TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 569/2024/DSST Ngày: 06/8/2024 V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Đào Tiến Trung.
Các Hội thẩm nhân dân:
1/ Bà Lê Thị Tý.
2/ Bà Bùi Diệu Huệ.
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: ông Trần Hoàng Phúc – Cán bộ Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân: bà Hồ Thị Vân - Kiểm sát viên.
Trong ngày 06 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 97/2024/TLST-DS ngày 19 tháng 02 năm 2024 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định xét xử số 313/2024/QĐXXST-DS ngày 17 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 249/2024/QĐST-DS ngày 11 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Ngân hàng S; địa chỉ số: đường NKKN, phường VTS, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: bà Nguyễn Đức Thạch D – Chức vụ: Tổng Giám đốc.
Người đại diện theo ủy quyền: ông Nguyễn Thành N (Giấy ủy quyền số: 7315/2024/UQ-TGĐ ngày 19 tháng 02 năm 2024) (có đơn xin vắng mặt)
- Bị đơn: ông Cao Tấn P, sinh năm: 1993; địa chỉ số: đường M, phường BHHA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 17 tháng 11 năm 2023, bản tự khai, bảng tính lãi, lời khai trong quá trình giải quyết, đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày:
Ngày 17 tháng 5 năm 2019, ông Cao Tấn P và Ngân hàng S (sau đây gọi là Ngân hàng) đã ký kết Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S (Đơn vị phát hành thẻ) – các tài liệu này gọi chung là Hợp đồng). Hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân. Lãi suất trong hạn là 2.6%/tháng. Sau khi được cấp Thẻ tín dụng, ông Cao Tấn P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 254.278.882 đồng.
Trong quá trình sử dụng thẻ, từ ngày kích hoạt thẻ đến ngày 22/01/2021 ông Cao Tấn P đã thanh toán cho Ngân hàng S tổng số tiền 240.186.672 đồng, sau đó ông không thanh toán bất cứ khoản nào cho Ngân hàng.
Qua nhiều lần làm việc, ông Cao Tấn P vẫn không có thiện chí trả nợ. Do ông Cao Tấn P vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Điều khoản và điều kiện phát hành sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S) nên ngày 23 tháng 5 năm 2021, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 17.447.297 đồng làm dư nợ quá hạn (tạm gọi là nợ gốc), áp dụng lãi suất nợ quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại). Số tiền lãi quá hạn được tính trên số tiền nợ gốc là 17.447.297 đồng với lãi suất quá hạn là 3.9%/tháng (2.6% *150%) từ ngày Ngân hàng chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn cho đến hiện tại.
Sau khi chuyển nợ quá hạn, ngày 20 tháng 12 năm 2022, Ngân hàng đã ra Thông báo về việc khởi kiện và liên hệ để yêu cầu bị đơn là ông Cao Tấn P thanh toán tiền nợ. Đồng thời, Ngân hàng cũng tạo điều kiện về mặt thời gian để trả nợ. Tuy nhiên, bị đơn ông Cao Tấn P vẫn không trả nợ cho Ngân hàng, vi phạm điều khoản đã quy định tại Hợp đồng đã ký kết.
Nay Ngân hàng S đề nghị Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh buộc bị đơn là ông Cao Tấn P phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ (tạm tính đến ngày 06 tháng 8 năm 2024) là: 44.029.429 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 17.447.297 đồng; nợ lãi quá hạn là: 26.582.132 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 07 tháng 8 năm 2024 cho đến khi trả hết nợ vay.
Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã nhiều lần tiến hành triệu tập ông Cao Tấn P lên để làm việc nhưng ông Cao Tấn P vắng mặt không có lý do.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu về việc chấp hành đúng quy định tại Bộ luật Tố tụng dân sự của thẩm phán, Hội đồng xét xử, các đương sự và xác định: Thẩm phán và Hội đồng xét xử đã tuân thủ đúng các quy định của pháp luật trong quá trình giải quyết vụ án, các đương sự đã thực hiện các quyền, nghĩa vụ của mình trong quá trình tham gia tố tụng. Về thời hạn giải quyết vụ án đảm bảo đúng theo quy định của pháp luật.
Về nội dung vụ án: Qua các chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và lời khai của đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn có đầy đủ cơ sở để xác định ông Cao Tấn P có ký Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng với Ngân hàng S với hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng. Trong quá trình sử dụng số tiền vay thì ông Cao Tấn P đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán đối với ngân hàng do đó bên Ngân hàng đã chuyển toàn bộ khoản nợ 17.447.297 đồng thành nợ quá hạn vào ngày 23/5/2021 là đúng theo Hợp đồng mà xác bên đã ký kết.
Nay Ngân hàng S yêu cầu bị đơn là ông Cao Tấn P phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ (tạm tính đến ngày 06 tháng 8 năm 2024) là: 44.029.429 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 17.447.297 đồng; nợ lãi quá hạn là: 26.582.132 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 07 tháng 8 năm 2024 cho đến khi trả hết nợ vay là có cơ sở chấp nhận.
Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 91, 95 Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
1. Về thủ tục tố tụng:
Về quyền khởi kiện, quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Tranh chấp giữa Ngân hàng S và ông Cao Tấn P là “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”, ông Cao Tấn P khi ký kết hợp đồng có địa chỉ tại số: đường M, phường BHHA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh. Theo kết quả xác minh của Tòa án nhân dân quận Bình Tân ngày 21 tháng 02 năm 2024 thì Công an phường Bình Hưng Hòa A, quận Bình Tân trả lời: ông Cao Tấn P, sinh năm: 1993 hiện đăng ký thường trú và đang thực tế cư trú tại số đường M, phường BHHA, quận BT, Thành phố Hồ Chí Minh nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh theo quy định tại khoản 3 Điều 26; điểm a khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh đã triệu tập ông Cao Tấn P đến Tòa án để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, tham gia phiên tòa theo quy định của pháp luật nhưng ông Cao Tấn P không có mặt theo giấy triệu tập của Tòa án nên Tòa án nhân dân quận Bình Tân tiến hành xét xử vắng mặt ông Cao Tấn P theo quy định tại Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
Đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Nguyễn Thành N có đơn xin xét xử vắng mặt, căn cứ khoản 1 Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án nhân dân quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh vẫn tiến hành xét xử vụ án theo quy định của pháp luật.
2. Xét yêu cầu của đương sự:
[2.1] Về hình thức và nội dung của hợp đồng: Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17 tháng 5 năm 2019) giữa Ngân hàng S và ông Cao Tấn P được lập thành văn bản, khi giao kết hợp đồng các bên đầy đủ năng lực hình vi dân sự và tự nguyện giao kết. Hợp đồng giữa các bên phù hợp với quy định tại Điều 23 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30/12/2016 của Ngân hàng Nhà nước Việt Nam, do đó hợp đồng phát sinh quyền và nghĩa vụ của hai bên.
[2.2] Xét yêu cầu của Ngân hàng S buộc bị đơn là ông Cao Tấn P phải thanh toán toàn bộ số tiền nợ (tạm tính đến ngày 06 tháng 8 năm 2024) là: 44.029.429 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 17.447.297 đồng; nợ lãi quá hạn là: 26.582.132 đồng và tiếp tục tính lãi phát sinh từ ngày 07 tháng 8 năm 2024 cho đến khi trả hết nợ vay theo lãi suất quy định tại Giấy đề nghị cấp thẻ kiêm hợp đồng ngày 17 tháng 5 năm 2019 và Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S. Hội đồng xét xử xét thấy:
Về số tiền nợ gốc: căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17 tháng 5 năm 2019; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S), Ngân hàng S đã phát hành thẻ tín dụng cho ông Cao Tấn P với hạn mức tín dụng là 15.000.000 đồng, với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất trong hạn là 2.6%/tháng. Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông Cao Tấn P đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền là 254.278.882 đồng, tính đến ngày 22/01/2021 ông Cao Tấn P còn nợ Ngân hàng số tiền là 14.986.326 đồng. Do bị đơn không thanh toán bất cứ khoản nào cho bên nguyên đơn nên đến ngày 23 tháng 5 năm 2021, Ngân hàng S đã chấm dứt quyền sử sụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn theo thỏa thuận tại Điều 23 của Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng với toàn bộ dư nợ gốc tại thời điểm này là 17.447.297 đồng thành dư nợ quá hạn. Căn cứ Điều 463, 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015, Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 yêu cầu của nguyên đơn buộc ông Cao Tấn P trả số tiền gốc là 17.447.297 (Mười bảy triệu bốn trăm bốn mươi bảy nghìn hai trăm chín mươi bảy) đồng là có cơ sở chấp nhận.
Về số tiền lãi: do bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán tính từ ngày 22/02/2021 nên đến ngày 23/5/2021 bên phía Ngân hàng S đã chuyển toàn bộ khoản nợ thành nợ quá hạn và bên bị đơn có nghĩa vụ phải trả lãi với mức lãi suất là 3.9%/tháng là đúng với hợp đồng (Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17 tháng 5 năm 2019; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S) mà các bên đã ký kết. Do đó nay nguyên đơn yêu cầu bị đơn phải trả số tiền lãi tính đến ngày 06/8/2024 là 26.582.132 (Hai mươi sáu triệu năm trăm tám mươi hai nghìn một trăm ba mươi hai) đồng là có văn cứ, vì vậy yêu cầu của nguyên đơn được Hội đồng xét xử chấp nhận.
Đối với yêu cầu buộc bị đơn ông Cao Tấn P phải tiếp tục trả nợ lãi phát sinh kể từ sau ngày Tòa án xét xử sơ thẩm cho đến khi trả hết số tiền nợ Ngân hàng là phù hợp theo quy định tại khoản 2 Điều 95 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010 sửa đổi, bổ sung năm 2017 nên có căn cứ chấp nhận.
[3] Về án phí:
Do ông Cao Tấn P phải trả khoản tiền là 44.029.429 đồng cho Ngân hàng S nên ông Cao Tấn P phải chịu án phí có giá ngạch là 2.201.471 (Hai triệu hai trăm lẻ một nghìn bốn trăm bảy mươi mốt) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí là 875.060 (Tám trăm bảy mươi lăm nghìn không trăm sáu mươi) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0011788, ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 217, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ các Điều 357, Điều 463, Điều 466 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng S:
Buộc ông Cao Tấn P phải trả toàn bộ khoản tiền là 44.029.429 (Bốn mươi bốn triệu không trăm hai mươi chín nghìn bốn trăm hai mươi chín) đồng cho Ngân hàng S ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật theo Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 17 tháng 5 năm 2019; Điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng S).
Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm ngày 06 tháng 8 năm 2024, ông Cao Tấn P vẫn phải tiếp tục trả lãi đến khi thanh toán hết nợ cho Ngân hàng S.
2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
Do ông Cao Tấn P phải trả khoản tiền là 44.029.429 đồng cho Ngân hàng S nên ông Cao Tấn P phải chịu án phí có giá ngạch là 2.201.471 (Hai triệu hai trăm lẻ một nghìn bốn trăm bảy mươi mốt) đồng.
Hoàn lại cho Ngân hàng S số tiền tạm ứng án phí là 875.060 (Tám trăm bảy mươi lăm nghìn không trăm sáu mươi) đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số: 0011788, ngày 01 tháng 02 năm 2024 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Tân, Thành phố Hồ Chí Minh.
Số tiền trên được thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
3. Đương sự được quyền kháng cáo bản án này trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ. Viện kiểm sát cùng cấp được quyền kháng nghị trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6,7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 của Luật Thi hành án dân sự.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Đào Tiến Trung |
Bản án số 569/2024/DSST ngày 06/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 569/2024/DSST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 06/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN BÌNH TÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
