|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 569/2024/HS-ST
Ngày: 14/11/2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Phạm Văn Phước.
- Ông Võ Văn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Duy – Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 522/2024/HSST ngày 08 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 595/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Quốc C, sinh ngày: 05/6/1989 tại Bình Định; CCCD: [...]; Nơi thường trú: 252/10 Quốc lộ A, Khu phố A, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nghề nghiệp: Thợ sơn nước; Trình độ học vấn: 0/12; Giới tính: Nam; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Cha: Nguyễn Văn C1, sinh năm 1969; Mẹ: Nguyễn Thị D, sinh năm 1969; Vợ: Trần Thị Mỹ H, sinh năm 1989; Con: Có 01 con sinh năm 2008; Tiền sự: Không.
Tiền án: Có 01 tiền án: Ngày 19/12/2017, bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức xử phạt 08 (tám) năm tù về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” quy định khoản 2 Điều 194 Bộ luật Hình sự 1999, sửa đổi bổ sung 2009 (Bản án số 372/HSST ngày 19/12/2017). Đã nộp án phí sơ thẩm ngày 10/9/2018 và chấp hành xong án phạt tù ngày 12/05/2023.
Nhân thân: Ngày 08/7/2015, bị Công an thị xã D, tỉnh Bình Dương bắt về hành vi “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
Bị cáo bị bắt tạm giam từ ngày 31/01/2024, bị cáo có mặt tại phiên tòa.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Quốc C là đối tượng nghiện ma túy, thông qua bạn nghiện nên C biết được một người đàn ông (không rõ nhân thân) ở khu vực cầu vượt S (thuộc thành phố D, tỉnh Bình Dương) có bán ma túy nên C đã nhiều lần liên hệ mua ma túy để sử dụng. Vào khoảng 16 giờ ngày 28/01/2024, Nguyễn Quốc C sử dụng điện thoại của mình gắn sim số 0898255201 liên lạc qua mạng xã hội Zalo với người đàn ông nói trên đặt mua ma túy với giá 2.000.000 (hai triệu) đồng thì người này đồng ý bán và hẹn C đến khu vực cầu vượt S để giao ma túy thì C đồng ý. Sau đó, C điều khiển xe gắn máy biển số 48B1 – 224.67 đến điểm hẹn giao tiền rồi lấy gói ma túy về chiết một ít sử dụng riêng cho bản thân mình. Số ma túy còn lại C chiết ra 14 gói nylon nhỏ, trong đó C đem cất giấu 11 gói ma túy trong bao thuốc lá hiệu Jet rồi bỏ vào cốp xe, 03 gói ma túy còn lại C cất giấu vào hộp giấy để dưới yên xe. Lúc 11 giờ 50 phút ngày 31/01/2024, Đội Cảnh sát điều tra tội phạm về ma túy Công an thành phố T phối hợp cùng Công an phường L, thành phố T tuần tra đến đầu hẻm B, Quốc lộ A, Khu phố A, phường L, thành phố T thì phát hiện Nguyễn Quốc C (sinh năm 1989) đang điều khiển xe gắn máy BKS: 48B1 – 224.67 có biểu hiện nghi vấn nên tiến hành kiểm tra thì phát hiện bên trong cốp xe có một vỏ bao thuốc lá hiệu “JET” bên trong đựng 11 gói nylon chứa tinh thể không màu và dưới yên xe có một hộp giấy đựng bên trong 03 gói nylon chứa tinh thể không màu đều là ma túy nên đã lập biên bản bắt người phạm tội quả tang, đồng thời thu giữ tang vật có liên quan.
Kết quả xét nghiệm ma túy, Cường dương T với ma túy, loại Methamphetamine.
Tại Bản kết luận giám định số: 2136/KL-KTHS, ngày 09/02/2024 của Phòng K Công an Thành phố H kết luận: “Gói 1: Tinh thể không màu trong 11 gói nilon (kí hiệu m1) là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 3,9763g, loại Methamphetamine. Gói 2: Tinh thể không màu trong 01 gói nilon (kí hiệu m2) là ma túy ở thể rắn, khối lượng 0,6797g, loại Methamphetamine. Tinh thể không màu trong 02 gói nilon (kí hiệu m3) là ma túy ở thể rắn, tổng khối lượng 12,2575g, loại Methamphetamine. Tổng khối lượng ma túy thu giữ của Nguyễn Quốc C là 16,9135 gam, loại Methamphetamine”.
* Vật chứng vụ án:
- 01 (một) gói niêm phong số 711/24 ngày 10/5/2024 có chữ ký của GĐV Nguyễn Văn Ú Lớn bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16, màu xám số sim: 0898255201 thu giữ của Nguyễn Quốc C.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số: 48B1-224.67, số máy 1DB184554, số khung RLCN1DB10DY184549. Qua xác minh, chiếc xe mô tô trên thuộc sở hữu của ông Vũ Xuân B (Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông), ông B khai nhận chiếc xe trên đã được bán cho một người tên Vũ Xuân C2 ở Đồng Nai (không rõ địa chỉ) vào năm 2018, khi bán không làm thủ tục sang tên. Nguyễn Quốc C khai nhận chiếc xe mô tô nêu trên được mua lại vào năm 2023, khi mua không làm thủ tục sang tên.
Tại phiên tòa, bị cáo Nguyễn Quốc C khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận giám định, với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng và cơ quan tiến hành tố tụng, không có ý kiến gì khác.
Tại Cáo trạng số: 490/CT-VKSTPTĐ ngày 08 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Quốc C về tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, khung hình phạt, điều luật áp dụng, tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51, Điều 50, Điều 38 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C từ 07 (bảy) năm 6 (sáu) tháng đến 08 (tám) năm tù.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định pháp luật.
Bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
- Về tố tụng: Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều đúng pháp luật.
- Về nội dung: Trong quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt người phạm tội, kết luận giám định và phù hợp với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, có đủ cơ sở kết luận: Vào hồi 11 giờ 50 phút ngày 31/01/2024, tại đầu hẻm B, Quốc lộ A, Khu phố A, phường L, thành phố T, Nguyễn Quốc C đã có hành vi tàng trữ trái phép 16,9134 gam ma túy, loại Methamphetamine mà không nhằm mục đích mua bán, vận chuyển, sản xuất trái phép chất ma túy.
Hành vi tàng trữ 16,9134 gam ma túy, loại Methamphetamine của bị cáo C đã phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy” theo quy định tại Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017 như kết luận của Kiểm sát viên.
Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với đối tượng bán ma túy cho C do không rõ lai lịch nhân thân, địa chỉ cụ thể nên chưa mời làm việc được. Đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục xác minh làm rõ.
Đối với lời khai C xác định có cho người nghiện khác sử dụng chung ma túy của mình rồi người nghiện sẽ trả lại cho C số tiền 100.000 (một trăm nghìn) đồng. Đồng thời quá trình bắt giữ và khám xét nơi ở của C không thu giữ được dụng cụ sử dụng ma túy. Xét thấy, ngoài lời khai của C thì không xác định được nhân thân người nghiện sử dụng ma túy chung với C, không thu giữ được dụng cụ sử dụng ma túy nên chưa đủ căn cứ xử lý hành vi mua bán trái phép chất ma túy hay tổ chức sử dụng trái phép chất ma túy của C.
- Về tình tiết định khung hình phạt
Bị cáo Nguyễn Quốc C có hành vi tàng trữ trái phép 16,9134 gam ma túy loại Methamphetamine, ngoài ra bị cáo có 01 tiền án chưa được xóa án tích về tội “Mua bán trái phép chất ma túy” thuộc trường hợp tội phạm rất nghiêm trọng. Do đó, hành vi phạm tội của bị cáo C thuộc trường hợp “Methamphetamine có khối lượng từ 05 gam đến dưới 30 gam” và “Tái phạm nguy hiểm” quy định tại điểm g, o khoản 2 Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:
Về các tình tiết tăng nặng: Bị cáo C không có tình tiết tăng nặng.
Về các tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa hôm nay, bị cáo Nguyễn Quốc C có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Vì vậy, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
- Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là rất nghiêm trọng, bị cáo có đầy đủ năng lực trách nhiệm hình sự, hành vi phạm tội của bị cáo là cố ý, đã xâm phạm đến chế độ độc quyền của Nhà nước trong quản lý, tàng trữ các chất ma túy, gây ảnh hưởng xấu đến trật tự an toàn xã hội, làm tiền đề phát sinh nhiều tội phạm, tệ nạn xấu trong xã hội. Bị cáo có nhân thân xấu, từng bị xét xử về tội phạm ma túy. Do đó, cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015, xét:
- 01 (một) gói niêm phong số 711/24 ngày 10/5/2024 có chữ ký của GĐV Nguyễn Văn Ú Lớn bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định, đây là vật Nhà nước cấm lưu hành nên tịch thu và tiêu hủy;
- 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16, màu xám số sim: 0898255201 thu giữ của Nguyễn Quốc C. Xét thấy, đây là phương tiện Nguyễn Quốc C sử dụng để liên lạc nhằm thực hiện hành vi phạm tội. Do đó, cần tịch thu sung ngân sách Nhà nước.
- 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số: 48B1-224.67, số máy 1DB184554, số khung RLCN1DB10DY184549. Qua xác minh, chiếc xe mô tô trên thuộc sở hữu của ông Vũ Xuân B (Địa chỉ: Thôn A, xã Đ, huyện Đ, tỉnh Đắk Nông), ông B khai nhận chiếc xe trên đã được bán cho một người tên Vũ Xuân C2 ở Đồng Nai (không rõ địa chỉ) vào năm 2018, khi bán không làm thủ tục sang tên. Nguyễn Quốc C khai nhận chiếc xe mô tô nêu trên được mua lại vào năm 2023, khi mua không làm thủ tục sang tên. Do đó, cần tiến hành đăng báo tìm chủ sở hữu, nếu quá thời hạn không có người đến nhận đề nghị tiến hành phát mãi tài sản, sung công quỹ Nhà nước.
- Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
- Về quyền kháng cáo: Bị cáo có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Áp dụng Điều 249 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Quốc C phạm tội “Tàng trữ trái phép chất ma túy”.
- Áp dụng điểm g, o khoản 2 Điều 249 ; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 50; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Quốc C 08 (tám) năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 31/01/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017 và Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015:
- Tịch thu và tiêu hủy: 01 (một) gói niêm phong số 711/24 ngày 10/5/2024 có chữ ký của GĐV Nguyễn Văn Ú Lớn bên trong là ma túy còn lại sau khi giám định.
- Tịch thu sung ngân sách nhà nước 01 điện thoại di động hiệu Oppo A16, màu xám số sim: 0898255201.
- Thông báo trên phương tiện thông tin đại chúng để tìm chủ sở hữu 01 xe mô tô nhãn hiệu Yamaha biển số: 48B1-224.67, số máy 1DB184554, số khung RLCN1DB10DY184549. Trong thời hạn 01 năm kể từ ngày thông báo, nếu không tìm được chủ sở hữu thì tiến hành tịch thu, phát mãi tài sản nộp vào ngân sách nhà nước.
(Theo Phiếu nhập kho số: NK24/491C ngày 08/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí: Căn cứ vào Khoản 2 Điều 135; Khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Buộc bị cáo Nguyễn Quốc C nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ vào Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
Bị cáo Nguyễn Quốc C được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án. Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thị Thu |
Bản án số 569/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tàng trữ trái phép chất ma túy
- Số bản án: 569/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tàng trữ trái phép chất ma túy
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Quốc C - Tàng trữ trái phép chất ma túy
