|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
||
|
|||
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
- Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: ông Hoàng Thế Viễn
Các Hội thẩm nhân dân: ông Nguyễn Văn Soan
bà Nguyễn Thị Huệ
- Thư ký phiên tòa: ông Phan Gia Hưng – Thư ký tòa án, Toà án nhân dân
quận Gò Vấp, Thành phố Hồ Chí Minh
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Gò Vấp tham gia phiên tòa: bà
Nguyễn Thị Thanh Thùy – Kiểm sát viên.
Ngày 15 tháng 5 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Gò Vấp, xét xử sơ thẩm công khai, vụ án dân sự thụ lý số: 20/2024/TLST HNGĐ ngày 03 tháng 01 năm 2024 về tranh chấp “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 154/2024/QÐST-HNGĐ ngày 23 tháng 4 năm 2024.
Nguyên đơn: bà Trương Thị X, sinh năm 1975; nơi cư trú: 220/48/25 Đường số A, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 2 Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
Bị đơn: ông Nguyễn Hữu H, sinh năm 1976; nơi cư trú: 220/48/25 Đường số A, Phường I, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh; hộ khẩu thường trú: 2 Đường số I, Phường A, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh, (có mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Trong đơn khởi kiện ngày 03 tháng 01 năm 2024, bản tự khai, qua các lần làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa, nguyên đơn là bà Trương Thị X trình bày: bà X và ông Nguyễn Hữu H có đăng ký kết hôn tại Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 190; quyển số: 01/2002 ngày 03 tháng 10 năm 2002. Trong quá trình chung sống, vợ chồng có mâu thuẫn do bất đồng quan điểm sống, không quan tâm đến nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Bà X nhận thấy không thể khắc phục được mâu thuẫn, tình cảm vợ chồng không còn, cuộc sống hôn nhân không có hạnh phúc nên bà X yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn với ông H để ổn định cuộc sống. Về con chung: bà X và ông H có 02 con chung tên là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2000 (đã trưởng thành) và Nguyễn Kim N, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2007, nếu bà X ly hôn với ông H thì con chung chưa trưởng thành ở với cha hay mẹ là do nguyện vọng của con, nếu cháu Nguyễn Kim N ở với mẹ thì bà X yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đ (năm triệu đồng) mỗi tháng, cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Nếu cháu N ở với ông H thì bà X cấp dưỡng nuôi con 3.000.000 đ (ba triệu đồng) mỗi tháng, cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: bà X không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Ông Nguyễn Hữu H trình bày: về quan hệ kết hôn, con chung đúng như bà X trình bày, nhưng về mâu thuẫn của vợ chồng thì ông H không đồng ý với ý kiến của bà X, trong quá trình chuẩn bị xét xử ông H không đồng ý giải quyết ly hôn và ông H có hứa sẽ khắc phục những mâu thuẫn của vợ chồng để tiếp tục chung sống cùng nuôi dạy con chung. Nhưng tại phiên tòa này, ông H cho rằng bà X không chung thủy, tình cảm vợ chồng không còn nên ông H đồng ý ly hôn với bà X. Về con chung: ông H thống nhất với bà X là có 02 con chung tên là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2000 (đã trưởng thành) và Nguyễn Kim N, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2007, nếu ly hôn thì con chung chưa trưởng thành ở với cha hay mẹ là do nguyện vọng của con, nếu cháu Nguyễn Kim N ở với bà X thì ông H đồng ý cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đ (năm triệu đồng) mỗi tháng, cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Nếu nếu cháu N ở với ông H thì ông H yêu cầu bà X cấp dưỡng nuôi con 6.000.000 đ (sáu triệu đồng) mỗi tháng, cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: ông H không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Đại diện Viện kiểm sát phát biểu ý kiến: Quá trình giải quyết vụ án và tại phiên tòa, Tòa án đã thực hiện đúng, đầy đủ trình tự, thủ tục tố tụng theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
Đương sự chấp hành đúng, đầy đủ quyền và nghĩa vụ tố tụng theo quy định của pháp luật.
Do mâu thuẫn vợ chồng giữa bà X và ông H đã trầm trọng, không còn khả năng hàn gắn tình cảm vợ chồng, ông H cũng đã đồng ý ly hôn tại phiên tòa, nên Đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn để giải quyết cho bà X ly hôn với ông H. Về con chung: xét nguyện vọng của cháu N, đề nghị Hội đồng xét xử giao con chung cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng sau khi ly hôn, ông H cấp dưỡng nuôi con chung chưa trưởng thành số tiền là 5.000.000 đ (năm triệu đồng) mỗi tháng, cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi. Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Đương sự phải chịu án phí theo quy định của pháp luật.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả làm việc tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số: 190; quyển số: 01/2002 ngày 03 tháng 10 năm 2002 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trương Thị X và ông Nguyễn Hữu H đã xác định quan hệ hôn nhân giữa bà X và ông H là quan hệ hôn nhân hợp pháp được điều chỉnh bởi Luật hôn nhân và gia đình.
Yêu cầu xin ly hôn của bà X đối với ông H là quan hệ tranh chấp về hôn nhân gia đình thuộc thẩm quyền giải quyết sơ thẩm của Tòa án nhân dân quận Gò Vấp theo quy định tại khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
Đối với yêu cầu ly hôn của bà X thì Hội đồng xét xử nhận thấy:
Bà X yêu cầu ly hôn và xin được trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa trưởng thành là cháu Nguyễn Kim N, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2007, ông H cũng đồng ý ly hôn, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà X. Xét nguyện vọng của cháu N xin được ở với bà X nếu Tòa án giải quyết cho bà X và ông H ly hôn, nên Hội đồng xét xử giao con chung là cháu Nguyễn Kim N, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2007 cho bà X trực tiếp nuôi dưỡng. Bà X yêu cầu ông H cấp dưỡng nuôi con 5.000.000 đ (năm triệu đồng) mỗi tháng, cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi, xét yêu cầu này của bà X là phù hợp với thời giá hiện nay tại địa phương, tại phiên tòa ông H cũng đồng ý với mức cấp dưỡng này, nên Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà X, buộc ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung là cháu Nguyễn Kim N mỗi tháng 5.000.000 đ (năm triệu đồng) cho đến khi cháu N đủ 18 tuổi.
Về tài sản chung, nợ chung: do các đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này, nên Hội đồng xét xử không xem xét.
Về án phí: Căn cứ Điều 147 Bộ luật tố tụng dân sự và Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016;
Bà X phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng), trừ vào số tiền 300.000 đồng bà X đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0013295 ngày 03/01/2024, bà X đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Ông H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng).
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 147, Điều 150, Điều 266, Điều 271, Điều 273 của Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ vào Điều 56, Điều 57, Điều 81, Điều 82, Điều 83, Điều 84 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;
- - Căn cứ vào Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016.
Tuyên xử:
1. Chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn:
Bà Trương Thị X được ly hôn với ông Nguyễn Huy H1.
Quan hệ hôn nhân theo Giấy chứng nhận kết hôn số: 190; quyển số: 01/2002 ngày 03 tháng 10 năm 2002 do Ủy ban nhân dân Phường A, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trương Thị X và ông Nguyễn Hữu H chấm dứt kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật.
- Về con chung: bà X và ông H có hai con chung tên là Nguyễn Hữu Đ, sinh ngày 16 tháng 10 năm 2000 (đã trưởng thành) và Nguyễn Kim N, sinh ngày 04 tháng 12 năm 2007. Giao cho bà Trương Thị X trực tiếp nuôi dưỡng con chung chưa trưởng thành là Nguyễn Kim N từ ngày ly hôn cho đến khi con trưởng thành. Ông H phải cấp dưỡng nuôi con chung số tiền 5.000.000 đ (năm triệu đồng) mỗi tháng, cấp dưỡng từ ngày ly hôn cho đến khi con đủ 18 tuổi.
Kể từ khi có đơn yêu cầu thi hành án, bên có nghĩa vụ chậm giao tiền cấp dưỡng thì bên đó phải trả lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả. Lãi suất phát sinh do chậm trả tiền được xác định theo quy định tại Điều 357 của Bộ luật dân sự.
Ông H được quyền thăm nom, chăm sóc và giáo dục con chung, không ai được cản trở quyền này của ông H. Nếu ông H lạm dụng việc thăm nom con để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì bà X có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm con của ông H.
Vì quyền lợi mọi mặt của con chung, khi cần thiết có thể thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc mức cấp dưỡng nuôi con.
- Về tài sản chung, nợ chung: đương sự không yêu cầu Tòa án giải quyết trong vụ án này.
Về án phí: Bà Trương Thị X phải chịu án phí hôn nhân sơ thẩm là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng), trừ vào số tiền 300.000 đồng bà X đã nộp theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2023/0013295 ngày 03/01/2024, bà X đã nộp đủ án phí hôn nhân sơ thẩm.
Ông Nguyễn Hữu H phải chịu án phí cấp dưỡng nuôi con là 300.000 đ (ba trăm ngàn đồng).
2. Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo các quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.
3. Thi hành tại Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền.
4. Đương sự có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Đương sự vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc từ ngày bản án được niêm yết.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Hoàng Thế Viễn |
5
Bản án số 569/2024/HNGĐ-ST ngày 15/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp ly hôn
- Số bản án: 569/2024/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 15/05/2024
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN GÒ VẤP – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bà X khởi kiện ông H, yêu cầu Tòa án giải quyết ly hôn.
