Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 568/2024/DS-PT

Ngày 25-7-2024

V/v Tranh chấp về thừa kế tài sản.

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phan Văn Yên
Các Thẩm phán: Ông Phan Tô Ngọc
Ông Vũ Ngọc Huynh

- Thư ký phiên tòa: Bà Dương Thị Thu Phương - Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh: Ông Nguyễn Minh Sơn - Kiểm sát viên tham gia phiên tòa.

Trong ngày 25 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh, Toà án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 454/2021/TLPT-DS ngày 06 tháng 10 năm 2021 về việc: “Tranh chấp về thừa kế tài sản”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 04/2021/DS-ST ngày 05 tháng 5 năm 2021 của Toà án nhân dân tỉnh Bình Dương bị kháng cáo;

Theo quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 948/2024/QĐPT-DS ngày 08 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:

  1. Nguyên đơn: bà Trương Mỹ L (C5), sinh năm 1968; địa chỉ: A Settlers Ridge CT E, CA 92880 - USA (Hoa Kỳ).
  2. Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: ông Trần Văn T và ông Nguyễn Minh D; cùng địa chỉ: tòa SAV5, The Sun A, B M, phường A, thành phố T, TP Hồ Chí Minh (đều có mặt).

    Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp: ông Phạm Thành L1 thuộc Đoàn luật sư Thành phố H; địa chỉ: tòa S, T, B M, phường A, thành phố T, TP Hồ Chí Minh (có mặt).

  3. Bị đơn: Bà Lê Thị C, sinh năm 1972; địa chỉ: 1, đường T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh. (có đơn xin xét xử vắng mặt).
  4. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:
    1. Lý Mỹ T1, sinh năm 1948;
    2. Trương Mỹ L, sinh năm 1968;
    3. Trương Mỹ S, sinh năm 1970;
    4. Ông Trương Thanh T2, sinh năm: 1975;
    5. Trương Mỹ V, sinh năm 1976;
    6. Ông Trương Thanh J, sinh năm 1977;
    7. Ông Trương Thanh S1, sinh năm 1979;
    8. Trương Mỹ P, sinh năm 1972;

    Cùng địa chỉ: A Settlers Ridge CT E, CA 92880- USA (Hoa Kỳ);

    Các ông/bà gồm: Bà Lý Mỹ T1, bà Trương Mỹ S, ông Trương Thanh J, ông Trương Thanh S1, bà Trương Mỹ P cùng ủy quyền cho bà Trương Mỹ L, sinh năm 1968 và ông Lieu Hang N; địa chỉ: A Settlers Ridge CT E, CA 92880- USA (Hoa Kỳ). (có đơn xin xét xử văng mặt).

    Trương Mỹ L ủy quyền lại cho người thứ ba: ông Trần Văn T và ông Nguyễn Minh D; cùng địa chỉ: tòa SAV5, The Sun A, B M, phường A, thành phố T, TP Hồ Chí Minh

  1. Ông Lê Trương Anh D1, sinh năm 1997; địa chỉ: Số A, ấp Q, xã Q, huyện T, tỉnh Đồng Nai. (Có đơn yêu cầu giải quyết vắng mặt).
  2. Huỳnh L2, sinh năm 1922; địa chỉ: A, L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; (bà L2 đã chết ngày 18/4/2016);
  3. Những người kế thừa quyền, nghĩa vụ tố tụng của bà Huỳnh L2 gồm:

    • + Các con của ông Trương Khai M (thừa kế thế vị) gồm: Bà Trương Mỹ L, bà Trương Mỹ S, bà Trương Mỹ P, ông Trương Thanh T2, bà Trương Mỹ V, ông Trương Thanh J, ông Trương Thanh S1, ông Lê Trương Anh D1;
    • + Bà Huỳnh M1, sinh năm 1946; địa chỉ: Số A L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh;
    • + Bà Huỳnh N1 (chết năm 1948). Những người thừa kế quyền và nghĩa vụ tố tụng của bà N1 gồm: Ông Lương Vĩnh N2, sinh năm 1973; ông Lương Đạt C1, sinh năm 1974; bà Lương Lập C2, sinh năm 1977; ông Lương Diệu Q, sinh năm 1983; cùng địa chỉ: Số A, L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh. (Vắng mặt).
    • + Ông Huỳnh L3, sinh năm 1948; địa chỉ: Số H H, Phường A, Quận H, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
    • + Ông Huỳnh T3, sinh năm 1949; địa chỉ: A, đường L, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
    • + Ông Huỳnh B, sinh năm 1960; địa chỉ: A, L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
    • + Bà Huỳnh M1, sinh năm 1961; địa chỉ: C, M, Phường A, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
    • + Bà Trương T4, sinh năm 1964; địa chỉ: A, L, Phường C, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh; Vắng mặt.
  4. Lê Nguyễn Nguyên Q1; sinh năm 1972; địa chỉ: Số D, đường số H, Phường E, quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  5. Người đại diện hợp pháp: ông Phạm Châu T5; địa chỉ: 5, Nhà V1, An Lục L4, C, Long An. (vắng mặt).

  6. Ông Đinh Hồng T6; sinh năm 1973; địa chỉ: 3, Nguyễn Thái S2, Phường E, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh.
  7. Người đại diện hợp pháp: ông Phạm Châu T5; địa chỉ: 5, Nhà V1, An Lục L4, C, Long An. (vắng mặt).

  8. Ngân hàng Thương mại Cổ phần N6 – Chi nhánh T11 (tên cũ là Ngân hàng Thương mại Cổ phần N6 – Chi nhánh S3); địa chỉ: Số G, khu phố B, phường A, thành phố D (tên gọi cũ là thị xã D), tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đào Xuân K - Chức vụ: Giám đốc.
  9. Người đại diện hợp pháp: bà Hoàng Thanh Thanh N3, chức vụ: Phó trưởng Phòng khách hàng doanh nghiệp, Ngân hàng thương mại cổ phần N7, (có mặt).

  10. Công ty TNHH N8; địa chỉ: Số E, đường D, Phường E, Quận G, Thành phố Hồ Chí Minh. Người đại diện theo pháp luật: Ông Đinh Hồng T6; chức vụ - Giám đốc.
  11. Người đại diện hợp pháp: ông Lê Văn N4; địa chỉ: E, Nguyễn Văn T7, phường L, thị xã T, Bình Dương. (có mặt).

  12. Ông Ngô Xuân L5; sinh năm 1979; địa chỉ thường trú: Khu tập thể Á, xã H, huyện G, tỉnh Tây Ninh; địa chỉ liên hệ: Số F, tổ D, khu G đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  13. Bùi Thị Mai H, sinh năm 1981; địa chỉ: Số F, tổ D, khu G đường L, phường P, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Vắng mặt.
  14. Công ty TNHH N8; địa chỉ: E, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật: Ông Uong Pit C3 – Chức vụ Giám đốc. Có đơn xin xét xử vắng mặt.
  15. Công ty TNHH N8; địa chỉ: Lô B, khu phố T, phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương. Người đại diện theo pháp luật. Ông Lan Tien H1 – Chức vụ Giám đốc. Có đơn xin xét xử vắng mặt.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Trong đơn khởi kiện ngày 27/7/2010; đơn khởi kiện ngày 17/01/2011; đơn khởi kiện ngày 21/02/2011; đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 17/11/2014; đơn bổ sung yêu cầu khởi kiện ngày 01/6/2012 và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Văn V2 trình bày:

Ông Trương Khai M có tên gọi theo quốc tịch Mỹ là David C4, sinh năm 1938, (chết năm 2008).

- Về quan hệ tông chi: Khi còn sống ông Trương Khai M có hai dòng con gồm:

  • + Dòng thứ nhất: Ông M chung sống với bà Lý Mỹ T1 (Ly Tran M2), sinh năm 1948; Passport (hộ chiếu) số 39712453; Quốc tịch Hoa kỳ. Quá trình chung sống, ông M và bà Lý Mỹ T1 có 07 người con chung gồm: Trương Mỹ L, Trương Mỹ S, Trương Mỹ P, Trương Thanh T2, Trương Mỹ V, Trương Thanh J, Trương Thanh S1.
  • + Dòng thứ hai: Ông M chung sống với bà Lê Thị C, sinh năm 1972 (địa chỉ: 1 đường T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh); quá trình chung sống, ông M và bà C có 01 người con chung là Lê Trương Thanh D2, sinh năm 1997.

- Tài sản của ông M sau khi chết để lại như sau: Năm 1992, ông M về Việt Nam đầu tư và thành lập Công ty TNHH N8; thời điểm này pháp luật Việt Nam quy định đối với công ty TNHN8 phải có 02 thành viên trở lên. Do vậy, ông M đứng tên là thành viên góp vốn với tỷ lệ 90% tương đương số tiền 13.500.000.000 đồng và nhờ bà Lê Thị C đứng tên là thành viên góp vốn với tỷ lệ 10% tương đương số tiền 1.500.000.000 đồng. Năm 2004, ông M chuyển nhượng Công ty TNHH N8 để thành lập Công ty Đ2 với số vốn đăng ký là 10.000.000.000 đồng và để cho bà Lê Thị C đứng tên. Quá trình kinh doanh ông M nhận chuyển nhượng nhà, đất của nhiều người, do là người nước ngoài không thể đứng tên giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở nên ông M để bà C đứng tên các tài sản, cụ thể theo thứ tự như sau:

  • + Căn nhà số A đường T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh;
  • + Thửa đất số 226, tờ bản đồ số 15 (B4), diện tích 1.410m², GCNQSDĐ số H00882/TG do Ủy ban nhân dân(UBND) huyện T cấp ngày 15/05/2007, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương);
  • + Thửa đất số 454, 455 tờ bản đồ số 05 (Lô E, Ô 27, 28) diện tích 600m², GCNQSDĐ số 00118/KDC-TG; phần đất tọa lạc tại khu dân cư T, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương). Trên đất, ông M đã xây nhà cho thuê;
  • + Thửa đất số 1005, tờ bản đồ số 04 (Lô E, Ô 27) diện tích 342,5m², GCNQSDĐ số H00165/KDC-TG; tọa lạc tại khu dân cư T, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương);
  • + Thửa đất số 1002, 1003, 1004 tờ bản đồ số DC4, diện tích 1.027,5m², GCNQSDĐ số H00341/KDCTG-TG; tọa lạc tại khu dân cư T, huyện T, tỉnh Bình Dương (nay là phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương);
  • + Thửa đất số 1006, tờ bản đồ số 04 (Lô E, Ô 28) diện tích 342,5m², giấy chứng nhận QSD đất số H00164/KDC-TG do Ủy ban nhân dân huyện T (nay là thị xã T) cấp ngày 04/07/2005, tọa lạc tại khu dân cư T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; trên đất, ông M đã xây nhà xưởng cho thuê.

Tất cả các tài sản trên là tài sản của ông M và ông M nhờ bà Lê Thị C đứng tên.

Mặc dù bà Lê Thị C là người đứng tên các tài sản trên nhưng toàn bộ tiền mua bán nhà và nhận chuyển nhượng nhà, đất là tiền của ông M. Khi còn khỏe mạnh, ông M đã lập kế hoạch đưa nguyên đơn (bà Trương Mỹ L) về Việt Nam để quản lý công ty và các tài sản nêu trên; đến tháng 6/2008 ông M lâm bệnh đột ngột, khi còn tỉnh táo trước khi chết, ông M mời tất cả các anh chị em của nguyên đơn về Việt Nam, mời bà C và những người liên quan đến để phân chia, bàn giao tài sản; bà C cũng thừa nhận và nhất trí với phương án bàn giao lại các tài sản mà bà C đang đứng tên cho đại diện các con của ông M. Tuy nhiên, sau khi ông M qua đời, bà C đã không thực hiện việc bào giao, trả lại tài sản.

Để vụ kiện được giải quyết theo quy định của pháp luật, nguyên đơn đã đại diện gia đình gửi đơn yêu cầu Ủy ban nhân dân xã T vụ tranh chấp; ngày 20/05/2010, Ủy ban nhân dân xã T lập biên bản hòa giải, bà C tham gia hòa giải nhưng không ký vào biên bản hòa giải theo quy định nên Ủy ban đã lập biên bản hòa giải không thành.

Do vậy, nguyên đơn khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết buộc bị đơn phải trả lại các tài sản gồm:

  • + Thửa đất số 226, tờ bản đồ số 15 (B4), diện tích 1.410m², GCNQSDĐ số H00882/TG do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 15/05/2007, tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Bình Dương. Trên đất, ông David C4 đã xây nhà xưởng cho thuê.
  • + Thửa đất số 454, 455 tờ bản đồ số 05 (Lô E, Ô 27, 28) diện tích 600m², GCNQSDĐ số 00118/KDC-TG; tọa lạc tại khu dân cư T, huyện T, tỉnh Bình Dương. Trên đất, ông David C4 đã xây nhà cho thuê.
  • + Thửa đất số 1005, tờ bản đồ số 04 (Lô E, Ô 27) diện tích 342,5m², GCNQSDĐ số H00165/KDC-TG; tọa lạc tại khu dân cư T, huyện T, tỉnh Bình Dương. Trên đất, ông David C4 đã xây nhà xưởng cho thuê.
  • + Thửa đất số 1002, 1003, 1004 tờ bản đồ số DC4, diện tích 1.027,5m², GCNQSDĐ số H00341/KDCTG-TG; tọa lạc tại khu dân cư T, huyện T, tỉnh Bình Dương. Trên đất, ông David C4 đã xây nhà xưởng cho thuê.
  • + Thửa đất số 1006, tờ bản đồ số 04 (Lô E, Ô 28) diện tích 342,5m², GCNQSDĐ số H00164/KDC-TG do Ủy ban nhân dân huyện T cấp ngày 04/07/2005; tọa lạc tại khu dân cư T, thị xã T, tỉnh Bình Dương; trên đất, ông David C4 đã xây nhà xưởng cho thuê.

Đối với căn nhà số A đường T, Phường E, Quận E, Thành phố Hồ Chí Minh nguyên đơn không tranh chấp.

Nguyên đơn đồng ý với giá trị các tài sản theo các biên bản định giá tài sản do Tòa án đã thực hiện, không yêu cầu định giá lại tài sản.

Trong quá trình tố tụng nguyên đơn xuất trình chứng cứ gồm: Tờ tường trình quan hệ nhân thân ngày 06/04/2010; Bản sao Visa của bà Trương Mỹ P (D, Diana M3); Bản sao passport của bà Trương Mỹ P (D, Diana M3); Bản sao Visa của bà Trương Mỹ V (C, J-Loan); Đơn yêu cầu giám định ADN ngày 01/08/2012; Bản tự khai ngày 22/03/2011; Bản pho to passport của bà Lý Trần M4; Bản pho to passport của bà Trương Mỹ V (C, J-L); Bản pho to passport của bà Trương Mỹ S (Lustig T); Bản pho to passport của bà Trương Mỹ P (D, D); Bản pho to passport của ông Trương Thanh J (Chang J); Bản pho to passport của ông Trương Thanh S1; Bản pho to passport của ông Lieu Hang N; bản tự khai ngày 22/03/2011; bản sao giấy chứng tử số 16/KTNN ngày 10/09/2008; bản pho to chứng minh nhân dân của ông Phạm Văn V2; Hợp đồng ủy quyền ngày 04/09/2009; đơn xin sao chụp hồ sơ tài liệu ngày 28/03/2011; đơn đề nghị tạm đình chỉ giải quyết vụ án ngày 16/09/2011; bản khai lý lịch của người làm ngành, nghề kinh doanh có điều kiện về an ninh trật tự ngày 03/01/2006;

Trong quá trình giải quyết vụ án, cũng như tại phiên tòa sơ thẩm, bị đơn bà Lê Thị C trình bày:

C có quan hệ quen biết với ông Trương Khai M và có góp vốn để cùng kinh doanh tại Công ty TNHH N8. Sau đó có thuê ông M quản lý Doanh nghiệp tư nhân T12 do bị đơn làm chủ doanh nghiệp. Đối với tài sản nguyên đơn tranh chấp có nguồn gốc như sau:

  • - Thửa đất số 226, tờ bản đồ số 15 diện tích 1.410m² tọa lạc ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Bình Dương (GCNQSDĐ H0082 /TG do UBND huyện T cấp ngày 15/5/2007) có nguồn gốc do bà C nhận chuyển nhượng của bà Lưu Thị N5 và ông Trương T4 vào tháng 9/2006.
  • - Thửa đất số 454, 455, tờ bản đồ số 05, diện tích 600m² (GCNQSDĐ H00118 cấp ngày 2/3/2005), tọa lạc tại khu dân cư phường T, huyện T, tỉnh Bình Dương có nguồn gốc do bị đơn nhận chuyển nhượng của ông Trần Đức B1, bà Lương Vĩnh N2 với giá chuyển nhượng 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) vào đầu năm 2005.
  • - Thửa đất số 1005, tờ bản đồ số 04, diện tích 342,5m² (GCNQSDĐ H00165/KDC-TG cấp cho bà Lê Thị C ngày 30/6/2005), tọa lạc tại khu dân cư phường T, huyện T, tỉnh Bình dương có nguồn gốc do bị đơn nhận chuyển nhượng của ông Võ Văn Đ với giá tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).
  • - Thửa đất số 1002, 1003, 1004, tờ bản đồ DC4, diện tích 1.027,5m² (GCNQSDĐ số H00341 cấp cho bà Lê Thị C ngày 18/11/2005) tọa lạc tại khu dân cư T, huyện T, tỉnh Bình Dương) có nguồn gốc do bị đơn nhận chuyển nhượng của bà Lê Thị G, giá chuyển nhượng 300.000.000 đồng (ba trăm triệu đồng) cũng vào khoảng tháng 5/2005.
  • - Thửa đất số 1006, tờ bản đồ số 04, diện tích 342,5m² (GCNQSDĐ số H00164/KDC-TG cấp cho bà Lê Thị C ngày 04/7/2005), tọa lạc tại khu dân cư phường T, huyện T, tỉnh Bình dương có nguồn gốc do bị đơn nhận chuyển nhượng của ông Huỳnh Văn Đ1 với giá tiền 100.000.000 đồng (một trăm triệu đồng).

Hiện nay toàn bộ các thửa đất trên bà C cho Công ty TNHH N8 có địa chỉ phường T, thành phố T tỉnh Bỉnh DươngCông ty TNHH N8 (Việt Nam) có địa chỉ E3, KDC T phường T, thành phố T, tỉnh Bình Dương thuê. Việc cho thuê đất không có làm hợp đồng chỉ có trả tiền thuê hàng tháng. Đối với thửa đất 226 bị đơn đã chuyển nhượng cho vợ chồng ông L5, bà H từ năm 2010. Hiện nay bị đơn không còn quản lý sử dụng thửa đất 226.

Toàn bộ số tiền mua các thửa đất nêu trên là của bị đơn, bị đơn là chủ Doanh nghiệp tư nhân T12 được thành lập năm 2004 theo Giấy chứng nhận đăng ký kinh doanh số 4601000846 do Sở Kế hoạch và Đầu tư tỉnh Bình Dương cấp ngày 7/6/2004 với vốn đầu tư 10.000.000.000 đồng (mười tỷ đồng).

Do đó, nguyên đơn khởi kiện cho rằng toàn bộ đất đai bị đơn đứng tên là của ông David C4 đưa tiền cho bị đơn mua là không có cơ sở. Trước đây năm 2002 bị đơn có góp vốn 1.500.000.000 đồng (tương ứng 10%) với ông David C4 để thành lập Công ty TNHH N8, đến năm 2004 bị đơn chuyển nhượng lại cho ông Mai Hữu T8 toàn bộ số vốn trong Công ty N8. Sau đó bị đơn thành lập Doanh nghiệp Tư nhân T12 do bị đơn làm chủ, lúc này bị đơn thuê ông David C4 làm Giám đốc quản lý về mặt nghiệp vụ doanh nghiệp.

Ngành nghề kinh doanh của doanh nghiệp B2 được cấp phép là kinh doanh bất động sản, xây dựng và cho thuê công trình xây dựng, do dó bị đơn mua đất xây nhà xưởng cho thuê là hợp pháp; tiền của bị đơn được đăng ký trong vốn điều lệ doanh nghiệp 10 tỷ đồng nên không thể cho rằng bị đơn không có tiền mua đất, nguyên đơn cho rằng bị đơn đang chiếm giữ đất của ông David C4 vì ông là người nước ngoài là vô lý trong khi ông này chỉ là người làm thuê theo hợp đồng lao động của bị đơn.

Vì vậy bị đơn không đồng ý với bất cứ yêu cầu khởi kiện nào của nguyên đơn.

Bị đơn đồng ý với giá trị các tài sản theo các biên bản định giá tài sản do Tòa án đã thực hiện, bị đơn không yêu cầu định giá lại tài sản và không có khiếu nại đối với giá trị tài sản đã được định giá.

Chứng cứ do bị đơn Lê Thị C giao nộp gồm có: Giấy khai sinh của Lê Trương Thanh D2; GCNQSDĐ số H0082 /TG ngày 15/5/2007, GCNQSDĐ số H00118 ngày 2/3/2005, GCNQSDĐ số H00165/TG H00341/TG ngày 30/6/2005; GCNQSDĐ số H00341 ngày 18/11/2005 và các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Ngô Xuân L5 và bà Bùi Thị Mai H trình bày:

Đầu năm 2010 ông L5H có nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất của bà C đối với thửa đất 226, tờ bản đồ số 15 (B), diện tích 1.410m². Đến ngày 19/6/2013 thì vợ chồng ông L5, bà H chuyển nhượng thửa đất nêu trên cho bà Lê Nguyễn Nguyên Q1. Việc nhận chuyển nhượng đất cũng như chuyển nhượng đất thực hiện đúng quy định của pháp luật. Do vậy ông bà không còn liên quan gì đến thửa đất nêu trên.

Tại bản tự khai ngày 21/10/2019 của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan bà Lê Nguyễn Nguyên Q1 và lời trình bày của người đại diện theo ủy quyền (bà Nguyễn Thị T9) cùng thống nhất trình bày:

Ngày 19/6/2013, giữa bà Lê Nguyễn Nguyên Q1 và vợ chồng ông Ngô Xuân L5 và bà Bùi Thị Mai H cùng thỏa thuận ký kết hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất đối với phần đất có diện tích 1.410m² thuộc thửa số 226, tờ bản đồ số 150, được cấp GCNQSDĐ số H00882/TG do Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Bình Dương cấp ngày 15/05/2007, đất tọa lạc tại ấp B, xã T, huyện T, tỉnh Bình Dương. Sau khi nhận chuyển nhượng đất và tài sản gắn liền với đất thì bà Q1 đã được cấp GCNQSDĐ số BL 575493 vào sổ số CH 02597/TG. Bà Q1 có cho Công ty N8 thuê đất để làm nhà xưởng. Việc bà Q1 nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất của ông L5, bà H là ngay tình, hợp pháp. Do vậy, yêu cầu Tòa án áp dụng Điều 133 Bộ luật Dân sự để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bà Q1.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH N8 là bà Nguyễn Thị T9 trình bày:

Thống nhất với ý kiến của người đại diện hợp pháp của bà Lê Nguyễn Nguyên Q1: Công ty N8 có thuê đất của bà Nguyên Q1, đồng thời xác định giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và tài sản trên đất theo GCNQSDĐ số BL 575493 số vào sổ cấp GCNQSDĐ số CH 02597/TG ngày 11/7/2013 đã được bà Q1 thế chấp tại Ngân hàng N6 - Chi nhánh T11 để đảm bảo khoản vay của Công ty N8. Công ty TNHH N8 đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật.

Người đại diện theo ủy quyền của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Ngân hàng TMCP N6 –Chi nhánh T11 do ông Ngô Xuân T10 trình bày:

Về phía Ngân hàng không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Ngân hàng không biết bà Trương Mỹ L, bà Lê Thị C là ai. Ngân hàng chỉ giao dịch với ông T6, bà Q1Công ty TNHH N8. Việc Ngân hàng nhận thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất tại thửa số 226, tờ bản đồ số 150 diện tích 1.410m² tọa lạc khu phố B, phường T, thị xã T, tỉnh Bình Dương theo Giấy chứng nhận quyền sử dụng đất sô BL 575 493 số vào sổ CH 02597/TG do Ủy ban nhân dân thị xã T cấp ngày 11/7/2013 đã được công chứng và đăng ký giao dịch bảo đảm đầy đủ và đúng theo quy định của pháp luật. Đề nghị Tòa án giải quyết theo quy định của pháp luật để bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của Ngân hàng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH N8 trình bày tại Văn bản ngày 21/7/2016:

Công ty TNHH N8 thuê nhà xưởng của bà Lê Thị C. Hiện nay nhà xưởng đang tranh chấp nhưng do Công ty chỉ thuê nhà xưởng trả tiền theo quý, không ký hợp đồng thuê nhà xưởng nên không có ý kiến gì hay có yêu cầu gì đối với việc giải quyết của Tòa án. Việc tranh chấp đòi lại tài sản Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương đang giải quyết là của cá nhân giữa bà Trương Mỹ L với bà Lê Thị C không liên quan đến Công ty TNHH N8. Do vậy đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng.

Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan Công ty TNHH N8 trình bày tại Văn bản ngày 21/7/2016:

Công ty TNHH N8 thuê nhà xưởng của bà Lê Thị C. Hiện nay nhà xưởng đang tranh chấp nhưng do Công ty chỉ thuê nhà xưởng trả tiền theo quý, không ký hợp đồng thuê nhà xưởng nên không có ý kiến gì hay có yêu cầu gì đối với việc giải quyết của Tòa án. Đề nghị Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương giải quyết vắng mặt theo quy định của pháp luật.

Tại Biên bản hòa giải ngày 15/01/2020: Đại diện hợp pháp của nguyên đơn, bị đơn đã thống nhất kết quả định giá tài sản đối với các tài sản tranh chấp và xác định không có thắc mắc khiếu nại đối với các kết quả đo đạc, định giá và không yêu cầu Tòa án tiến hành đo đạc định giá lại tài sản.

Tại bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DSST ngày 05-5-2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương quyết định:

Căn cứ các Điều 37, 38, 39, 144, 147, 235, 264, 266, 271 và 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự;

Căn cứ Điều 634 Bộ luật Dân sự năm 2005.

Căn cứ Nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

Tuyên xử:

  1. Không chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện tranh chấp về thừa kế tài sản của nguyên đơn bà Trương Mỹ L đối với bị đơn bà Lê Thị C.

Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn tuyên về án phí, chi phí tố tụng khác và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.

Ngày 14/5/2021, bà Trương Mỹ L (nguyên đơn) kháng cáo đề nghị hủy bản án dân sự số 04/2021/DS-ST ngày 05/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Ngày 03/6/2021, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 05/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương theo hướng hủy bản án.

Vị đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh, hủy bản án số 04/2021/DS-ST ngày 05/5/2021 về việc “Tranh chấp thừa kế tài sản” của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

Căn cứ vào các chứng cứ và tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa. Căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa trên cơ sở xem xét đầy đủ, tòa diện chứng cứ ý kiến của Viện kiểm sát, của nguyên đơn, bị đơn và người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN

Về hình thức đơn kháng cáo của nguyên đơn trong hạn luật định nên chấp nhận xem xét giải quyết theo trình tự phúc thẩm.

1/ Ngày 14/5/2021 Bà Trương Mỹ L (nguyên đơn) kháng cáo đề nghị hủy bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 05/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.

2/ Ngày 03/6/2021 Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh kháng nghị bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/DS-ST ngày 05/5/2021 của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương theo hướng hủy bản án.

  • [1] Về thẩm quyền xét xử: Căn cứ Điều 37, 38 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 xác định đúng thẩm quyền xét xử.
  • [2] Về tư cách người tham gia tố tụng: Căn cứ Điều 68 Bộ luật tố tụng dân sự 2015 cấp sơ thẩm còn bỏ sót một số người tham gia tố tụng với tư cách là người có quyền lợi và nghĩa vụ liên quan.
  • [3] Về quan hệ tranh chấp: Cấp sơ thẩm xác định chưa đúng quan hệ tranh chấp.
  • [4] Về nội dung: Nguyên đơn bà Trương Mỹ L khởi kiện cho rằng các tài sản đang tranh chấp với bà Lê Thị C là của cha ruột bà ông Trương Khai M (tên gọi khác David C4) đã nhờ bà Lê Thị C đứng tên trên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và quyền sở hữu tài sản. Giữa ông David C4 và bà C có thỏa thuận khi bà Trương Mỹ L về Việt Nam thì bà C bàn giao lại toàn bộ các tài sản trên của ông David C4 cho bà L quản lý nhưng khi ông D3 Chang chết thì bà C không giao lại cho nguyên đơn bà L. Cụ thể: năm 1992 ông David C4 về Việt Nam đầu tư và thành lập công ty TNHH N8, ông C4 đứng tên là thành viên góp vốn tỷ lệ 90% tương đương với số tiền 13.500.000.000 đồng và nhờ bà Lê Thị C đứng tên là thành viên góp vốn với tỷ lệ 10% tương đương số tiền 1.500.000.000 đồng. Năm 2004 ông David C4 chuyển nhượng công ty TNHH N8 để thành lập công ty Đ2 với số vốn đăng ký là 10.000.000.000 đồng và để bà Lê Thị C đứng tên. Quá trình kinh doanh ông C4 đã mua toàn bộ các thửa đất nêu trên nhưng do ông C4 không có quốc tịch Việt Nam nên đã nhờ bà C đứng tên. Năm 2008 ông C4 chết nhưng bị đơn bà Lê Thị C không giao trả lại tài sản của ông C4 cho vợ và các con ông C4 nên nguyên đơn bà L khởi kiện yêu cầu bị đơn phải giao trả lại toàn bộ các thửa đất mà và tài sản trên đất đã nêu trong đơn kiện. Tổng giá trị tài sản tranh chấp là 42.764.911.180 đồng.

Bị đơn bà Lê Thị C không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn. Bà cho rằng bản thân bà có góp 10% vốn vào công ty N8. Năm 2004 bà chuyển nhượng toàn bộ vốn góp cho ông Mai Hữu T8, sau đó bà thành lập riêng công ty Đ2 với vốn điều lệ 10 tỷ đồng. Bà làm chủ doanh nghiệp ông C4 là quản lý điều hành. Do đó, bà không đồng ý với yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.

  • [5] Nhận định của Hội đồng xét xử phúc thẩm:

Cấp sơ thẩm không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn vì cho rằng nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông C4 là người mua các thửa đất trên và ông C4 có thỏa thuận với bà C là người đứng tên hộ cho ông C4 trên các thửa đất đó.

Xét thấy, việc Tòa án cấp sơ thẩm không chỉ không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn mà còn xác định sai về quan hệ tranh chấp, bỏ sót người tham gia tố tụng là vi phạm nghiêm trọng về mặt tố tụng, bởi lẽ:

  • - Thứ nhất, bà Trương Mỹ L khởi kiện đòi tài sản vì bà L cho rằng bà Lê Thị C chỉ là người đứng tên giùm ông David C4 (cha ruột bà L) thay vì xác định quan hệ pháp luật là “Đòi tài sản” cấp sơ thẩm lại xác định quan hệ pháp luật là “Chia thừa kế” là không phù hợp.
  • - Thứ hai, cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ đầy đủ, bỏ sót những người tham gia tố tụng bao gồm Công ty TNHH N8, ông Mai Hữu T8, Trương T4, Lưu Thị N5, Trần Đức B1, Lương Vĩnh N2, Võ Văn Đ, Lê Thị G, Huỳnh Văn Đ1. Lý do đưa những người này vào tham gia tố tụng là vì từ năm 2002 với số vốn ban đầu chỉ 1.500.000.000 đồng, đến năm 2004, bà C có số vốn đầu tư là 10.000.000.000 đồng, là số tiền biến động tăng rất lớn nhưng không rõ nguồn tiền ở đâu mà bà C có được. Trong khi đó Tòa án cấp sơ thẩm chưa thu thập chứng cứ làm rõ khi thực hiện hợp đồng nhận chuyển nhượng vốn góp của bà C, Công ty TNHH N8 đã thanh toán tiền cho bà C hoặc ông David C4 (M) là bao nhiêu. Đồng thời, phải xác minh làm rõ nguồn tiền để bà C xây dựng V3, nhà xưởng và thanh toán nhận chuyển nhượng quyền sử dụng đất là tài sản riêng của bà C hay tài sản chung với ông David C4 (M), vì hai người sống chung như vợ chồng từ năm 1997 đến năm 2008 thì ông David C4 (M) chết. Tài sản đang tranh chấp được hình thành trong thời gian này nhưng Tòa án cấp sơ thẩm chưa làm rõ các nguồn tiền là của ông C4 (M) hay bà C hay của cả hai. Hơn nữa, theo các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất đều thể hiện bà C có nghề nghiệp là “công nhân” hoặc “nội trợ” để có cơ sở xem xét chấp nhận một phần hay toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn hoặc xét công sức của ông David C4 (M) trong khối tài sản này.

Việc tòa án cấp sơ thẩm không đưa công ty TNHH N8, ông Mai Hữu T8 và những người chuyển nhượng quyền sử dụng đất cho bà C gồm: ông Trương T4, bà Lưu Thị N5, ông Trần Đức B1, bà Lương Vĩnh N2, ông Võ Văn Đ, bà Lê Thị G và ông Huỳnh Văn Đ1 vào tham gia tố tụng nhằm làm rõ thực tế số tiền giao dịch chuyển nhượng công ty TNHH N8 đã được ông C4 (M) và bà C sử dụng vào mục đích gì ? nguồn tiền để thanh toán các hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất, chi phí để xây dựng Villa nhà xưởng là của ai ? cần giám định ADN đối với Lê Trương Thanh D2 để xác định quan hệ huyết thống với ông David C4 (M) và bà C (có cơ sở xác định thừa kế). Vì vây, việc thu thập tài liệu, chứng cứ của Tòa án cấp sơ thẩm còn thiếu sót, vi phạm nghiêm trọng thủ tục tố tụng mà cấp phúc thẩm không thể khắc phục được nên cần thiết phải hủy bản án sơ thẩm để khắc phục những sai sót trên. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà Trương Mỹ L.

  • [6] Tại phiên tòa ngày hôm nay vị đại diện Viện kiểm sát cấp cao đề nghị chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn, chấp nhận kháng nghị của Viện Trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.

Về án phí dân sự phúc thẩm: do kháng cáo được chấp nhận nên bà Trương Mỹ L không phải chịu.

VÌ CÁC LẼ TRÊN;

QUYẾT ĐỊNH

Áp dụng khoản 3 Điều 308 của Bộ luật tố tụng dân sự 2015;

Căn cứ nghị nghị quyết 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội quy định về việc thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.

  1. Chấp nhận kháng cáo của nguyên đơn bà bà Trương Mỹ L (CHANG TIFFANY MEI LOAN);
  2. Chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại thành phố Hồ chí Minh.

    Hủy bản án dân sự sơ thẩm số 04/2021/KDTM-ST ngày 05/5/2021 về việc “Tranh chấp về thừa kế tài sản” của Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương và chuyển hồ sơ vụ án cho Tòa án cấp sơ thẩm giải quyết lại vụ án theo thủ tục sơ thẩm.

  3. Về án phí dân sự phúc thẩm: bà Trương Mỹ L (CHANG TIFFANY MEI LOAN) được hoàn lại 300.000đ theo biên lai thu số AA/2016/0054861 ngày 18-5-2021 của Cục thi hành án dân sự tỉnh Bình Dương.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Các thẩm phán

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phan Tô Ngọc

Phan Văn Yên

Vũ Ngọc Huynh

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - VKSND CC tại TP Hồ Chí Minh;
  • - Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương;
  • - VKSND tỉnh Bình Dương;
  • - Sở tư pháp tỉnh Bình Dương;
  • - Cục THADS tỉnh Bình Dương;
  • - Các đương sự (20);
  • - Lưu (VP 05, HS 01) (DTТР 32)
THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 568/2024/DS-PT ngày 25/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp về thừa kế tài sản

  • Số bản án: 568/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp về thừa kế tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 25/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: chấp nhận kháng cáo của NĐ, kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương, hủy bản án dân sự sơ thẩm, giao hồ sơ vụ án về cho Tòa án cấp sơ thẩm xét xử lại vụ án.
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger