Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 569/2024/HC-PT

Ngày: 25 - 6 - 2024

V/v khiếu kiện yêu cầu hủy các Quyết

định hành chính về đất đai, Quyết định

giải quyết khiếu nại

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Hoàng Minh Thịnh

Các Thẩm phán: Bà Bùi Thị Thu

Ông Nguyễn Văn Hùng

- Thư ký phiên tòa: Ông Đinh Thế Mạnh - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Hà Văn Hiến - Kiểm sát viên.

Ngày 25 tháng 6 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số: 89/2024/TLPT-HC ngày 21 tháng 02 năm 2024 về “Khiếu kiện yêu cầu hủy các Quyết định hành chính về đất đai và Quyết định giải quyết khiếu nại”

Do Bản án hành chính sơ thẩm số: 103/2023/HC-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai bị kháng cáo.

- Người khởi kiện: Phạm Thị H, sinh năm 1960

Cư trú tại: 5 T, Phường G, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.

Tạm trú tại: Số B T, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Ngô Quang T, sinh năm 1953; Cư trú tại: Số B T, Phường H, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh (theo văn bản ủy quyền lập ngày 29/12/2022), có mặt

- Người bị kiện:

  1. Chủ tịch Ủy ban nhân dân tỉnh Đ.

    Người đại diện theo ủy quyền: Bà Nguyễn Thị H1, chức vụ: Phó Chủ tịch (theo văn bản ủy quyền số 5654/UBND-THNC ngày 07/6/2022). Xin xét xử vắng mặt

  2. Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
  3. Ủy ban nhân dân thành phố B, tỉnh Đồng Nai; Địa chỉ: số D T, phường C, thành phố Đ, tỉnh Lâm Đồng

    Người đại diện theo ủy quyền của Chủ tịch UBND thành phố B và UBND thành phố B: Ông Nguyễn Duy T1, chức vụ: Phó Chủ tịch (theo văn bản ủy quyền số 7890/UBND-TCD ngày 02-6-2023)

    Cùng địa chỉ: Tầng B, Trung tâm hành chính thành phố B, số B đường V, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, vắng mặt

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

Công ty Cổ phần S.

Người đại diện theo pháp luật: Bà Nguyễn Thị H2, sinh năm 1976, chức vụ: Tổng Giám đốc Công ty

Người đại diện theo ủy quyền: Ông Đỗ Minh C và Ông Đỗ Tiến H3, chuyên viên Phòng đất đai Công ty S, có mặt

Địa chỉ: Tầng A, Đường số A, Khu Công nghiệp B, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Người kháng cáo: Người khởi kiện là bà Phạm Thị Hà

NỘI DUNG VỤ ÁN

* Theo đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình làm việc tại Tòa án và tại phiên tòa, người khởi kiện bà Phạm Thị H và đại diện theo ủy quyền của bà Phạm Thị H trình bày:

Về nội dung khởi kiện: Khu đất thuộc thửa 279 tờ bản đồ số 03 diện tích 5.908m² tọa lạc xã T (nay là phường T), huyện L (nay là thành phố B), tỉnh Đồng Nai, cơ quan có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất ngày 10/5/1999 cho bà Phạm Thị H. Năm 2008 Nhà nước có chủ trương thu hồi đất để làm khu công nghiệp G. Đến tháng 11/2017 bà H mới nhận được qua bưu điện các Quyết định thu hồi đất, bồi thường của Ủy ban nhân dân thành phố B bản photocopy với nhiều sai sót, không hợp lý vi phạm trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật, tháng 5/2018 bà H đã khiếu nại, đến năm 2020 Ủy ban nhân dân tỉnh N sai sót và chỉ đạo Ủy ban thành phố B hủy các Quyết định cũ ban hành các Quyết định thu hồi và bồi thường theo quy định pháp luật. Tuy nhiên, đến ngày 30/12/2020 mới gửi các Quyết định thu hồi đất và bồi thường cho bà H nhưng giá bồi thường không hợp lý, gây thiệt hại nghiêm trọng. Cụ thể:

  1. Quyết định số 604/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đ có nội dung mang tính áp đặt, không khách quan, không đúng bản chất vụ việc, vi phạm trình tự, thủ tục của Luật đất đai, Luật Khiếu nại, làm thiệt hại nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của bà H. Nguyên do: Chủ tịch UBND tỉnh Đ không xác định rõ các nội dung khiếu nại của bà H đối với Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B, cụ thể là:
    • Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G do Công ty cổ phần S làm chủ đầu tư, là dự án mang tính chất kinh doanh, không phải vì lợi ích công cộng của quốc gia nhưng chủ đầu tư đã không gặp gỡ, trao đổi, thỏa thuận với người bị thu hồi đất để nhận chuyển nhượng, thuê quyền sử dụng đất, nhận góp vốn bằng quyền sử dụng đất, thực hiện dự án công trình sản xuất kinh doanh, là không đúng với Điều 73 Luật đất đai.
    • Trình tự thủ tục lúc đầu do sai lầm của UBND thành phố B là không đúng tên người có quyền sử dụng đất, nên bà H (đứng tên chủ quyền sử dụng đất) đã không được thông báo cùng thông tin liên quan về vấn đề thu hồi đất, cho đến ngày 24/11/2017, bà H mới nhận được Quyết định của UBND thành phố B về diện tích đất của bà H một cách áp đặt và không đúng quy định pháp luật.
    • Từ năm 2017 đến năm 2020, bà H đã khiếu nại nhiều lần thì UBND thành phố B mới chịu nhận sai nhưng quá trình thực hiện sửa sai, vẫn cố tình áp đặt, bao che, dây dưa kéo dài, nhất là việc xác định vị trí đất của bà H. Tính đến năm 2020, diện tích đất của bà H cách đường M, phường T là 200 mét, cách đường số A Khu công nghiệp L mét. Tuy nhiên, Quyết định vẫn bác bỏ sự thật để dựa vào con đường có từ trước năm 1975 là đường T - A. Rõ ràng, việc này ảnh hưởng rất lớn đến quyền lợi của bản thân bà H.
    • Tại Quyết định số 2861/QĐ-UBND của UBND thành phố B ngày 30/12/2020, lại áp giá bồi thường là 646.000 đồng/m², là không phù hợp với thực tế. Vì như bà H được biết năm 2019, thành phố B và tỉnh Đồng Nai đã bồi thường trong dự án Hương lộ B, phường T (là phường có đất của bà H), với giá 1.941.000 đồng/m². Qua các nội dung trên cho thấy, Quyết định số 604/QĐ-UBND của UBND tỉnh Đ cần phải hủy bỏ, vì nội dung đều không dựa trên căn cứ pháp luật và thực tế, làm ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền lợi người bị thu hồi đất, dẫn đến khiếu kiện kéo dài.
    • Không những thế, Quyết định ký ngày 10/3/2022 nhưng mãi 24/11/2022 mới gửi tới tay người dân. Điều đó càng rõ ràng việc tỉnh Đồng Nai cố tình vi phạm pháp luật gây kéo dài thời gian giải quyết, đồng thời, ảnh hưởng tới thời gian, sức khoẻ, tinh thần và kinh tế của bản thân bà H.
  2. Quyết định số 2878/QĐ-UBND ký ngày 03/6/2021 của UBND thành phố B cùng với những lý do nêu trên, nên không tuân theo luật pháp và ảnh hưởng đến quyền lợi của bà H cũng nên được huỷ bỏ.
  3. Quyết định thu hồi đất để thực hiện dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật khu công nghiệp G số 2860/QĐ-UBND và Quyết định bồi thường, hỗ trợ để thực hiện dự án khu công nghiệp G số 2861/QĐ-UBND ký ngày 30/12/2020. Tuy Quyết định được ban hành căn cứ vào Luật đất đai năm 2013, nhưng UBND thành phố B đã không tiến hành các thủ tục theo quy định pháp luật 2013, chi tiết là: Không thông báo thu hồi đất và không tổ chức đo đạc, kiểm đếm về đất đai, tài sản, cây trồng, vật kiến trúc trên đất. Không xác định vị trí đất tại thời điểm bị thu hồi điều này là trái với Điều 69 trong Luật đất đai 2013.
  4. Quyết định thu hồi đất, Quyết định bồi thường hỗ trợ của UBND (số B và số B) thành phố B không nằm trong danh mục quy định tại Điều 62 Luật đất đai, vì đây là dự án đầu tư kinh doanh hạ tầng kỹ thuật, do đó cả 2 Quyết định nói trên không đảm bảo tính pháp lý.
  5. Trong 10 năm qua, do sự sai sót, vi phạm trình tự, thủ tục theo quy định pháp luật của UBND thành phố B, đã dẫn tới thiệt hại nghiêm trọng đối với bà H về kinh tế, thời gian, tiền bạc, sức khỏe, tinh thần...
    • Diện tích 5.908m² của bà H trồng tầm vông, thu hoạch cây hàng năm là 40 triệu đồng. Nhưng từ năm 2014, Công ty S1 rào đất, đào mương khu đất của bà H, cản trở việc thu hoạch khiến khu đất bị phá hoại nghiêm trọng cho tới nay, ảnh hưởng đến thu nhập kinh tế của gia đình.
    • Đồng thời, bản thân bà H phải ròng rã nhiều năm liền, ảnh hưởng công việc để đi khiếu nại, nộp nhiều đơn từ, hồ sơ tài liệu, gặp các cơ quan từ xã đến thành phố B, tỉnh Đồng Nai, chi phí đi lại, soạn thảo đơn thư, tư vấn pháp luật, khiến sức khỏe và tâm lý của bà H bị sa sút.

Từ những căn cứ nêu trên, bà H đề nghị Tòa án Nhân dân tỉnh Đồng Nai xét xử theo hướng Tuyên hủy các Quyết định sau:

  • Quyết định 604/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ (Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai).
  • Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B (Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu).
  • Quyết định số 2860/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B V/v thu hồi đất của bà Phạm Thị H tại thửa 279, tờ bản đồ 3 diện tích 5.908m² để thực hiện dự án xây dựng kinh doanh hạ tầng kỹ thuật KCN G.
  • Quyết định 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Phạm Thị H với số tiền: 3.917.521.000 đồng.

* Người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh Đ do người đại diện theo ủy quyền bà Nguyễn Thị H1, Phó CT-UBND tỉnh Đ trình bày:

Về nội dung đơn khởi kiện:

Theo đơn khởi kiện của bà Phạm Thị H thể hiện: Bà Phạm Thị H yêu cầu hủy Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Phạm Thị H (lần 2). Không đồng ý xác định phần diện tích 5.908m² đất nông nghiệp thuộc thửa 279 tờ bản đồ địa chính số 03 phường T theo vị trí 4, yêu cầu xác định theo vị trí 3, yêu cầu có Thông báo thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013.

Kết quả xác minh nội dung khởi kiện: Theo Báo cáo số 221/BC-TT ngày 23/11/2021 của Thanh tra tỉnh về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Phạm Thị H và Văn bản số 402/TT- NV2 ngày 03/3/2022 về kết quả đối thoại giải quyết khiếu nại lần 2 của Thanh tra tỉnh, thể hiện: Đối với nội dung khiếu nại không đồng ý xác định phần diện tích 5.908m² đất nông nghiệp thuộc thửa 279 tờ bản đồ địa chính số 03 phường T theo vị trí 4; yêu cầu xác định theo vị trí 3: Tại thời điểm UBND thành phố B lập hồ sơ, tính toán bồi thường cho bà Phạm Thị H năm 2013 việc xác định vị trí đất được áp dụng theo Quyết định số 75/2012/QĐ-UBND ngày 19/12/2012 của UBND tỉnh Đ quy định về tiêu thức và việc phân vùng, phân loại, phân vị trí đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai và giá đất để tính toán bồi thường được áp dụng theo Quyết định số 76/2012/QĐ-UBND ngày 19/12/2012 của UBND tỉnh Đ quy định về giá các loại đất trên địa bàn tỉnh Đồng Nai năm 2013, theo đó tại Phụ lục 1 Bảng giá đất kèm theo Quyết định quy định đất trồng cây hàng năm, cây lâu năm vị trí 3 tại các xã T có đơn giá là 80.000 đồng/m². Đến nay, các Quyết định trên đã hết hiệu lực. Ngày 30/12/2020, UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2858/QĐ-UBND hủy bỏ Quyết định số 7337/QĐ-UBND ngày 25/12/2013 của UBND thành phố B về bồi thường hỗ trợ cho bà H. Theo Văn bản số 3582/VPĐK.BH-ĐKTK ngày 26/6/2020 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh B xác định thửa đất số 279 tờ bản đồ số 03 phường T, loại đất nông nghiệp thuộc vị trí 4; kết quả kiểm tra hiện trạng ngày 02/4/2021 của Thanh tra thành phố B với các phòng ban liên quan của UBND thành phố B đối với thửa đất số 279 tờ bản đồ số 03 phường T; căn cứ khoản 1 Điều 6, khoản 1 Điều 7 Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh Đ, việc UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 bồi thường diện tích 5.908m² đất nông nghiệp cho hộ bà Phạm Thị H theo vị trí 4 là đúng quy định.

Đối với nội dung yêu cầu ban hành Thông báo thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013: Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G đã được UBND huyện L thông báo thu hồi đất từ năm 2007 và UBND tỉnh Đ phê duyệt phương án bồi thường năm 2013; được thực hiện theo trình tự, thủ tục quy định Luật đất đai năm 2003. Đến ngày 29/11/2013, Quốc hội ban hành Luật đất đai năm 2013 (thay thế Luật đất đai năm 2003 và có hiệu lực từ ngày 01/7/2014). Căn cứ khoản 6 Điều 210 của Luật đất đai năm 2013; khoản 3 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ, Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G đã được thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ trước thời điểm Luật đất đai 2013 có hiệu lực; do đó, tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt. Việc UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 bồi thường, hỗ trợ cho bà H mà không phải ban hành thông báo thu hồi đất là đúng quy định pháp luật. Đối với Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B khiếu nại lần đầu không công nhận các nội dung khiếu nại của bà Phạm Thị H là đúng.

Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G tại xã T, huyện L và xã G, xã A, huyện T được Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1107/QĐ-TTg ngày 21/8/2006 phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, trong đó có khu công nghiệp G; Hội đồng bồi thường huyện L có Thông báo thu hồi đất số 249/TB-HĐBT ngày 16/4/2007 và triển khai thông báo thu hồi đất đến các hộ dân; được UBND tỉnh Đ ban hành Văn bản số 3553/UBND-CNN ngày 16/5/2007 về việc chấp thuận chủ trương và thỏa thuận địa điểm cho Công ty P (S1) lập thủ tục quy hoạch, đầu tư khu công nghiệp -; ngày 27/11/2008, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 4018/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng thực hiện Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G tại xã T, huyện L và xã G, xã A, huyện T; UBND huyện L ban hành Quyết định số 667/QĐ-UBND ngày 17/02/2009 thu hồi đất đối với 82 hộ dân thực hiện Dự án, danh sách kèm theo có phần diện tích 5.908m² đất cây lâu năm thuộc thửa số 279, tờ bản đồ số 03 xã T. Căn cứ Luật đất đai năm 2003, Luật đất đai năm 2013 và Nghị định 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 4018/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Phạm Thị H (lần 2) không công nhận nội dung khiếu nại theo đơn đề ngày 20/6/2021 của bà Phạm Thị H. Công nhận kết quả giải quyết của Chủ tịch UBND thành phố B tại Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 về việc giải quyết không công nhận các nội dung khiếu nại của bà Phạm Thị H là đúng quy định pháp luật.

  • Việc UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2861/QĐ- UBND ngày 30/12/2020 bồi thường diện tích 5.908m² đất nông nghiệp cho hộ bà Phạm Thị H theo vị trí 4 là đúng quy định. Nội dung bà H khiếu nại, không đồng ý xác định phần diện tích 5.908m² đất nông nghiệp theo vị trí 4; yêu cầu xác định theo vị trí 3 là không có cơ sở.
  • Việc UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2861/QĐ- UBND ngày 30/12/2020 bồi thường, hỗ trợ cho bà H mà không phải ban hành thông báo thu hồi đất là đúng quy định pháp luật. Việc bà H khiếu nại, yêu cầu có Thông báo thu hồi đất theo Luật Đất đai năm 2013 là không có cơ sở.

* Người bị kiện UBND và Chủ tịch Ủy ban nhân dân thành phố B do người đại diện theo ủy quyền là ông Nguyễn Duy T1 –Phó Chủ tịch UBND thành phố B trình bày:

Đối với yêu cầu huỷ Quyết định số 2860/QĐ-UBND và số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B về việc thu hồi đất, bồi thường, hỗ trợ cho đối với bà Phạm Thị H để thực hiện Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G tại phường T, thành phố B. Quá trình thực hiện công tác bồi thường, giải phóng mặt bằng đối với hộ bà Phạm Thị H tại dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G tại phường T, thành phố B như sau:

Ngày 27/11/2008, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 4018/QĐ-UBND về việc thu hồi đất để bồi thường, hỗ trợ, tái định cư và giải phóng mặt bằng thực hiện dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G tại xã T, huyện L (nay là phường T, thành phố B);

Ngày 04/8/2011, Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường (Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố B và các cơ quan đơn vị có liên quan) đã tiến hành lập Biên bản Đo đạc, kiểm kê hiện trạng tài sản của người có tài sản gắn liền với đất thu hồi đối với hộ ông/bà Phạm Thị H bị thu hồi thửa đất số 279 tờ bản đồ số 03 phường T diện tích đất 5.908,0 m² và một số cây trồng.

Ngày 13/10/2011, UBND xã T (nay là phường T) lập giấy xác nhận nguồn gốc đất số 196/XN-UBND đối với diện tích 5.908m² thuộc thửa đất số 279 tờ bản đồ số 03 thể hiện nguồn gốc đất: “Thửa đất 279 tờ bản đồ số 03 đã được UBND huyện L cấp Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số 0 142035 ngày 10/5/1999. Hiện sử dụng ổn định, không tranh chấp".

Ngày 23/3/2020, UBND tỉnh Đ ban hành Thông báo số 3031/TB-UBND-TCD về việc kết luận, chỉ đạo của Phó Chủ tịch UBND tỉnh Đ Võ Văn C1 tại buổi đối thoại giải quyết đơn của bà Phạm Thị H (địa chỉ tại quận G, TP .).

Ngày 26/6/2020, Văn phòng Đăng ký Đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh B ban hành Văn bản số 3582/VPK.BH-ĐKTK về việc cung cấp thông tin đất đai, vị trí thửa đất đối với thửa đất số 279 tờ bản đồ số 03 phường T. Theo đó, thửa đất này được xác định vị trí 4.

Ngày 09/11/2020, UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 4186/QĐ-UBND về việc phê duyệt giá đất để tính tiền bồi thường khi Nhà nước thu hồi đất thực hiện dự án Xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G (hộ bà Phạm Thị H) tại phường T, thành phố B. Theo Quyết định này, đất nông nghiệp (đất trồng cây lâu năm) cách đường T - An Viễn khoảng 2,5km thuộc vị trí 4 được xác định 646.000 đồng/m².

Theo kết quả kiểm đếm, nội dung xác nhận của UBND phường T, giá đất được UBND tỉnh Đ quy định cụ thể nêu trên, vị trí đất được Văn phòng đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh B xác định, các chính sách hỗ trợ được quy định tại Quyết định số 10/2018/QĐ-UBND ngày 22/02/2018, quy trình thực hiện công tác bồi thường được UBND tỉnh Đ quy định tại Quyết định số 41/2019/QĐ-UBND ngày 16/10/2019, Trung tâm Phát triển quỹ đất thành phố đã lập Bảng chiết tính giá trị bồi thường với các giá trị bồi thường đối với phần diện tích 5.908,0m² đất nông nghiệp là 646.000 đồng/m²; bồi thường cây trồng là 88.953.000 đồng; thưởng cho đối tượng chấp hành tốt chủ trương, chính sách pháp luật về đất đai là 12.000.000 đồng. Tổng giá trị bồi thường, hỗ trợ là 3.917.521.000 đồng.

Sau khi hoàn thiện các hồ sơ nêu trên, Trung tâm Phát triển quỹ đất đã tham mưu Hội đồng bồi thường, hỗ trợ dự án trình các cơ quan thẩm định phương án bồi thường, hỗ trợ của bà Phạm Thị H;

Trên cơ sở hồ sơ do đơn vị trình kèm theo, Phòng T2 đã chủ trì cùng các ngành của thành phố để thẩm định và trình UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2860/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 về việc thu hồi 5.908 m² đất thuộc thửa đất số 279 tờ bản đồ số 03 phường T và Quyết định số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Phạm Thị H do thu hồi 5.908 m² đất để thực hiện dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu Công nghiệp G tại phường T, thành phố B (với tổng số tiền là 3.917.521.000 đồng).

Từ kết quả rà soát nêu trên, việc UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2860/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 về việc thu hồi 5.908m² đất thuộc thửa đất số 279 tờ bản đồ số 03 phường T và Quyết định số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Phạm Thị H do thu hồi 5.908m² đất để thực hiện dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu Công nghiệp G tại phường T, thành phố B là đảm bảo đúng quy định, đúng đối tượng và loại đất bị thu hồi. Do đó việc bà Phạm Thị H khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định này là không có cơ sở.

Đối với yêu cầu huỷ Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B về việc giải quyết đơn khiếu nại của bà Phạm Thị H (lần đầu). Vấn đề này có ý kiến như sau:

Ngày 31/01/2021, UBND thành phố B ban hành Thông báo số 91/TB-UBND về việc thụ lý giải quyết khiếu nại lần đầu của bà Phạm Thị H (đơn khiếu nại đề ngày 17/01/2021).

Ngày 02/02/2021, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 640/QĐ-UBND giao Thanh tra thành phố kiểm tra tiến hành xác minh nội dung đơn khiếu nại đề ngày 17/01/2021 của bà Phạm Thị H (ngụ tại: 5 đường T, phường G, quận G, thành phố Hồ Chí Minh).

Ngày 19/3/2021, Thanh tra thành phố B tiến hành làm việc với bà Phạm Thị H để xác minh làm rõ nội dung khiếu nại. Kết quả làm việc, bà H xác định là khiếu nại Quyết định số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Phạm Thị H do thu hồi đất để thực hiện Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu Công nghiệp G tại phường T, thành phố B, với nội dung như sau: Yêu cầu xác định lại vị trí đất nông nghiệp với diện tích 5.908m² thửa đất 279 tờ bản đồ 03 phường T (theo bà H việc xác định 5.908m² đất nông nghiệp Vị trí 4 là không đúng); Yêu cầu thỏa thuận về đơn giá bồi thường với Chủ đầu tư (Công ty S); Yêu cầu có Thông báo thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013. Ngày 28/4/2021, Thanh tra thành phố B có Báo cáo số 358/BC-TTTP về kết quả xác minh nội dung khiếu nại của bà Phạm Thị H, theo đó thể hiện các nội dung khiếu nại nêu trên của bà Phạm Thị H là không có căn cứ. Ngày 12/5/2021, Chủ tịch UBND thành phố B tổ chức đối thoại giải quyết khiếu nại (lần đầu) đối với bà Phạm Thị H.

Ngày 03/6/2021, Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2878/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại (lần đầu) của bà Phạm Thị H, ngụ tại Thành phố Hồ Chí Minh, theo đó: Không công nhận nội dung khiếu nại theo đơn ngày 17/01/2021 của bà Phạm Thị H (khiếu nại, yêu cầu xác định lại vị trí đất nông nghiệp; thỏa thuận về đơn giá bồi thường với Chủ đầu tư; ban hành Thông báo thu hồi đất theo Luật đất đai năm 2013) và giữ nguyên Quyết định số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B.

Không đồng ý với kết quả giải quyết khiếu nại (lần đầu) như nêu trên, bà Phạm Thị H khiếu nại lần hai đến Chủ tịch UBND tỉnh Đ. Ngày 10/3/2022, Chủ tịch UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 604/QĐ-UBND về việc giải quyết đơn khiếu nại (lần hai) của bà Phạm Thị H, theo đó: Không công nhận nội dung khiếu nại của bà Phạm Thị H; Công nhận kết quả giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố B tại Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021.

Ý kiến về nội dung đương sự khởi kiện:

  • Chủ tịch UBND thành phố B thụ lý giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Phạm Thị H đối với Quyết định số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B về việc bồi thường, hỗ trợ do thu hồi đất để thực hiện Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu Công nghiệp G tại phường T là đúng thẩm quyền quy định tại Điều 18 Luật Khiếu nại năm 2011. Trước khi ban hành Quyết định giải quyết khiếu nại (lần đầu), Chủ tịch UBND thành phố B có tổ chức đối thoại với bà Phạm Thị H (người khiếu nại) theo quy định tại Điều 30 Luật Khiếu nại.
  • Căn cứ kết quả xác minh và quy định pháp luật liên quan, do nội dung khiếu nại của bà Phạm Thị H không có cơ sở nên Chủ tịch UBND thành phố B khiếu nại tại Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 là không công nhận nội dung khiếu nại và giữ nguyên Quyết định hành chính bị khiếu nại (Quyết định số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020). Đồng thời, tại Quyết định số 604/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ về việc giải quyết đơn khiếu nại (lần hai) của bà Phạm Thị H, theo đó công nhận kết quả giải quyết khiếu nại của Chủ tịch UBND thành phố B tại Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021.
  • Như vậy, việc Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 về việc giải quyết khiếu nại (lần đầu) của bà Phạm Thị H là đúng quy định pháp luật. Do đó, việc bà Phạm Thị H khởi kiện và yêu cầu huỷ Quyết định này là không có căn cứ. Đề nghị Tòa án bác đơn khởi kiện của bà H.

* Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty cổ phần S do người đại diện theo ủy quyền ông Đỗ Tiến H3 trình bày như sau:

Công ty CP S là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan trong vụ án “Khiếu kiện, khởi kiện yêu cầu hủy các Quyết định hành chính về quản lý đất đai” của hộ bà Phạm Thị H người có đất bị thu hồi tại dự án Khu công nghiệp G thuộc phường T, thành phố B xin ý kiến như sau:

  • Đối với Quyết định thu hồi đất toàn Khu công nghiệp G và cá nhân hộ bà Phạm Thị H: UBND tỉnh Đ và UBND thành phố B thực hiện theo trình tự thủ tục qui định.
  • Đối với Quyết định phê duyệt phương án bồi thường: UBND thành phố B thực hiện theo trình tự thủ tục qui định, Công ty chỉ có nghĩa vụ chuyển kinh phí bồi thường cho Trung tâm Phát triển Quỹ đất thành phố B để chi trả bồi thường cho hộ dân theo Quyết định phê duyệt phương án bồi thường.
  • Việc thi công hàng rào, mương nước: Công ty thi công để bảo vệ, chống tái lấn chiếm trên phần đất của các hộ dân đã nhận tiền bồi thường và bàn giao mặt bằng cho Công ty, ngoài phạm vi khu đất của bà Phạm Thị H. Đường vào đất nhà bà H đã có con đường của xã có từ xưa đến nay rồi (khoảng từ năm 1975) đã có đường liên xã hay đường tránh, đường A...không ảnh hưởng đến việc đi lại vào đất của bà H.

Ngoài ra, quá trình thực hiện dự án Công ty đã chi trả đủ số tiền bồi thường theo quy định cho tất cả các hộ dân và đã nhận đủ diện tích đất để thực hiện dự án (trừ bà H).

* Tại Bản án hành chính sơ thẩm số: 103/2023/HC-ST ngày 07 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai, quyết định:

Căn cứ Điều 3, Điều 6, Điều 30, Điều 32, Điều 116, Điều 157, Điều 158, 191, 193 Luật tố tụng hành chính 2015; Điều 62, Điều 63, Điều 66, Điều 69, Điều 74, Điều 87, Điều 129 và Điều 210 Luật đất đai 2013; Luật đất đai 2003; Luật khiếu nại 2011;

Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014, Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính Phủ;

Nghị quyết số 326/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Toà án.

Tuyên xử:

[1] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về việc yêu cầu hủy các Quyết định:

  • Quyết định 604/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ (Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai)
  • Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B. (Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu)
  • Quyết định số 2860/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B V/v thu hồi đất của bà Phạm Thị H tại thửa 279, tờ bản đồ số 03 diện tích: 5.908m² để thực hiện dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G.
  • Quyết định 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Phạm Thị H với số tiền: 3.917.521.000 đồng.

Ngoài ra, Toà án cấp sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo vụ án theo luật định.

Ngày 20/12/2023, người khởi kiện là bà Phạm Thị H có kháng cáo với nội dung: Khi UBND thành phố B các Quyết định 2860/QĐ-UBND và Quyết định 2861/QĐ-UBND về bồi thường, hỗ trợ ngày 30/12/2020 đã không ban hành thông báo thu hồi đất, không tiến hành đo đạc, kiểm kê hiện trạng tài sản, xác định sai vị trí đất, không căn cứ Quyết định 4018/QĐ-UBND ngày 27/11/2008 của UBND tỉnh Đ.... là trái quy định của pháp luật về đất đai. UBND thành phố B áp giá bồi thường 646.000đ/m² lá quá thấp, không đúng thực tế. Trong khi đó dự án tu sửa H phường T, thành phố B, đất nông nghiệp được bồi thường là 1.900.000đ/m². Các Quyết định giải quyết khiếu nại 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B, Quyết định 604/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ bác khiếu nại của người khởi kiện là không đúng. Do đó, đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm sửa Bản án sơ thẩm theo hướng chấp nhận yêu cầu khởi và hủy các quyết định hành chính nêu trên.

Tại phiên tòa phúc thẩm:

Đại diện theo ủy quyền của người khởi kiện giữ nguyên yêu cầu kháng cáo đề nghị sửa Bản án sơ thẩm hủy các quyết định hành chính số 2860/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B về thu hồi đất, Quyết định số 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B về việc bồi thường đất, Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B, Quyết định giải quyết khiếu nại lần 2 số 604/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh phát biểu:

Về tố tụng: Kể từ khi thụ lý vụ án theo thủ tục phúc thẩm, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký thực hiện đúng các quy định của Luật tố tụng hành chính.

Các đương sự thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định của Luật tố tụng hành chính.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử bác kháng cáo của người khởi kiện và giữ nguyên Bản án sơ thẩm (có bài phát biểu kèm theo).

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[1] Về tố tụng: Người đại diện theo ủy quyền của người bị kiện Chủ tịch UBND tỉnh Đ, Chủ tịch UBND thành phố B, UBND thành phố B vắng mặt tại phiên tòa nhưng có đơn đề nghị được vắng mặt tại phiên tòa. Căn cứ quy định tại Điều 225 Luật tố tụng hành chính, Hội đồng xét xử phúc thẩm vẫn tiến hành xét xử theo luật định.

[2] Xét nội dung kháng cáo của phía người khởi kiện là bà Phạm Thị H thấy rằng:

[2.1] Về việc thông báo thu hồi đất: Ngày 21/8/2006 Thủ tướng Chính phủ ban hành Quyết định số 1107/QĐ-TTg phê duyệt quy hoạch phát triển các khu công nghiệp ở Việt Nam đến năm 2015 và định hướng đến năm 2020, trong đó có khu công nghiệp G. Ngày 16/4/2007 Hội đồng bồi thường huyện L đã ban hành thông báo thu hồi đất số 249/TB-HĐBT và triển khai đến các hộ dân. Đến ngày 19/12/2013 UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 4191/QĐ-UBND phê duyệt phương án bồi thường. Như vậy, tại thời điểm này về trình tự, thủ tục thu hồi đất được thực hiện theo quy định của luật đất đai năm 2003. Đến ngày 29/11/2013, Quốc hội thông qua Luật đất đai năm 2013 thay thế luật đất đai năm 2003, có hiệu lực từ ngày 01/7/2014. Căn cứ khoản 6 Điều 210 Luật đất đai năm 2013 và khoản 3 Điều 34 Nghị định số 47/2014/NĐ-CP của Chính phủ thì Dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G thu hồi đất và phê duyệt phương án bồi thường, hỗ trợ trước thời điểm Luật đất đai năm 2013 có hiệu lực, do đó tiếp tục thực hiện theo phương án đã phê duyệt. Vì vậy, ngày 30/12/2020 UBND thành phố B ban hành các Quyết định 2860/QĐ-UBND về thu hồi đất và Quyết định 2861/QĐ-UBND về bồi thường, hỗ trợ cho bà Phạm Thị H mà không phải ban hành thông báo thu hồi đất như nhận định của Tòa án cấp sơ thẩm là có căn cứ, đúng pháp luật.

[2.2] Về đo đạc, kiểm kê hiện trạng tài sản, xác định vị trí đất: Sau khi ban hành thông báo thu hồi đất, ngày 04/8/2011 Trung tâm phát triển quỹ đất thành phố B và các đơn vị có liên quan (Tổ chức làm nhiệm vụ bồi thường) đã tiến hành lập biên bản đo đạc, kiểm kê hiện trạng tài sản của người có tài sản gắn liền với đất thu hồi đối với hộ bà Phạm Thị H bị thu hồi thửa đất số 279 tờ bản đồ số 03 phường T với diện tích 5.908m2 và một số cây trồng (bà H đã ký tên và đồng ý với số lượng cây trồng trên đất). Ngày 26/6/2020 Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh Đ - Chi nhánh B ban hành Văn bản số 3582/VPĐK.BH-ĐKTK xác định thửa đất số 279 tờ bản đồ số 03 phường T là loại đất đất nông nghiệp thuộc vị trí 4 và theo Biên bản kiểm tra hiện trạng ngày 02/4/2021 của Thanh tra thành phố B và UBND phường T thể hiện: Thửa đất số 270 tờ bản đồ số 03 phường T của bà H tiếp giáp đường đất rộng 04m, khoảng cách từ thửa đất đến đường bê tông (đường rộng 3m) là 150m và từ điểm giao đường bê tông, đường đi đến đường T - A là 2.000m. Như vậy, căn cứ khoản 1 Điều 6 khoản 1 Điều 7 của Quyết định số 49/2019/QĐ-UBND ngày 31/12/2019 của UBND tỉnh Đ “Quy định về bảng giá đất tỉnh Đồng Nai 05 năm, giai đoạn 2020-2024” nên UBND thành phố B ban hành Quyết định 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 bồi thường diện tích đất 5.908m² đất nông nghiệp có đơn giá 646.000đ/m² cho bà Phạm Thị H là đúng.

[3] Xét việc thu hồi đất và bồi thường cho bà Phạm Thị H đã được UBND thành phố B thực hiện đúng trình tự, thủ tục, đảm bảo quyền lợi cho hộ bà Phạm Thị H nên ngày 03/6/2021 Chủ tịch UBND thành phố B ban hành Quyết định số 2878/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần đầu và ngày 10/3/2022 Chủ tịch UBND tỉnh Đ ban hành Quyết định số 604/QĐ-UBND giải quyết khiếu nại lần 2 với nội dung bác khiếu nại của bà Phạm Thị H là có căn cứ.

[4] Với các tài liệu chứng cứ nêu trên, Tòa án cấp sơ thẩm xét xử bác yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H là đúng pháp luật. Bà H kháng cáo nhưng không cung cấp được tài liệu, chứng cứ gì mới có thể thay đổi được quyết định của Tòa án cấp sơ thẩm nên Hội đồng xét xử phúc thẩm bác kháng cáo của bà H và giữ nguyên Bản án sơ thẩm.

[5] Quan điểm của Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh đề nghị bác kháng cáo của bà H và giữ nguyên Bản án sơ thẩm là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử.

[6] Về án phí: Do yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị H không được chấp nhận, vì vậy phải chịu tiền án phí phúc thẩm theo quy định, tuy nhiên bà Phạm Thị H là người cao tuổi nên miễn tiền án phí hành chính phúc thẩm cho bà H.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH

Căn cứ vào khoản 1 Điều 241 của Luật tố tụng hành chính;

Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị H; Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 103/2023/HC-ST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.

Căn cứ Luật đất đai 2003, Luật đất đai 2013, Luật khiếu nại năm 2011.

Căn cứ Nghị định 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ; Nghị định số 47/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ. Nghị định số 01/2017/NĐ-CP ngày 06/01/2017 của Chính phủ.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội, quy định về án phí lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

[1] Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Phạm Thị H về việc yêu cầu hủy các Quyết định:

  • Quyết định 604/QĐ-UBND ngày 10/3/2022 của Chủ tịch UBND tỉnh Đ (Quyết định giải quyết khiếu nại lần hai)
  • Quyết định số 2878/QĐ-UBND ngày 03/6/2021 của Chủ tịch UBND thành phố B. (Quyết định giải quyết khiếu nại lần đầu)
  • Quyết định số 2860/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B V/v thu hồi đất của bà Phạm Thị H tại thửa 279, tờ bản đồ số 03 diện tích: 5.908m² để thực hiện dự án xây dựng và kinh doanh hạ tầng kỹ thuật Khu công nghiệp G.
  • Quyết định 2861/QĐ-UBND ngày 30/12/2020 của UBND thành phố B về việc bồi thường, hỗ trợ cho bà Phạm Thị H với số tiền: 3.917.521.000 đồng.

[2] Miễn tiền án phí hành chính sơ thẩm và phúc thẩm cho bà Phạm Thị H

Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao (1);
  • - VKSND cấp cao tại TP.HCM (1);
  • - TAND tỉnh Đồng Nai (2);
  • - VKSND tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Cục THADS tỉnh Đồng Nai (1);
  • - Lưu VP(3), HS(2).18bNTHUY.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Hoàng Minh Thịnh

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 569/2024/HC-PT ngày 25/06/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về khiếu kiện yêu cầu hủy các quyết định hành chính về đất đai, quyết định giải quyết khiếu nại

  • Số bản án: 569/2024/HC-PT
  • Quan hệ pháp luật: Khiếu kiện yêu cầu hủy các Quyết định hành chính về đất đai, Quyết định giải quyết khiếu nại
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/06/2024
  • Loại vụ/việc: Hành chính
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bà Phạm Thị Hà; Giữ nguyên bản án hành chính sơ thẩm số 103/2023/HC-ST ngày 07/12/2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Đồng Nai.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger