Hệ thống pháp luật

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI HÀ NỘI

CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc


Bản án số: 569/2024/DS-PT

Ngày: 30 - 10 - 2024

V/v: Tranh chấp quyền sử dụng

đất và tài sản gắn liền với đất


NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI


- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Trần Quang Minh

Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Cường và bà Phan Thị Vân Hương.

- Thư ký phiên tòa: Ông Phạm Thành Trung - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội: Ông Bùi Ngọc Tân - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Ngày 30 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 419/2024/TLPT-DS ngày 26 tháng 8 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Toà án nhân dân tỉnh Thái Nguyên bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 11419/2024/QĐPT-DS ngày 10 tháng 10 năm 2024 giữa các đương sự:


1. Nguyên đơn:

Bà Triệu Thị V, sinh năm 1971; địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của nguyên đơn bà Triệu Thị V: Ông Bùi Văn L - Luật sư, Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)

2. Bị đơn:

2.1. Ông Đặng Văn K, sinh năm 1985 (có mặt)

2.2. Ông Đặng Văn T, sinh năm 1988 (có mặt)

2.3. Ông Đặng Văn N, sinh năm 1975 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn ông K, ông T và ông N: Bà Hoàng Thị B - Luật sư, Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)

2.4.Bà Dương Thị C, sinh năm 1959 (có mặt)

2.5. Bà Dương Thị S, sinh năm 1969 (có mặt)

Cùng địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho bị đơn bà C và bà S: Ông Nguyễn Công Q - Luật sư, Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)

2.6. Ông Triệu Tiến T1, sinh năm 1942. Người đại diện theo ủy quyền của ông T1: Ông Triệu Văn L1, sinh năm 1975; cùng địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (ông T1 vắng mặt, ông L1 có mặt)

2.7. Ông Triệu Phúc H, sinh năm 1974; địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt)

Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp cho các bị đơn ông T1 và ông H: Bà Dương Thị H1 - Luật sư, Cộng tác viên Trung tâm trợ giúp pháp lý Nhà nước tỉnh T. (có mặt)

3. Người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan:

3.1. Ủy ban nhân dân (viết tắt là UBND) huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Người đại diện theo pháp luật: Ông Vũ Quang D - Chủ tịch UBND huyện;

Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện: Ông Nguyễn Thế H2 - Phó Chủ tịch UBND huyện Đ. (vắng mặt)

3.2. Ông Phạm Văn D1, sinh năm 1974 (chồng bà V); địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (có mặt)

3.3. Ông Đặng Tăng Q1, sinh năm 1966 và chị Phạm Thị M, sinh năm 1987; cùng địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (chị M có mặt, ông Q1 có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.4. Ông Đặng Tăng H3, sinh năm 1962 và chị Hoàng Thị H4, sinh năm 1991; cùng địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (chị H4 có mặt, ông H4 có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.6. Bà Triệu Thị C1, sinh năm 1965; bà Triệu Thị B1, sinh năm 1968; bà Triệu Thị L2, sinh năm 1975; ông Triệu Tài P, sinh năm 1978; bà Triệu Thị L3, sinh năm 1980; bà Triệu Thị L4, sinh năm 1986 và bà Triệu Thị M1, sinh năm 1984 (con ông T1, bà K1); cùng địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (đều có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.7. Bà Triệu Thị N1, sinh năm 1961; địa chỉ: Xóm M, xã T, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (có đơn xin xét xử vắng mặt)

Người đại diện theo uỷ quyền của bà N1, bà C1, bà L2, ông P, bà L3, bà B1: Ông Triệu Văn L1, sinh năm 1975. (có mặt)

3.8. Ông Đặng Tăng K2, sinh năm 1953 và bà Triệu Thị P1, sinh năm 1974. Người đại diện theo ủy quyền của ông K2, bà P1: Ông Đặng Văn N; cùng địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (ông N có mặt, ông K2 và bà P1 có đơn xin xét xử vắng mặt)

3.9. Bà Triệu Thị M2, sinh năm 1974; Người đại diện theo ủy quyền: Ông Triệu Phúc H; cùng địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (bà M2, ông H đều có mặt)

3.10. Anh Triệu Văn N2, sinh năm 1987; chị Triệu Thị S1, sinh năm 1992; chị Triệu Thị T2, sinh năm 1989 và anh Triệu Văn H5, sinh năm 1995 (con bà S); cùng địa chỉ: Xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. (anh N2 có mặt; chị T2, chị S1 và anh H5 đều có đơn xin xét xử vắng mặt)


NỘI DUNG VỤ ÁN

Theo đơn khởi kiện, đơn khởi kiện bổ sung, bản tự khai và lời khai của nguyên đơn bà Triệu Thị V trình bày:

Gia đình bà có thửa đất số 164, tờ bản đồ số 3 tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên, diện tích 66.357,0m², loại đất RPH đã được UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (viết tắt là GCNQSDĐ) số BT 264155 ngày 13/9/2013 mang tên Triệu Thị V.

Trong quá trình quản lý, sử dụng, các gia đình có đất liền kề đã lấn chiếm đất của gia đình bà. Theo kết quả đo đạc tại buổi xem xét, thẩm định tại chỗ của Tòa án, bà xác định diện tích các gia đình tranh chấp của bà, cụ thể như sau:

  • Phần đất tranh chấp với bà Dương Thị S: Nhất trí với kết quả đo đạc là 2331,9m². Toàn bộ diện tích đất trồng chè hạt có xen lẫn 04 cây trám.
  • Phần đất tranh chấp với ông Đặng Văn N: Nhất trí với kết quả đo đạc là 3997m². Toàn bộ diện tích đất tranh chấp trồng chè hạt có xen lẫn 01 cây trám và 03 cây vải thiều.
  • Phần đất tranh chấp với bà Dương Thị C: Tại bản giải trình kết quả đo đạc thể hiện 03 vị trí tranh chấp nhưng bà V yêu cầu giải quyết tranh chấp đối với 02 vị trí là 4547,2m² đất trồng keo + 589,9m² đất ao. Tổng là 5137.1m².
  • Phần đất tranh chấp với ông Triệu Phúc H: Nhất trí với kết quả đo đạc là 2250,9m². Toàn bộ diện tích đất tranh chấp trồng chè (1/2 đất tranh chấp trồng chè hạt và 1/2 còn lại trồng chè cành), có xen lẫn một số cây khác gồm: xoan, trám, đinh, keo.
  • Phần đất tranh chấp với ông Đặng Văn T: Nhất trí với kết quả đo đạc là 2420,1m². Toàn bộ diện tích đất tranh chấp trồng keo. Bị đơn liệt kê tài sản trên đất còn có cây măng bát độ là không đúng vì phần đất trồng măng bát độ bà V không tranh chấp, không yêu cầu Tòa án xem xét, giải quyết.
  • Phần đất tranh tranh chấp với ông Triệu Tiến T1: Nhất trí với kết quả đo đạc là 5655,1m². Toàn bộ diện tích đất tranh chấp trồng cây keo.
  • Phần đất tranh tranh chấp với ông Đặng Văn K: Nhất trí với kết quả đo đạc là 8488,7m². Toàn bộ diện tích đất tranh chấp trồng cây keo.

Ngoài ra, nguyên đơn xác định rõ quan điểm: Đối với phần cây keo mà ông K và anh T đã khai thác, bà V không có ý kiến gì. Đối với cây keo trồng trên đất tranh chấp giữa bà V với bà C, ông T1, anh T: Bà V xác định do bà C, ông T1, anh T trồng cây trên đất của bà. Tuy nhiên do đất đang tranh chấp nên bà không đồng ý cho những người này khai thác.

Tại bản tự khai, lời khai của các bị đơn tại Tòa án và phiên tòa trình bày:

  • Ông Đặng Văn K (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền cho bố là ông Đặng Tăng Q1 và vợ là chị Phạm Thị M) trình bày: Năm 1990, gia đình bố ông có khai phá trồng lúa nương đến ngày 25/5/1992 được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ thửa số 3 thuộc lô K4, diện tích 5,54ha mang tên Đặng Tăng Q1, từ đó gia đình ông vẫn canh tác trên diện tích đất này. Đến năm 2019, gia đình ông phát hiện diện tích đất nhà ông bị cấp chồng vào diện tích đất của bà Triệu Thị V. Sau khi phát hiện đất bị cấp chồng, gia đình ông có ý kiến đến xã V, huyện Đ thì được trả lời, năm 2013 Sở T5 (viết tắt là TN&MT) tỉnh Thái Nguyên thuê và làm thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ nên đã không phát hiện qua việc đo bao diện tích đất của gia đình ông đang quản lý sử dụng đã cấp GCNQSDĐ cho bà V... Ông không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khi có bản trích đo diện tích đất bị chồng lấn ông đã làm đơn phản tố yêu cầu Toà án công nhận QSDĐ của ông đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1994 và huỷ GCNQSDĐ số BT 264155 ngày 13/9/2013 do UBND huyện Đ cấp cho bà Triệu Thị V tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 3 tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Ông Đặng Văn T (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền cho bố là ông Đặng Tăng H3 và vợ là chị Hoàng Thị H4) trình bày: Năm 1992, bố ông có khai phá trồng ngô, lúa, đến năm 1994 bố ông được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số vào sổ 00289 với tổng diện tích 38.948m² đất mang tên Đặng Tăng H3, từ đó gia đình ông vẫn canh tác trên diện tích đất này. Năm 2009, ông Đặng Tăng H3 cho ông diện tích đất trên và ông đã trồng keo, nay đã đến thời gian khai thác thì bà V đòi trả cho bà 3000m² đất. Đến năm 2019, gia đình ông phát hiện diện tích đất nhà ông bị cấp chồng vào diện tích đất của bà Triệu Thị V. Sau khi phát hiện đất bị cấp chồng, gia đình ông có ý kiến đến xã V, huyện Đ thì được trả lời là năm 2013 Sở TN&MT tỉnh T thuê và làm thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ nên đã không phát hiện qua việc đo bao diện tích đất của gia đình ông đang quản lý sử dụng đã cấp QSDĐ cho bà V... Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khi có bản trích đo diện tích đất bị chồng lấn ông đã làm đơn phản tố yêu cầu Toà án công nhận QSDĐ của ông đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1994 và huỷ GCNQSDĐ số BT 264155 ngày 13/9/2013 do UBND huyện Đ đã cấp cho bà Triệu Thị V ngày 13/9/2013 tại thửa đất số 164, ở bản đồ số 3 tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Bà Dương Thị C (tức Dương Thị H6) trình bày: Năm 1992, bố bà là ông Đặng Tăng H3 có khai phá trồng ngô, lúa, đến 1994 bố bà được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số vào sổ 00297 với tổng diện tích 5240m² đất mang tên Dương Thị H6, từ đó gia đình bà vẫn canh tác trên diện tích đất này, nhưng bà V đòi trả cho bà V 4000m² đất. Đến năm 2019, gia đình bà phát hiện diện tích đất nhà bà bị cấp chồng vào diện tích đất của bà Triệu Thị V. Sau khi phát hiện đất bị cấp chồng, gia đình bà có ý kiến đến xã V, huyện Đ thì được trả lời là năm 2013 Sở TN&MT tỉnh T thuê và làm thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ nên đã không phát hiện qua việc đo bao diện tích đất của gia đình bà đang quản lý sử dụng đã cấp QSDĐ cho bà V... Bà không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khi có bản trích đo diện tích đất bị chồng lấn bà đã làm đơn phản tố yêu cầu Toà án công nhận QSDĐ của bà đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1994 và huỷ GCNQSDĐ số BT 264155 ngày 13/9/2013 do UBND huyện Đ cấp cho bà Triệu Thị V tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 3 tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Ông Đặng Văn N (đồng thời là người đại diện theo ủy quyền cho vợ là chị P1) trình bày: Năm 1992, bố ông là Đặng Tăng K2 có khai phá trồng chè, keo để phát triển kinh tế, đến năm 1994 bố ông được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số vào sổ 00289 với tổng diện tích 38.462m² đất mang tên Đặng Tăng K2, từ đó gia đình ông vẫn canh tác trên diện tích đất này. Năm 2009, bố ông cho ông diện tích đất trên và ông đã trồng keo nay đã đến thời gian khai thác thì bà V đòi trả cho bà 3000m² đất. Đến năm 2019, thì gia đình ông phát hiện diện tích đất nhà ông bị cấp chồng vào diện tích đất của bà V. Sau khi phát hiện đất bị cấp chồng, gia đình ông có ý kiến đến xã V, huyện Đ thì được trả lời năm 2013 Sở TN&MT tỉnh T thuê và làm thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ nên đã không phát hiện qua việc đo bao diện tích đất của gia đình ông đang quản lý sử dụng đã cấp QSDĐ cho bà V... Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khi có bản trích đo diện tích đất bị chồng lấn ông đã làm đơn phản tố yêu cầu Toà án công nhận QSDĐ của ông đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1994 và huỷ GCNQSDĐ số BT 264155 ngày 13/9/2013 do UBND huyện Đ cấp cho bà Triệu Thị V tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 3 tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Ông Triệu Tiến T1 (ủy quyền cho con trai là ông Triệu Văn L1) trình bày: Gia đình ông bắt đầu khai phá đất trồng lúa, ngô từ năm 1987 để phát triển kinh tế. Đến năm 1994, ông được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số vào sổ 00290 với tổng diện tích 9320m² đất mang tên Triệu Tiến T1. Năm 1995, ông T1 gả chồng cho con gái là chị Triệu Thị V lấy anh Phạm Văn D1 ở xã V, huyện P, tỉnh Thái Nguyên. Được khoảng 2 năm thì chị V về nhà, ông T1 có cho chị V khoảng hơn 01ha đất để phát triển kinh tế từ đó cho đến nay. Đến năm 2019, ông T1 chuẩn bị bán rừng keo thì chị V ngăn cản không cho bán và tuyên bố: “đất này là của tao” đồng thời kiện ông T1 ra Toà án, ông thấy đau lòng vô cùng. Sau khi phát hiện đất bị cấp chồng, gia đình ông có ý kiến đến xã V, huyện Đ thì được trả lời, năm 2013 Sở TN&MT tỉnh T thuê và làm thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ nên đã không phát hiện qua việc đo bao diện tích đất của gia đình ông đang quản lý sử dụng đã cấp QSDĐ cho bà V... Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khi có bản trích đo diện tích đất bị chồng lấn, ông đã làm đơn phản tố yêu cầu Toà án công nhận QSDĐ của ông đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1994 và huỷ GCNQSDĐ số BT 264155 ngày 13/9/2013 do UBND huyện Đ cấp cho bà Triệu Thị V tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 3 tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Bà Dương Thị S trình bày: Năm 1992, gia đình bà khai phá trồng chè, keo để phát triển kinh tế, đến 1994 bà được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số vào sổ 00288 với tổng diện tích 3758m² đất mang tên chồng bà là Triệu Phúc N3 (đã chết), từ đó gia đình bà vẫn canh tác trên diện tích đất này. Năm 2019, gia đình bà phát hiện diện tích đất nhà bà bị cấp chồng vào diện tích đất của bà V. Sau khi phát hiện đất bị cấp chồng, gia đình bà có ý kiến đến xã V, huyện Đ được trả lời, năm 2013 Sở TN&MT tỉnh T thuê và làm thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ nên đã không phát hiện qua việc đo bao diện tích đất của gia đình bà đang quản lý sử dụng đã cấp QSDĐ cho bà V... Bà không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khi có bản trích đo diện tích đất bị chồng lấn, bà đã làm đơn phản tố yêu cầu Toà án công nhận QSDĐ của bà đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1994 và huỷ GCNQSDĐ số BT 264155 ngày 13/9/2013 do UBND huyện Đ cấp cho bà Triệu Thị V tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 3 tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.
  • Ông Triệu Phúc H (đồng thời là người đại diện theo uỷ quyền cho vợ là bà M2) trình bày: Từ năm 1993, gia đình ông khai phá trồng chè, keo để phát triển kinh tế, ngày 02/3/2006 gia đình ông được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số AÐ 435746 với tổng diện tích 5588m² đất mang tên Triệu Phúc H, từ đó gia đình ông vẫn canh tác trên diện tích đất này. Đến năm 2019, gia đình ông phát hiện diện tích đất nhà ông bị cấp chồng vào diện tích đất của bà V. Sau khi phát hiện đất bị cấp chồng, gia đình ông có ý kiến đến xã V, huyện Đ thì được trả lời, năm 2013 Sở TN&MT tỉnh T thuê và làm thủ tục kê khai cấp GCNQSDĐ nên đã không phát hiện qua việc đo bao diện tích đất của gia đình ông đang quản lý, sử dụng đã cấp QSDĐ cho bà V... Ông không nhất trí với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và khi có bản trích đo diện tích đất bị chồng lấn, ông đã làm đơn phản tố yêu cầu Toà án công nhận QSDĐ của ông đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1994 và huỷ GCNQSDĐ số BT 264155 ngày 13/9/2013 do UBND huyện Đ cấp cho bà Triệu Thị V tại thửa đất số 164, tờ bản đồ số 3 tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên.

Những người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trình bày:

  • Ý kiến trình bày của ông Phạm Văn D1 (chồng bà Triệu Thị V): Nhất trí như ý kiến trình bày của bà Triệu Thị V và Luật sư. Gia đình ông đã đượcUBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ số BT 264155 ngày 13/9/2013 tại thửa đất số 164, diện tích 66.357m², tờ bản đồ số 3 tại xóm D, xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên. Các hộ đã tự ý phát để trồng cây, nay ông yêu cầu các hộ phải trả lại đất gồm: Bà Dương Thị S phải trả lại 2331,9m², ông Đặng Văn N trả lại 3997m², bà Dương Thị C trả lại 5137,1m², ông Triệu Phúc H trả lại 2250,9m², ông Đặng Văn T trả lại 2420,1m², ông Triệu Tiến T1 trả lại 5655,1m² và ông Đặng Văn K trả lại 8488,7m².
  • Ngày 01/11/2021 và ngày 08/11/2021, Toà án yêu cầu Chi nhánh Văn phòng đăng ký đất đai huyện Đ cung cấp hồ sơ pháp lý liên quan đến việc cấp GCNQSDĐ của các bên đương sự và UBND huyện Đ có ý kiến về trình tự thủ tục cấp GCNQSDĐ cho nguyên đơn. Ngày 17/11/2021, Tòa án nhận được chứng cứ và ý kiến của Chi nhánh VPĐKĐĐ chỉ cung cấp được 02 bộ hồ sơ là của bà Triệu Thị V và ông Triệu Phúc H, còn lại 06 bộ hồ sơ theo yêu cầu của Tòa án thì chưa tìm thấy. Các đồng bị đơn có yêu cầu phản tố đối với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn, đề nghị Toà án công nhận QSDĐ theo GCNQSDĐ đã được cấp. Huỷ GCNQSDĐ đã cấp cho bà V năm 2013 và yêu cầu nguyên đơn bồi thường thiệt hại tài sản trên đất. Sau khi nghiên cứu đơn phản tố của các đồng bị đơn, Toà án ra thông báo thụ lý bổ sung vụ án. Toà án có Công văn số 73/CV-DS, đề nghị UBND huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên cử người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan và có ý kiến bằng văn bản theo quy định của pháp luật. Ngày 16/8/2022, UBND huyện Đ có Giấy uỷ quyền số 1376/GUQ-UBND.
  • Người đại diện theo ủy quyền của UBND huyện Đ, ông Nguyễn Thế H2 - Phó Chủ tịch UBND huyện có ý kiến, quan điểm trình bày: Với tư cách là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan, UBND huyện chỉ cung cấp được 02 bộ hồ sơ cấp GCNQSDĐ của bà Triệu Thị V và ông Triệu Phúc H, còn việc sai sót giữa bản đồ thì đề nghị Toà án xác minh tại Sở TN&MT tỉnh T.
  • Về sai sót của Bản đồ địa chính đất lâm nghiệp đo đạc năm 2006 với bản đồ địa chính xã V đo đạc năm 2013 do Liên đoàn T6 - Địa hình lập, được Sở TN&MT tỉnh T thẩm định phê duyệt. Việc xác định có hay không sai sót trong việc đo đạc giữa bản đồ địa chính đất lâm nghiệp với bản đồ địa chính trong thửa 164, tờ bản đồ số 3, đề nghị Tòa án xác minh tại các đơn vị liên quan thực hiện lập, phê duyệt bản đồ địa chính nằm 2013 xã V làm căn cứ để giải quyết theo quy định.
  • Theo hồ sơ lưu trữ tại UBND xã V thì nguồn gốc đất của các bị đơn đã được cấp GCNQSDĐ năm 1994 trên GCNQSDĐ không ghi số hiệu tờ bản đồ, số hiệu thửa đất, diện tích tại thời điểm cấp GCNQSDĐ do các hộ dân tự kê khai ước lượng diện tích, hồ sơ cấp GCNQSDĐ của 06 hộ là bị đơn không tìm thấy nên chưa có cơ sở đối chiếu diện tích các chủ sử dụng trên.
  • Tại Công văn số 990/STNMT-ĐĐBĐVT ngày 05/4/2022 của Sở TN&MT tỉnh T xác định: Bản đồ được đo đạc theo hiện trạng quản lý, sử dụng đất tại từng thời điểm đo đạc. Qua nhiều năm trên thực tế cũng đã có những biến động về ranh giới, diện tích, chủ sử dụng đất. Mặt khác, hầu hết đất lâm nghiệp không có ranh giới rõ ràng, ranh giới không ổn định, sử dụng qua nhiều năm người sử dụng đất làm thay đổi ranh giới sử dụng đất... dẫn đến việc sai khác về ranh giới, diện tích giữa những thời điểm đo đạc khác nhau.
  • Tại biên bản làm việc với UBND xã V xác định: Đối với các hộ dân là bị đơn trong vụ án được cấp GCNQSDĐ từ năm 1994 đến năm 2006 chưa được cấp đổi lại GCNQSDĐ và chưa được điều chỉnh tăng, giảm về diện tích, các hộ dân vẫn sử dụng ổn định và không có sự tranh chấp. Năm 2013, bà V được cấp GCNQSDĐ thì năm 2019 mới tranh chấp giữa bà V và các bị đơn. Năm 2006, xã V mới được đo bản đồ địa chính đất lâm nghiệp lần đầu, đến năm 2013 thì được Sở TN&MT tỉnh T thuê đơn vị tư vấn đến tại xã để kê khai hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với đất lâm nghiệp cho nhân dân, trong đó có kê khai cấp đất cho bà Triệu Thị V và bà V đã được cấp đất năm 2013. Tại thời điểm đo đạc, đơn vị tư vấn dựa trên sự dẫn đạc của trưởng xóm, người dân được thông báo còn việc họ có đi cùng để đo đất hay không thì xã không nắm được. Sau khi đo đạcxong, đơn vị đo đạc cung cấp số liệu và mời người dân đến N5 để ký nhận đất trên bản đồ và ký nhận vào sổ thống kê diện tích, loại đất, chủ sử dụng đất. Do trình độ và nhận thức của người dân hạn chế nên việc nhận diện đất rừng trên bản đồ chưa chính xác dẫn đến nhận diện sai về ranh giới, diện tích đất. Ngoài ra, theo bản đồ địa chính năm 2013 của xã thì ngoài các hộ dân đang tranh chấp trong vụ án còn một số hộ dân khác cũng có sự chồng lấn về diện tích đất.
  • Ngày 21/6/2023, Toà án với UBND xã V, xóm D phối hợp lấy ý kiến khu dân cư vào để xác định nguồn gốc, loại đất, quá trình sử dụng đất có sự chồng chéo. Tại ý kiến của những người sống lâu năm, các ông có tên trong hồ sơ xin cấp GCNQSDĐ của bà Triệu Thị V đều xác định, năm 2000 xóm D không còn đất để tự khai phá mà nguồn gốc đất cấp cho bà V là của ông Triệu Tiến T1 bố đẻ cho, UBND xã xác định Sở TN&MT tỉnh T thuê đơn vị tư vấn đến tại xã để kê khai hồ sơ cấp GCNQSDĐ đối với đất lâm nghiệp cho nhân dân, trong đó có kê khai cấp đất cho bà Triệu Thị V và bà V đã được cấp đất năm 2013, ông Đặng Tăng T3 khi đó là T4 xóm D2 không được chủ trì việc lấy ý kiến của khu dân cư, không ra thực địa để kiểm tra hiện trạng đất.
  • Ngày 07/4/2021, Toà án ra quyết định xem xét, thẩm định, đo đạc, định giá tài sản, chứng cứ về kết quả trích đo hiện trạng diện tích đất đang tranh chấp bị chồng lấn, các bị đơn không nhất trí yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và cho rằng đất của các bị đơn đã được cấp GCNQSDĐ từ năm 1994 và năm 2006, đến năm 2013 nguyên đơn mới được UBND huyện Đ cấp GCNQSDĐ thì phát sinh tranh chấp năm 2019.

Do hai bên không thỏa thuận được với nhau về việc giải quyết vụ án nên bà Triệu Thị V yêu cầu Tòa án xem xét thẩm định tại chỗ, đo đạc và định giá tài sản để làm căn cứ giải quyết vụ án.

Ngày 23/4/2021, Tòa án cấp sơ thẩm tiến hành xem xét, thẩm định tại chỗ, đo đạc diện tích đất tranh chấp, định giá. Theo kết quả đo vẽ của Công ty TNHH H7, xác định diện tích tranh chấp gồm cụ thể:

  • Đất rừng của bà Triệu Thị V có tổng diện tích 66.357,0m² theo GCNQSDĐ tại thửa 164, tờ bản đồ số 3 xã V. Vị trí: Phía bắc giáp đất của ông Đặng Văn K; Phía đông giáp đất của ông Đặng Tiến L5, giáp đất ông Đặng Tiến L6, ông Đặng Văn K; Phía nam giáp đất ông Triệu Tiến T1, Triệu Thị B1; Phía tây giáp đất đất ở của bà V và bà Dương Thị C. Tài sản trên đất của bà V đang trồng keo và một số cây khác do các hộ đang tranh chấp trồng.
  • Đất tranh chấp với bà Dương Thị S: Vị trí tiếp giáp chưa xác định được các phía cụ thể, chỉ xác định được với các hộ ông Đặng Văn N, ông Triệu Phúc H, ông Triệu Tiến T1. Tài sản trên đất: Cây trên đất do bà Dương Thị S trồng gồm chè trồng từ năm 1992 chưa xác định được diện tích, chám 04 cây, đất đang tranh chấp thuộc GCNQSDĐ mang tên ông Triệu Phúc N3 (chồng bà S).
  • Đất tranh chấp với ông Đặng Văn N: Vị trí tiếp giáp chưa xác định được các phía cụ thể, chỉ xác định được với các hộ bà Dương Thị C, ông Triệu Phúc H, bà Dương Thị S. Tài sản trên đất đều thuộc quyền quản lý của bà C: Cây trên đất do bà trồng gồm chè trồng từ năm 1992 chưa xác định được diện tích, keo chưa xác định được diện tích cụ thể mật độ trồng 1600 cây/ha, trám 01 cây, vải 03 cây, đất đang tranh chấp thuộc GCNQSDĐ mang tên ông Đặng Tăng K2 (bố đẻ N).
  • Đất tranh chấp với bà Dương Thị C: Vị trí tiếp giáp chưa xác định được các phía cụ thể, chỉ xác định được với các hộ ông Đặng Văn N, Triệu Phúc H, bà Triệu Thị V, ông Đặng Văn T. Tài sản trên đất: Cây trên đất do bà C trồng gồm chè trồng từ năm 1992 chưa xác định được diện tích, keo mật độ trồng 1600 cây/ha, mít 04 cây, sấu 02 cây, quế 50 cây, 01 ao có bờ bằng đất chưa xác định được diện tích. Đất đang tranh chấp thuộc GCNQSDĐ mang tên bà Dương Thị H6 (tên gọi khác Dương Thị C).
  • Đất tranh chấp với ông Triệu Phúc H: Vị trí tiếp giáp chưa xác định được các phía cụ thể, chỉ xác định được với các hộ bà Dương Thị C, ông Đặng Văn N, bà Dương Thị S, ông Triệu Tiến T1. Tài sản trên đất: Cây trên đất do ông H trồng gồm chè trồng từ năm 1993 chưa xác định được diện tích, trám 01 cây, xoan 01 cây, đinh 01 cây. Đất đang tranh chấp thuộc GCNQSDĐ mang tên ông Triệu Phúc H.
  • Đất tranh chấp với ông Đặng Văn T: Vị trí tiếp giáp chưa xác định được các phía cụ thể, chỉ xác định được với các hộ bà Dương Thị C, ông Đặng Văn N, bà Dương Thị S, bà Triệu Thị V, ông Triệu Tài P, ông Đặng Tăng H3. Tài sản trên đất: Cây trên đất do ông T trồng keo chưa xác định được diện tích cụ thể mật độ trồng 1600 cây/ha, măng bát độ 05 khóm. Đất đang tranh chấp thuộc GCNQSDĐ mang tên ông Đặng Tăng H3 (bố đẻ anh T).
  • Đất tranh chấp với ông Triệu Tiến T1: Vị trí tiếp giáp chưa xác định được các phía cụ thể, chỉ xác định được với các hộ bà Dương Thị C, ông Đặng Văn N, bà Dương Thị S, bà Triệu Thị V, ông Triệu Phúc H. Tài sản trên đất: Cây trên đất do ông T1 trồng keo chưa xác định được diện tích cụ thể mật độ trồng 1600 cây/ha, măng bát độ 05 khóm. Đất đang tranh chấp thuộc GCNQSDĐ mang tên ông Triệu Tiến T1.
  • Đất tranh chấp với ông Đặng Văn K: Vị trí tiếp giáp chưa xác định được các phía cụ thể, chỉ xác định được với các hộ bà Triệu Thị V, bà Triệu Thị B1, giáp đất xã T, huyện V. Tài sản trên đất: Cây trên đất do ông K trồng keo chưa xác định được diện tích cụ thể mật độ trồng 1600 cây/ha, măng bát độ 05 khóm. Đất đang tranh chấp thuộc GCNQSDĐ mang tên ông Đặng Văn K.

Căn cứ Quyết định số 46/2019/QĐ-UBND ngày 20/12/2019 của UBND tỉnh T ban hành quy định về bảng giá đất giai đoạn 2020-2024 trên địa bàn tỉnh Thái Nguyên.

Về giá trị đất: Theo các bản trích đo hiện trạng có từng khu thể hiện diện tích đất rừng sản xuất vị trí 2 tại xã V, huyện Đ, tỉnh Thái Nguyên là 10.000đồng/m2. Đất ao = 8.000đ/m2.

  • Phần đất tranh chấp với bà Dương Thị S là 2331,9m² x 10.000đồng/m² = 23.319.000đồng.
  • Phần đất tranh chấp với ông Đặng Văn N là 3997m² x 10.000đồng/m² = 39.970.000đồng.
  • Phần đất tranh chấp với bà Dương Thị C là 4.547,2m² đất trồng keo x 10.000đồng/m² + 589,9m² đất ao x 8.000đồng/m² = 50.191.200đồng.
  • Phần đất tranh chấp với ông Triệu Phúc H là 2250,9m² x 10.000đồng/m² = 22.509.000đồng.
  • Phần đất tranh chấp với ông Đặng Văn T là 2420,1m² x 10.000đồng/m² = 24.201.000đồng.
  • Phần đất tranh tranh chấp với ông Triệu Tiến T1 là 5655,1m² x 10.000đồng/m² = 56.551.000đồng.
  • Phần đất tranh tranh chấp với ông Đặng Văn K là 8488,7m² x 10.000đồng/m²= 84.887.000đồng.

Tổng giá trị đất = 301.628.200đồng.

Về tài sản trên đất:

  • Phần tranh chấp với bà S: Cây chè hạt 2331,9m² x 19.000đồng/m² = 44.306.000đồng + 04 cây Trám x 350.000đồng/cây = 1.400.000đồng. Tổng cộng = 45.706.000đồng.
  • Phần tranh chấp với ông N: Cây chè hạt 3997m² x 19.000đồng/m² = 75.943.000đồng + 01 cây Trám x 350.000đồng/cây = 350.000đồng + 03 cây vải thiều x 802.000đồng/cây = 2.436.000đồng. Tổng cộng = 78.729.000đồng.
  • Phần tranh chấp với bà C: 754 cây keo x 49.500đồng/cây = 37.323.000đồng.
  • Phần tranh chấp với ông H: Chè hạt 2250,9m² x 19.000đồng/m² = 21.383.550đồng + Xoan 01 cây x 41.000đồng = 41.000đồng + Trám 01 cây x 700.000đồng = 700.000đồng + Đinh 01 cây x 4.950.000đồng = 4.950.000đồng + Keo 08 cây x 49.000đồng/cây = 396.000đồng. Tổng cộng = 27.470.550đồng.
  • Phần tranh chấp với ông T: Keo 401 cây x 49.500đồng/cây = 19.849.500đồng + Măng bát độ 05 khóm x 687.500đồng/khóm = 3.437.500đồng. Tổng cộng = 23.287.000đồng.
  • Phần tranh chấp với ông T1: Keo 938 cây x 49.500đ/cây = 46.431.000đồng.
  • Phần tranh chấp với ông K: Keo 1.409 cây x 49.500đồng/cây = 69.745.500đồng.

Tổng giá trị tài sản = 282.261.050đồng.

Hiện nay, bà Dương Thị C đã khai thác toàn bộ số cây K3 và tiếp tục trồng mới 2.500 cây từ tháng 10/2023; ông Đặng Văn T đã khai thác khoảng 100 cây K3 và tiếp tục trồng mới khoảng 100 cây từ tháng 4/2023, ngoài ra còn khoảng 40 cây Keo phía bà V chưa cho vận chuyển; ông Triệu Tiến T1 đã khai thác toàn bộ số cây Keo và trồng mới 2.400 cây từ tháng 10/2023; ông Đặng Văn K đã khai thác toàn bộ số cây Keo và trồng mới 1.409 cây từ tháng 5/2022. Còn lại ông Đặng Văn N, ông Triệu Phúc H và bà Dương Thị S giữ nguyên hiện trạng.

Quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đều thừa nhận số cây trồng trên đất tranh chấp là của các bị đơn; tuy nhiên, phía nguyên đơn cho rằng cây trồng trên đất do nguyên đơn đã được cấp GCNQSDĐ là của nguyên đơn. Hội đồng xét xử xét thấy: Tài sản trên đất tranh chấp các bên đương sự đều thừa nhận do các bị đơn trồng gồm chè, keo, có xen lẫn một số cây khác và một số đã thu hoạch, số còn lại chưa thu hoạch nên chưa có thiệt hại về tài sản. Khi công nhận QSD phần đất tranh chấp trên thì công nhận quyền sở hữu tài sản trên đất cho các bị đơn tiếp tục quản lý, sử dụng, khai thác tài sản trên đất là phù hợp với các quy định của pháp luật.

Việc nguyên đơn bà V kháng cáo yêu cầu công nhận toàn bộ tài sản là cây cối trồng trên thửa đất số 164 là của gia đình bà V và yêu cầu các bị đơn phải trả cho gia đình bà là không có căn cứ chấp nhận.

[2.4] Tại phiên tòa phúc thẩm, bà V không xuất trình thêm tài liệu, chứng cứ mới để chứng minh cho nội dung kháng cáo nên không có cơ sở chấp nhận kháng cáo của bà V, cần giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên theo đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.

[2.5] Về án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng: Do giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm nên án phí sơ thẩm, chi phí tố tụng được giữ nguyên.

[2.6] Về án phí phúc thẩm: Do bà Triệu Thị V là người dân tộc thiểu số đang sinh sống ở vùng có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn và có đơn xin miễn án phí nên được miễn án phí theo quy định của pháp luật.

Vì các lẽ trên;


QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 của Bộ luật Tố tụng dân sự; điểm đ khoản 1 Điều 12 Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Uỷ ban Thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án, xử:

  1. Không chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Triệu Thị V. Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 07/2024/DS-ST ngày 21 tháng 6 năm 2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Thái Nguyên.
  2. Về án phí: Bà Triệu Thị V được miễn án phí dân sự phúc thẩm. Số tiền 300.000đồng tạm ứng án dân sự phí phúc thẩm theo Biên lai thu tiền số 0000198 ngày 01/7/2024 tại Cục Thi hành án dân sự tỉnh Thái Nguyên được hoàn lại cho bà Triệu Thị V.
  3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Các đương sự;
  • - VKSND cấp cao tại Hà Nội;
  • - TAND tỉnh Thái Nguyên;
  • - VKSND tỉnh Thái Nguyên;
  • - Cục THADS tỉnh Thái Nguyên;
  • - Lưu hồ sơ vụ án, P.HCTP.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA




Trần Quang Minh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 569/2024/DS-PT ngày 30/10/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất

  • Số bản án: 569/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 30/10/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Triệu Thị V-Đặng Văn K TCQSDĐ
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger