyễn Thị Q có nhận chuyển nhượng phần đất diện tích 193,20m² tại thửa 917 (tách từ thửa 852), tờ bản đồ số 9 của bà Võ Thị Tuyết Đ theo Hợp đồng chuyển nhượng số 362, quyền so61/2023.TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C chứng nhận ngày 10/02/2023. Trên phần đất chuyển nhượng có căn nhà cấp 4, bà Đ đã giao nhà đất cho vợ chồng ông quản lý, sử dụng từ khi chuyển nhượng đến nay. Vợ chồng ông chuyển nhượng hợp pháp những người thừa kế không tranh chấp nên ông không có ý kiến đối với tranh chấp giữa cụ H với bà Đ.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Nguyễn Thị Q trình bày: Thống nhất với lời trình bày của ông T

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Phạm Thế H4 trình bày:

Ông là con trai của cụ Châu Thị Hi . Theo kết quả đo đạc tại “Sơ đồ hiện trạng đất” số 421/SĐ-ĐC thể hiện phần đất tranh chấp giữa cụ H và bà Võ Thị Tuyết Đ có 01 cạnh giáp thửa 598, tờ bản đồ số 9 do ông đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vị trí ranh hiện trạng không trùng vị trí ranh bản đồ địa chính, cụ thể, thửa 598 của ông cấn ranh sang thửa 852, tờ bản đồ số 9 diện tích 6,9m² ông không có ý kiến gì. Ranh đất giữa hai thửa đất đã có từ lâu, được xác định rõ ràng, xây hàng rào cố định. Hiện ông không có ý kiến, không có yêu cầu gì trong vụ án tranh chấp giữa cụ H và bà Đ.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2024, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Huỳnh Minh T1 trình bày:

Trước đây, vợ chồng anh có nhận chuyển nhượng của bà Đ, ông K phần đất diện tích 340,90m² và được cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào ngày 11/12/2017. Khi chuyển nhượng đã xác định ranh đất rõ ràng, anh đã xây hàng rào bằng tường gạch cố định và quản lý sử dụng từ khi nhận chuyển nhượng đến nay, không có tranh chấp.

Quá trình giải quyết vụ án tranh chấp giữa cụ H và bà Đ, theo kết quả đo đạc tại “Sơ đồ hiện trạng đất” số 421/SĐ-ĐC thể hiện phần đất tranh chấp giữa cụ H và bà Võ Thị Tuyết Đ có 01 cạnh giáp thửa 713, tờ bản đồ số 9 do vợ chồng đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vị trí ranh hiện trạng không trùng vị trí ranh bản đồ địa chính, cụ thể, thửa 713 của anh cấn ranh sang thửa 852, tờ bản đồ số 9 diện tích 4,4m² anh không có ý kiến gì và không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Tại biên bản lấy lời khai ngày 21/6/2024 người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan chị Trần Thị Lệ H3 trình bày: Thống nhất với ý kiến của anh Huỳnh Minh T1, không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan anh Dương Văn H2 trình bày:

Theo kết quả đo đạc tại “Sơ đồ hiện trạng đất” số 421/SĐ-ĐC thể hiện phần đất tranh chấp giữa cụ H và bà Võ Thị Tuyết Đ có 01 cạnh giáp thửa 814, tờ bản đồ số 9 do anh đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất nhưng vị trí ranh hiện trạng không trùng vị trí ranh bản đồ địa chính, cụ thể, thửa 852 của anh cấn ranh sang thửa 850, tờ bản đồ số 9 diện tích 14,4m², thửa 850 cấn ranh sang thửa 852 diện tích 2,2m², thửa 851 cấn ranh sang thửa 852 diện tích 0,6m² anh không có ý kiến gì và không có yêu cầu gì trong vụ án này.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Văn B là anh Trần Văn V1 trình bày:

Ông Trần Văn B là hàng xóm của cụ Châu Thị Hi . Phần đất diện tích 209,5 m² thửa số 814, tờ bản đồ số 9, diện tích 1.058,1 m² tọa lạc tại khu phố F, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh là của ông B. Phần đất trên giáp ranh với phần đất tranh chấp giữa cụ H và bà Đ. Nguồn gốc phần đất là do ông B nhận chuyển nhượng của ông Trần Văn N, bà Trần Thị T4 (ông N nhận chuyển nhượng của ông Phạm Thế K) vào khoảng tháng 5/2020. Ngày 28/7/2020, ông B cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Quá trình sử dụng đất, các bên đã xác định rõ ranh đất, hàng rào kiên cố có sẵn từ khi ông B nhận chuyển nhượng lại của ông N và bà T4. Ông B đang quản lý sử dụng phần diện tích đất trên từ sau khi nhận chuyển nhượng cho đến nay, ranh đất không thay đổi gì, không ai tranh chấp. Do đó, trong vụ án này, ông B không có ý kiến, không tranh chấp.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, Ủy ban nhân dân Phường D trình bày:

Tại Công văn số 25/UBND ngày 28/02/2024, Ủy ban nhân dân Phường I trình bày: Đối với Văn bản khai nhân di sản thừa kế có chứng thực của Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh ngày 28/12/2023, số chứng thực số 28, quyển số 01/2022-SCT/HĐGD; Văn bản từ chối nhận di sản có chứng thực của Ủy ban nhân dân Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh ngày 28/12/2023, số chứng thực số 27, quyển số 01/2022 TP/CC-SCT/HĐGD Ủy ban nhân dân Phường D chứng thực đảm bảo trình tự thủ tục theo quy định.

Ngày 09/01/2023, tại phòng họp Ủy ban nhân dân Phường D, Ủy ban có lập biên bản thỏa thuận thể hiện nội dung chia di sản thừa kế của ông K, có sự tham gia và ký tên của cụ Châu Thị H, ông Phạm Thế H4, anh Phạm Minh L1, bà Võ Thị Tuyết Đ, thỏa thuận sau khi bà Đ đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sẽ tách phần đất ngang 10m x dài hết đất (phần nhà thờ) cho cụ H, ông H4, anh Thành L, anh Minh L1 cùng đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

Tại bản án số 108/2024/DS-ST ngày 23/7/2024 của TAND thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện “Tranh chấp về thừa kế tài sản” của cụ Châu Thị H đối với bà Võ Thị Tuyết Đ.
  2. Chia cho cụ Châu Thị H quyền sử dụng đất và sở hữu toàn bộ tài sản, công trình, vật kiến trúc gắn liền với phần đất diện tích 279,7m² (trong đó: loại đất ODT: 43,4m², CLN: 236,3m², diện tích QHLG: 3,6m²) thuộc thửa 852, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh có tứ cận:
    • Hướng Đông giáp đường Nguyễn Văn R dài 7,2m
    • Hướng Tây giáp thửa 598 dài 7,62m
    • Hướng Nam giáp phần đất giao cho bà Đ thửa 852 dài 37,52m
    • Hướng Bắc giáp phần đất giao cho bà Đ thửa 852 dài 39,41m
  3. Chia cho bà Võ Thị Tuyết Đ quyền sử dụng đất và sở hữu toàn bộ tài sản, công trình, vật kiến trúc gắn liền phần đất diện tích 621,3m² (trong đó: loại đất ODT: 96,6m², CLN: 577,9m², diện tích QHLG: 9,9m²) thuộc thửa 852, tờ bản đồ số 9 gồm ba phần như sau:
    • + Phần thứ nhất diện tích 272,4m² có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp đường Nguyễn Văn R dài 4,62m
      • Hướng Tây giáp thửa 598 dài 10,60m
      • Hướng Nam giáp thửa 814 dài 35,25m
      • Hướng Bắc giáp phần đất giao cho cụ H dài 37,52m
    • + Phần thứ hai diện tích 233,9m² có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp đường Nguyễn Văn R dài 6,97m
      • Hướng Tây giáp thửa 598, 850 dài 1,33m + 9,76m + 3,62m
      • Hướng Nam giáp thửa phần đất chia cho cụ H dài 39,41m
      • Hướng Bắc giáp phần đất đã chuyển nhượng cho ông T, bà Q dài 31,11m.
    • + Phần thứ ba diện tích 115,0m² có tứ cận:
      • Hướng Đông giáp đường Nguyễn Văn R dài 7,97m
      • Hướng Tây giáp thửa 850 dài 0m
      • Hướng Bắc giáp thửa 713 dài 29,79m
      • Hướng Nam giáp phần đất đã chuyển nhượng cho ông T, bà Q dài 28,85m.

(Vị trí, mốc giới, tứ cận thửa đất phân chia cho cụ H, bà Đ có sơ đồ kèm theo bản án).

Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án.

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.

Ngày 01/8/2024, bà Võ Thị Tuyết Đ, anh Phạm Thành L và anh Phạm Minh L1 kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm, yêu cầu sửa bản án theo hướng không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

Ngày 07/8/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh ban hành Quyết định kháng nghị phúc thẩm số 09, đề nghị sửa án sơ thẩm do cấp sơ thẩm xác định không chính xác diện tích đất của mỗi kỷ phần, thiếu quan hệ tranh chấp, không giải quyết các yêu cầu khởi kiện bổ sung của cụ H, xác định chi phí đo đạc, thẩm định chỗ và án phí không đúng.

Tại phiên toà phúc thẩm:

Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh rút toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:

Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Tuyết Đ, anh Phạm Thành L và anh Phạm Minh L1, sửa bản án sơ thẩm về việc không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế tài sản của cụ H. Ghi nhận bà Đ đồng ý tách diện tích ngang 11,82m dài hết đất (trên đất có căn nhà thờ) cho cụ H, bà Đ, anh Thành L và anh M L cùng đứng tên trong giấy chứng nhận quyền sử dụng đất.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng: Cụ Châu Thị H, bà Võ Thị Tuyết Đ, anh Phạm Thành L, anh Phạm Minh L1, anh Dương Văn H2, ông Lâm Tấn T, bà Nguyễn Thị Q, anh Huỳnh Minh T1 và chị Trần Thị Lệ H3 có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 227, 228 Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung giải quyết vụ án: Cụ H khởi kiện yêu cầu chia di sản thừa kế theo quy định của pháp luật đối với phần đất diện tích 901m² thửa 852, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại Khu phố F, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu được nhận phần di sản thừa kế tại vị trí căn nhà thờ có chiều ngang 7,2m, dài hết đất. Bà Đ là bị đơn; anh Minh L1, anh Thành L là người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan không đồng ý yêu cầu khởi kiện của cụ H, cho rằng sau khi ông K chết, bà Đ cùng với anh Phạm Minh L1, anh Phạm Thành L và cụ Châu Thị H đã tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông K tại Ủy ban nhân dân phường D. Ngày 28/12/2022, cụ Châu Thị H cùng anh Phạm Thành L, anh Phạm Minh L1 tự nguyện làm Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế đề ngày 28/12/2022 do ông Phạm Thế K chết để lại. Điều này được UBND phường I chứng thực chữ ký số: 27/2022-SCT-HĐ.GD ngày 28/12/2022. Ngày 28/12/2022 các bên đã ký văn bản thỏa thuận phân chia di sản thừa kế giao toàn bộ di sản trên cho bà Đ đứng tên.

[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà Võ Thị Tuyết Đ, anh Phạm Thành L và anh Phạm Minh L1 thấy rằng:

Nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cụ Phạm Văn T2 (cha ông K) đứng tên diện tích 4.768,4m² cấp ngày 29/11/1996. Năm 1992 cụ T2 chết; cụ H, ông Phạm Thế H4, ông Phạm Thế K làm thủ tục khai nhận thừa kế ngày 17/12/2023. Trong đó ông H4 đứng tên diện tích 320m², ông K đứng tên diện tích 4.448,4m²; ông K chuyển nhượng cho nhiều người; tặng cho ông Phạm Thế H4(anh ruột) diện tích 328m² còn lại diện tích 1.058,1m²; cụ H thống nhất diện tích chuyển nhượng cho ông T, bà Q để thanh toán nợ cho ông K là 189,8m² nên diện tích còn lại các bên tranh chấp là 901m²; bà Đ đã được chỉnh lý trang 4 đứng tên Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 06/02/2023. Trên đất có căn nhà thờ hiện tại do cụ H, bà Đ, anh Thành L và anh Minh L1 đang quản lý sử dụng.

Ngày 18/9/2022 ông K chết; đến ngày 28/12/2022, các thừa kế của ông K gồm cụ H, bà Đ, anh M L1 và anh Thành L đã tiến hành thủ tục khai nhận di sản thừa kế của ông K; theo Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế và Văn bản khai nhận di sản thừa kế; theo đó cụ H, anh Thành L, anh Minh L1 từ chối nhận di sản và giao toàn bộ di sản của ông K lại cho bà Đ. Văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 28/12/2022 có hình thức và nội dung đúng quy định tại khoản 2 Điều 656 của Bộ luật Dân sự 2015, Điều 167 của Luật Đất đai năm 2013 nên văn bản này có hiệu lực thực hiện.

Xét Biên bản ngày 09/01/2023 của D thành phố T thấy rằng: Đây là biên bản làm việc giữa các bên do cụ H có đơn ngăn chặn việc bà Đ nhận thừa kế, không phải là Văn bản thay đổi hay hủy bỏ Văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 28/12/2022. Biên bản này không có anh Phạm Thành L (là một trong các bên đã ký Văn bản từ chối nhận di sản thừa kế) ký tên; văn bản này cũng không được chứng thực theo quy định của Luật đất đai về giao dịch liên quan đến quyền sử dụng đất. Về nội dung biên bản thể hiện bà Đ đồng ý tách quyền sử dụng đất của bà (do được hưởng theo Văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 28/12/2022) cho cụ H, ông H4, anh Minh L1, anh Thành L cùng đứng tên; không phải là bà Đ thống nhất chia lại di sản thừa kế của ông K. Hơn nữa, anh Phạm Thành L là người được hưởng thừa kế theo pháp luật của ông K nhưng không có mặt; còn ông H4 là người làm chứng, không phải là người thừa kế theo pháp luật của ông K nhưng lại được hưởng thừa kế (tại phiên tòa và biên bản ghi lời ngày 25/11/2024 ông Phạm Thế H4 không yêu cầu thực hiện theo biên bản ngày 09/01/2023 của UBND thành phố T); như vậy nội dung của biên bản có sự mâu thuẫn và không phù hợp với quy định của pháp luật.

Vì vậy, không có cơ sở xác định Văn bản khai nhận di sản thừa kế ngày 28/12/2022 đã bị thay đổi, hủy bỏ; cũng không có cơ sở để hủy bỏ văn bản này nên di sản thừa kế của ông K đã được phân chia xong, phần đất tranh chấp đã trở thành tài sản hợp pháp của bà Đ; do đó, việc cụ H yêu cầu chia di sản thừa kế đối với tài sản tranh chấp là không có căn cứ chấp nhận.

Cấp sơ thẩm cho rằng theo Biên bản ngày 09/01/2023 thì việc cụ H đồng ý để cho bà Đ đứng tên quyền sử dụng đất của ông K là có điều kiện, do bà Đ không thực hiện đúng điều kiện nên cụ H có quyền yêu cầu chia lại di sản của ông K là không đúng. Hơn nữa, tại Biên bản hòa giải ngày 02/3/2023 của D thể hiện cụ H đã thay đổi không còn yêu cầu bà Đ tách ngang 10m cho cụ, ông H4, anh Thành L và anh Minh L1 cũng đứng tên như tại Biên bản ngày 09/01/2023 nữa mà yêu cầu tách cho một mình cụ đứng tên nên bà Đ không đồng ý.

Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện cụ H xác định yêu cầu chia di sản thừa kế của ông K theo quy định của pháp luật. Cấp sơ thẩm chia thừa kế phần đất tranh chấp theo pháp luật là không đúng vì phần đất này không còn là di sản của ông K. Do đó yêu cầu kháng cáo của bà Đ, anh Thành L và anh Minh L1 về việc không chấp nhận yêu cầu chia thừa kế của cụ H là có cơ sở chấp nhận.

Tuy nhiên bà Đ, anh Thành L và anh M L đồng ý tách phần căn nhà thờ có diện tích 11,82m x dài hết đất (552,1m²) cho cụ H, bà Đ, anh M L và anh Thành L cùng đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất, xét thấy ý kiến của bà Đ, anh M L và anh Thành L là tự nguyện, tạo điều kiện cho cụ H, bà Đ cùng sinh sống và cùng thờ cúng cụ T2 và ông K; hiện tại cụ H và bà Đ không có chổ ở nào khác là phù hợp đạo đức và quy định của pháp luật nên ghi nhận.

Vì vậy, có căn cứ chấp nhận 01 phần kháng cáo của bà Đ, anh Thành L, anh Minh L1, sửa bản án sơ thẩm theo hướng cụ H, bà Đ, anh Minh L1, anh Thành L được quyền sử dụng phần đất diện tích ngang 11,82m x dài hết đất và sở hữu căn nhà thờ trên đất (552,1m²).

[4]. Xét kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh thấy rằng:

Tại phiên tòa Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh rút toàn bộ kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh nên Hội đồng xét xử căn cứ Điều 284 Bộ luật Tố tụng dân sự tiến hành đình chỉ đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

[5] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu kháng cáo của bà Đ, anh M L và anh Thành L về việc chấp nhận 01 phần yêu cầu cầu khởi kiện của cụ H.

Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích 552,1m² thuộc một phần thửa 852, tờ bản đồ số 9, tọa lạc khu phố F, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo điều chỉnh tại trang 4 ngày 06/02/2023 cho bà Đ để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc phẩm và chi phí tố tụng theo quy định của pháp luật. Cụ H, bà Đ là người cao tuổi được miễn án phí. Anh Minh L và anh Thành L mỗi người phải chịu là (11,82m : 4 = 2,955m x 650.000.000 đồng/m ngang = 1.920.750.000 đồng = 36.000.000 đồng + 3% của phần giá trị tài sản có tranh chấp vượt 800.000.000 đồng) = 69.622.500 đồng.

[6] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có căn cứ chấp nhận.

Vì các lẽ trên;

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;

  • Chấp nhận 01 phần kháng cáo của bà Võ Thị Tuyết Đ, anh Phạm Minh L1 và anh Phạm Thành L.
  • Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng nghị của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.
  • Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 108/2024/DS-ST ngày 23 tháng 7 năm 2024, của Toà án nhân dân thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Căn cứ Điều 244, Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng Dân sự; Điều 149, 610, 611, 612, 613, 614, 623, 649, 650, 651, 660 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

  1. Chấp nhận 01 phần yêu cầu khởi kiện của cụ Châu Thị H đối với bà Võ Thị Tuyết Đ về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.
  2. Cụ Châu Thị H, bà Võ Thị Tuyết Đ, anh Phạm Minh L1 và anh Phạm Thành L được quyền sử dụng đất và sở hữu toàn bộ tài sản, công trình, vật kiến trúc gắn liền với phần đất diện tích 552,1m² (trong đó: loại đất ODT: 100m², CLN: 452,1m², diện tích QHLG: 6m²) thuộc thửa 852, tờ bản đồ số 9, tọa lạc tại khu phố F, Phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh có tứ cận:

    • Hướng Đông giáp đường Nguyễn Văn R dài 11,82m
    • Hướng Tây giáp thửa 598 dài 18,22m
    • Hướng Nam giáp thửa 814 dài 35,25m
    • Hướng Bắc giáp thửa 852 dài 39,41m

    Kiến nghị cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích 552,1m² thuộc một phần thửa 852, tờ bản đồ số 9, tọa lạc khu phố F, phường D, thành phố T, tỉnh Tây Ninh giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo điều chỉnh tại trang 4 ngày 06/02/2023 cho bà Võ Thị Tuyết Đ để cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của bản án.

    Các đương sự có trách nhiệm đến cơ quan có thẩm quyền thực hiện thủ tục cấp lại Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất theo quyết định của Tòa án.

  3. Về chi phí tố tụng: Cụ Châu Thị H phải chịu 4.039.000 đồng tiền chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản (ghi nhận đã nộp đủ).
  4. Bà Võ Thị Tuyết Đ, anh Phạm Thành L và anh Phạm Minh L1 mỗi người có nghĩa vụ trả cho cụ H 4.039.000 đồng tiền chi phí đo đạc, thẩm định, định giá tài sản.

  5. Án phí dân sự sơ thẩm:
  6. Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho cụ Châu Thị H, bà Võ Thị Tuyết Đ.

    Anh Phạm Thành L và anh Phạm Minh L1 mỗi người phải chịu 69.622.500 đồng.

  7. Về án phí dân sự phúc thẩm:
  8. Bà Võ Thị Tuyết Đ được miễn án phí dân sự phúc thẩm.

    Hoàn trả cho anh Phạm Thành L 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, theo biên lai thu số: 0003172 ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

    Hoàn trả cho anh Phạm Minh L1 300.000 đồng tiền tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm, theo biên lai thu số: 0003173 ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tây Ninh, tỉnh Tây Ninh.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - VKSND tỉnh Tây Ninh;
  • - Phòng KTNV.TAT;
  • - TAND thành phố Tây Ninh;
  • - CCTHADS thành phố Tây Ninh;
  • - Những người tham gia tố tụng;
  • - Lưu hồ sơ vụ án;
  • - Lưu tập án; Lưu VP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Dương Thúy Hằng

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 569/2024/DS-PT ngày 27/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 569/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 27/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: H yêu cầu chia thừa kế
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger