Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 569/2024/DS–ST

Ngày: 02-8-2024

V/v Tranh chấp hợp đồng tín dụng

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Lê Minh Loan

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Trần Thị Mai Lan
  2. Ông Nguyễn Văn Soan

- Thư ký phiên tòa: Ông Bùi Thành Luân - Thư ký Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: Bà Đinh Hương Liên - Kiểm sát viên.

Ngày 02 tháng 8 năm 2024 tại Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 183/2024/TLST-DS ngày 20 tháng 3 năm 2024, về: “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 258/2024/QĐXXST-DS ngày 12 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số: 241/2024/QÐST-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024, giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S; Địa chỉ trụ sở: Số B - B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Trần Đức T, sinh năm 1984. Địa chỉ: Số B đường N, Phường V, Quận C, Thành phố Hồ Chí Minh. (có mặt)

  3. Bị đơn: Ông Võ Tuấn K, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số B đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. (vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và các lời khai trong quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, ông Trần Đức T trình bày:

Ngày 15/7/2019, ông Võ Tuấn K có ký với Ngân hàng TMCP S (sau đây được viết tắt là Ngân hàng) Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng (bao gồm Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng – các tài liệu này được gọi chung là Hợp đồng). Căn cứ vào thu nhập của ông K, Ngân hàng đã đồng ý cấp thẻ tín dụng với hạn mức thẻ là 20.000.000 đồng với mục đích tiêu dùng cá nhân, lãi suất 2,6%/tháng.

Từ lúc cấp thẻ tín dụng, ông Võ Tuấn K đã sử dụng tổng số tiền là: 37.439.800 đồng. Kể từ ngày kích hoạt thẻ đến nay, ông K đã thanh toán cho Ngân hàng được số tiền là: 29.525.000 đồng. Thứ tự thanh toán căn cứ theo Điều 20 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng. Qua nhiều lần nhắc nhở, ông K không có thiện chí trả nợ. Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán (Điều 2 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng), ngày 23/11/2021 Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn (Điều 23 của Bản Điều khoản và Điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng). Ngân hàng đã chuyển toàn bộ dư nợ tại thời điểm này là 23.422.580 làm nợ gốc, áp dụng lãi suất quá hạn (là 150% của lãi suất được công bố và áp dụng tại thời điểm hiện tại).

Do ông K vi phạm nghĩa vụ thanh toán nên Ngân hàng TMCP S khởi kiện yêu cầu ông Võ Tuấn K phải thanh toán khoản nợ trên tính đến ngày 02/8/2024 là: 52.623.171 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 23.422.580 đồng, lãi quá hạn là: 29.200.591 đồng. Ngoài ra, Ngân hàng yêu cầu ông K phải có trách nhiệm thanh toán khoản tiền lãi phát sinh từ ngày 03/8/2024 cho đến khi trả dứt nợ vay theo lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng.

Tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn – ông Trần Đức T giữ nguyên yêu cầu khởi kiện: Ngân hàng TMCP S yêu cầu ông Võ Tuấn K phải thanh toán tổng số tiền tạm tính đến ngày 02/8/2024 số tiền là: 52.623.171 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 23.422.580 đồng, lãi quá hạn là: 29.200.591 đồng. Yêu cầu trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, kể từ ngày 03/8/2024 yêu cầu ông Võ Tuấn K phải có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh cho đến ngày ông Võ Tuấn K thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng.

Bị đơn ông Võ Tuấn K mặc dù đã được Tòa án tống đạt hợp lệ Quyết định đưa vụ án ra xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa và Giấy triệu tập để tham gia phiên tòa nhưng ông Võ Tuấn K vẫn vắng mặt không có lý do.

Kiểm sát viên phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa trong quá trình giải quyết vụ án, kể từ khi thụ lý vụ án cho đến trước thời điểm Hội đồng xét xử nghị án:

Quá trình giải quyết vụ án, Thẩm phán đã chấp hành đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về xác định thẩm quyền giải quyết vụ án, xác định tư cách pháp lý của những người tham gia tố tụng; thực hiện việc gửi các văn bản tố tụng, hồ sơ cho Viện kiểm sát nghiên cứu đúng quy định.

Việc tuân theo pháp luật của Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã thực hiện đúng theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự về phiên tòa sơ thẩm.

Việc chấp hành pháp luật của người tham gia tố tụng: Từ khi thụ lý vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn đã thực hiện đúng các quy định tại Điều 70, Điều 71; bị đơn chưa thực hiện đúng quy định tại Điều 70, Điều 72 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do đương sự xuất trình và do Tòa án thu thập được: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S, án phí sơ thẩm thực hiện theo quy định của pháp luật.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về quan hệ pháp luật tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Nguyên đơn Ngân hàng TMCP S khởi kiện ông Võ Tuấn K, sinh năm 1986; Địa chỉ: Số B đường P, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh về việc yêu cầu ông Võ Tuấn K phải trả tiền nợ gốc và nợ lãi phát sinh còn thiếu cho Ngân hàng. Đây là vụ án dân sự về “Tranh chấp hợp đồng tín dụng” theo quy định tại khoản 3 Điều 26 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015. Bị đơn có địa chỉ tại quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, nên căn cứ điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 xác định vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

[2]. Về thủ tục tố tụng:

Bị đơn ông Võ Tuấn K đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai nhưng ông K vẫn vắng mặt tại phiên tòa không có lý do. Căn cứ vào điểm b khoản 2 Điều 227, Điều 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt bị đơn.

[3]. Về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn:

Do ông Võ Tuấn K không có mặt theo Giấy triệu tập của Tòa án nên Hội đồng xét xử không ghi nhận được ý kiến của ông Võ Tuấn K, vì vậy Hội đồng xét xử căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ do Ngân hàng cung cấp để làm cơ sở giải quyết vụ án.

Căn cứ Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng, ngày 15/7/2019 Ngân hàng đã cấp thẻ tín dụng với hạn mức sử dụng là 20.000.000 (Hai mươi triệu) đồng, với lãi suất là 2,6%/tháng.

Căn cứ vào Bảng Tóm tắt sao kê quá trình sử dụng thẻ tín dụng của ông Võ Tuấn K do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Từ lúc cấp thẻ tín dụng, ông Võ Tuấn K đã thực hiện các giao dịch thanh toán bằng thẻ với tổng số tiền là: 37.439.800 đồng. Kể từ ngày sử dụng thẻ đến nay, ông K đã thanh toán được tổng số tiền là: 29.525.000 (Hai mươi chín triệu năm trăm hai mươi lăm ngàn) đồng. Ngân hàng đã chuyển số tiền nợ thẻ tín dụng sang nợ quá hạn, số tiền tạm tính đến ngày 02/8/2024 là: 52.623.171 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 23.422.580 đồng, lãi quá hạn là: 29.200.591 đồng.

Tại phiên tòa, nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu ông Võ Tuấn K phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền chưa thanh toán tính đến ngày 02/8/2024 là: 52.623.171 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 23.422.580 đồng, lãi quá hạn là: 29.200.591 đồng. Kể từ ngày 03/8/2024, yêu cầu ông Võ Tuấn K phải có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh cho đến ngày ông K thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo mức lãi suất quy định trong Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng. Yêu cầu trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật.

Xét việc ông Võ Tuấn K không thanh toán tiền cho Ngân hàng là đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận giữa các bên và làm ảnh hưởng đến quyền, lợi ích hợp pháp của Ngân hàng. Do đó, Ngân hàng khởi kiện yêu cầu ông Võ Tuấn K phải trả số tiền trên là có căn cứ. Mặt khác, xét về trách nhiệm trả nợ, Hội đồng xét xử xét thấy đây là khoản vay dưới hình thức tín dụng cá nhân và nguyên đơn chỉ yêu cầu ông Võ Tuấn K có trách nhiệm trả nợ nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn, buộc ông Võ Tuấn K phải có trách nhiệm trả cho Ngân hàng số tiền chưa thanh toán của thẻ tín dụng tính đến ngày 02/8/2024 là: 52.623.171 đồng. Trong đó, nợ gốc là: 23.422.580 đồng, lãi quá hạn là: 29.200.591 đồng, trả một lần ngay khi bản án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, yêu cầu ông Võ Tuấn K phải có trách nhiệm tiếp tục trả tiền lãi quá hạn phát sinh từ ngày 03/8/2024 đến ngày ông K thanh toán dứt nợ cho Ngân hàng theo mức với lãi suất quy định tại Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng. Hội đồng xét xử xét thấy yêu cầu của nguyên đơn là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.

Từ những phân tích nêu trên, xét yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp là có cơ sở để Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng TMCP S.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm:

Do yêu cầu của Ngân hàng TMCP S được chấp nhận nên ông Võ Tuấn K phải chịu tiền án phí là 2.631.159 đồng.

Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 1.173.230 (Một triệu một trăm bảy mươi ba ngàn hai trăm ba mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0012799 ngày 18/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  • - Căn cứ khoản 1 Điều 5, khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 3 Điều 228, Điều 271, Điều 273, Điều 280 Bộ luật Tố tụng dân sự;
  • - Căn cứ vào Điều 357, Điều 466 của Bộ luật Dân sự;
  • - Căn cứ vào Điều 91, Điều 95 và Điều 98 của Luật Các tổ chức tín dụng năm 2010;
  • - Căn cứ vào Luật phí và lệ phí;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng thẩm phán Tòa án nhân dân Tối cao hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
  • - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí Tòa án;
  • - Căn cứ Luật Thi hành án dân sự (sửa đổi bổ sung năm 2014).

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S:

    Ông Võ Tuấn K có trách nhiệm trả Ngân hàng TMCP S số tiền tính đến ngày 02/8/2024 là: 52.623.171 (Năm mươi hai triệu sáu trăm hai mươi ba ngàn một trăm bảy mươi mốt) đồng. Trong đó, nợ gốc là: 23.422.580 (Hai mươi ba triệu bốn trăm hai mươi hai ngàn năm trăm tám mươi) đồng, lãi quá hạn là: 29.200.591 (Hai mươi chín triệu hai trăm ngàn năm trăm chín mươi mốt) đồng. Trả một lần ngay khi sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.

    Kể từ ngày 03/8/2024 cho đến ngày thanh toán hết nợ cho Ngân hàng TMCP S, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong Hợp đồng sử dụng Thẻ tín dụng ngày 15/7/2019.

  2. Về án phí dân sự sơ thẩm:
    • - Ông Võ Tuấn K phải chịu tiền án phí là: 2.631.159 (Hai triệu sáu trăm ba mươi mốt ngàn một trăm năm mươi chín) đồng.
    • - Hoàn lại cho Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm đã nộp là: 1.173.230 (Một triệu một trăm bảy mươi ba ngàn hai trăm ba mươi) đồng theo Biên lai thu tạm ứng án phí số 0012799 ngày 18/3/2024 của Chi cục thi hành án dân sự quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh.
    • Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
  3. Về quyền kháng cáo: Ngân hàng TMCP S được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Ông Võ Tuấn K được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được tống đạt, niêm yết hợp lệ.
  4. Về nghĩa vụ thi hành án: Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014 thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự sửa đổi, bổ sung năm 2014.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân Tp.HCM;
  • - VKSND quận Gò Vấp;
  • - Chi cục THADS quận Gò Vấp;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Lê Minh Loan

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 569/2024/DS–ST ngày 02/08/2024 của Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh về tranh chấp hợp đồng tín dụng

  • Số bản án: 569/2024/DS–ST
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 02/08/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: Tòa án nhân dân Quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger