Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 568/2024/HNGĐ-ST

Ngày: 31-5-2024

V/v "Ly hôn”

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

-Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Thanh Sơn.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Ông Võ Văn Tốt
  2. Ông Nguyễn Văn Quản

- Thư ký phiên tòa: Bà Vũ Thị Kim Bình, Thư ký Tòa án.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa: Bà Võ Thị Kiều, Kiểm sát viên.

Ngày 31 tháng 5 năm 2024 tại Trụ sở Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 512/2023/TLST-HNGĐ ngày 18 tháng 5 năm 2023 về “Ly hôn” theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 419/2024/QĐXXST-HNGĐ ngày 19 tháng 4 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 530/2024/QĐST-HNGĐ ngày 10 tháng 5 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: Bà Trương Hồng T, sinh năm 2000 (Có đơn đề nghị xét xử vắng mặt);
  2. Địa chỉ: 6, tổ D, Khu phố G, phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

  3. Bị đơn: Ông Nguyễn Đức L, sinh năm 1997 (Vắng mặt);
  4. Địa chỉ: E, tổ B, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Tại đơn khởi kiện ngày 09 tháng 5 năm 2023, bản tự khai và tại các biên bản của Tòa án, nguyên đơn bà Trương Hồng T trình bày: Bà và ông Nguyễn Đức L tự nguyện tìm hiểu quen nhau rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2018, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 113, ngày 23/5/2018 tại Ủy ban nhân dân phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ lúc chung sống với nhau, hai bên đã thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do không hòa hợp về tính cách và quan điểm sống. Trong thời gian bà mới sinh con và nuôi con nhỏ, bà nhiều lần phát hiện ông L có quan hệ tình cảm với nhiều ngưới phụ nữ khác. Năm 2021, bà có đơn ly hôn nhưng được hòa giải đoàn tụ để vợ chồng tiếp tục chung sống. Tuy nhiên, đến năm 2022, ông L bắt đầu sinh tật ăn chơi, không những không phụ giúp bà nuôi con mà còn gây thêm nợ nần và xúc phạm, chửi bới gia đình bà. Nay nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông L được nữa, nên bà T yêu cầu ly hôn với ông L.

Về con chung: Bà T xác định bà và ông L có 01 (một) con chung là: Nguyễn Minh T1, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2018. Khi ly hôn, bà T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T1, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu toà giải quyết.

Bị đơn ông Nguyễn Đức L đã được triệu tập hợp lệ nhưng không đến tòa.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Quận 12 tham gia phiên tòa phát biểu ý kiến về việc tuân theo pháp luật tố tụng trong quá trình giải quyết vụ án của Thẩm phán, Hội đồng xét xử, thư ký phiên tòa và của người tham gia tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án, vị đại diện Viện kiểm sát đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1]. Về thủ tục tố tụng: Bà Trương Hồng T có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Ông Nguyễn Đức L đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ hai nhưng vẫn vắng mặt tại phiên tòa. Vì vậy, căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự, tòa xét xử vụ án vắng mặt bà T, ông L.

[2] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:

Trương Hồng T và ông Nguyễn Đức L chung sống với nhau từ năm 2018, đã đăng ký kết hôn vào năm 2018, vì vậy căn cứ vào các Điều 8, 9 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 thì đây là hôn nhân hợp pháp, khi một trong các bên có yêu cầu ly hôn, Tòa cần xem xét giải quyết theo quy định của pháp luật.

Bị đơn ông Nguyễn Đức L hiện địa chỉ tại Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015 thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh.

[3] Về các yêu cầu của đương sự:

Về quan hệ hôn nhân: Bà Trương Hồng T và ông Nguyễn Đức L tự nguyện tìm hiểu quen nhau rồi tiến tới hôn nhân, có tổ chức lễ cưới và đăng ký kết hôn vào năm 2018, theo Giấy chứng nhận kết hôn số 113, ngày 23/5/2018 tại Ủy ban nhân dân phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.

Từ lúc chung sống với nhau, hai bên đã thường xuyên xảy ra mâu thuẫn, do không hòa hợp về tính cách và quan điểm sống. Trong thời gian bà mới sinh con và nuôi con nhỏ, bà nhiều lần phát hiện ông L có quan hệ tình cảm với nhiều ngưới phụ nữ khác. Năm 2021, bà có đơn ly hôn nhưng được hòa giải đoàn tụ để vợ chồng tiếp tục chung sống. Tuy nhiên, đến năm 2022, ông L bắt đầu sinh tật ăn chơi, không những không phụ giúp bà nuôi con mà còn gây thêm nợ nần và xúc phạm, chửi bới gia đình bà. Nay nhận thấy không thể tiếp tục cuộc sống vợ chồng với ông L được nữa, nên bà T yêu cầu ly hôn với ông L.

Căn cứ trả lời Công văn số 1483/TAQ12 ngày 02 tháng 8 năm 2023 của Tòa án nhân dân Quận 12, Ủy ban nhân dân phường T, Quận A có cung cấp nội dung: “ ... Vấn đề mâu thuẫn giữa bà T và ông L Văn phòng Khu phố 4 không nắm rõ vấn đề do ông bà không sinh sống tại địa phương và không có đơn xin hòa giải”. Theo trả lời Công văn 796/TAQ12 ngày 28 tháng 3 năm 2024 của Toà án nhân dân Quận 12, Công an phường T, Quận A ghi nhận nội dung: “ Đương sự Nguyễn Đức L, sinh năm 1998, có hộ khẩu thường trú tại E, tổ B, Khu phố D, phường T, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. Hiện tại bán nhà đi đâu không rõ”. Hội đồng xét xử nhận thấy: Tòa tống đạt thông báo thụ lý vụ án và các văn bản tố tụng cho ông L, nhưng ông L không đến tòa để có thể trình bày ý kiến, hoặc có thể hòa giải với bà T. Tình tiết này kết hợp với các tình tiết đã xác minh như đã nêu trên chứng tỏ ông L không quan tâm gì đến quan hệ hôn nhân và hạnh phúc gia đình. Hai bên không có hành động gì để hàn gắn hạnh phúc gia đình. Có thể thấy, quan hệ tình cảm vợ chồng giữa nguyên đơn và bị đơn thật sự có mâu thuẫn trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, chăm sóc lẫn nhau, không cùng nhau chia sẻ trong việc xây dựng hạnh phúc gia đình. Do đó, cần chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Hồng T, tuyên cho bà T được ly hôn với ông Nguyễn Đức L.

Về con chung: Bà T xác định bà và ông L có 01 (một) con chung là: Nguyễn Minh T1, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2018. Khi ly hôn, bà T đề nghị được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ T1, không yêu cầu ông L phải cấp dưỡng nuôi con.

Xét thấy: Đề nghị này của bà T là phù hợp với thực tế về việc cư trú của trẻ T1 và việc thực tế nuôi con của bà T, vì vậy, cần giao cho bà T trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Minh T1, tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông L đến khi bà T có yêu cầu.

Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu toà giải quyết và ông L cũng không có đơn yêu cầu tòa giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung, nên không xét.

[4] Bà Trương Hồng T phải chịu án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn.

Ông Nguyễn Đức L không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào các Điều 28, 35, 39, 227, 266, 267 và 275 của Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào các Điều 8, 9, 51, 56, 57 Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014;

Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Căn cứ vào các Điều 2, 6, 7a, 7b, 9, 30 Luật Thi hành án dân sự,

  1. Về quan hệ hôn nhân: Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Trương Hồng T, tuyên cho bà Trương Hồng T được ly hôn với ông Nguyễn Đức L.
  2. Về con chung: Bà Trương Hồng T xác định bà và ông Nguyễn Đức L có 01 (một) con chung là: Nguyễn Minh T1, sinh ngày 06 tháng 10 năm 2018. Sau khi ly hôn, giao bà Trương Hồng T được trực tiếp nuôi dưỡng trẻ Nguyễn Minh T1. Tạm hoãn việc cấp dưỡng nuôi con cho ông Nguyễn Đức L cho đến khi bà Trương Hồng T có yêu cầu.
  3. Vì lợi ích con chung, các bên được quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con; không bên nào có quyền ngăn cản việc thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung. Khi cần thiết, cá nhân, tổ chức theo quy định của pháp luật có quyền yêu cầu thay đổi người trực tiếp nuôi con, mức cấp dưỡng nuôi con.

  4. Về tài sản chung và nghĩa vụ chung: Bà T xác định không có, không yêu cầu toà giải quyết và ông L cũng không có đơn yêu cầu tòa giải quyết về tài sản chung và nghĩa vụ chung, nên không xét.
  5. Án phí dân sự sơ thẩm: Án phí dân sự sơ thẩm về yêu cầu ly hôn là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng, bà Trương Hồng T phải nộp, được trừ vào số tiền tạm ứng án phí dân sự sơ thẩm bà T đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu tiền tạm ứng án phí số AA/2022/0005961 ngày 18 tháng 5 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự Quận 12. Ông Nguyễn Đức L không phải nộp án phí dân sự sơ thẩm.

Kể từ ngày bản án này có hiệu lực pháp luật, Giấy chứng nhận kết hôn số 133, ngày 23/5/2018 do Ủy ban nhân dân phường H, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh cấp cho bà Trương Hồng T và ông Nguyễn Đức L không còn hiệu lực.

Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6,7a,7b và 9 Luật thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Đương sự vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày, kề từ ngày tống đạt hợp lệ bản án.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND Q.12;
  • - Chi cục THADS Q.12;
  • - UBND phường Hiệp Thành, Quận 12, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu.

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN- CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Thanh Sơn

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 568/2024/HNGĐ-ST ngày 31/05/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 568/2024/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 31/05/2024
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN 12, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: BẢN ÁN
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger