|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
|
Bản án số: 568/2024/HS-ST Ngày: 14/11/2024 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Hoàng Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Phạm Văn Phước.
- Ông Võ Văn Lợi.
- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Nguyễn Văn D - Kiểm sát viên.
Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số 514/2024/HSST ngày 07 tháng 10 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 594/2024/QĐXXST-HS ngày 22 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:
Nguyễn Y T, sinh ngày 04/6/2005 tại tỉnh Bến Tre; CCCD: [...]; Nơi thường trú: Số A Đường số D, phường T, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 11/12; Giới tính: Nam; Nghề nghiệp: Công nhân; Cha: Nguyễn Thanh T1; Mẹ: Trần Thị Thanh H; Vợ, con: Chưa có. Tiền án, tiền sự: Không.
Bị cáo bị bắt tạm giam ngày 14/4/2024 (có mặt tại điểm cầu thành phần).
- Bị hại: Công ty cổ phần K;
Địa chỉ: Đường D Khu C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Đại diện theo ủy quyền: Chị Nguyễn Thị Thanh T2, sinh năm 1986;
Địa chỉ thường trú: A6 T, chung cư P, Đường số C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Anh Nguyễn Đức D1;
Địa chỉ: Nhà không số, Tổ F, Ấp C, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Y T (sinh ngày 04/6/2005) là công nhân tại xưởng sản xuất của Công ty cổ phần K (viết tắt: Công ty K) địa chỉ: Đường D khu C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh. Do không có tiền tiêu xài cá nhân, T này sinh ý định lấy trộm linh kiện sản phẩm là các thanh kim loại bằng đồng (là thành phẩm mới sản xuất) tại tầng 4 xưởng sản xuất của Công ty K đem bán lấy tiền tiêu xài. Vào tháng 9/2023, T đã nhiều lần lấy trộm các thanh đồng nêu trên, cụ thể:
Lần thứ nhất: Vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 15/9/2023, lợi dụng lúc đang giờ ăn trưa, T đi đến tầng 4 xưởng sản xuất của Công ty K rồi lấy trộm 04 thanh đồng kích thước (125x60x5 mm) bỏ vào túi quần. Sau đó T đi xuống sân, rồi ném 04 thanh đồng qua song sắt hàng rào đến bụi cỏ bên ngoài hàng rào công ty để cất giấu. Đến giờ tan làm, T đến bụi cỏ trên lấy 04 thanh đồng trộm cắp được đem đến bán cho một người phụ nữ (không rõ lai lịch) mua dạo phế liệu tại khu vực bãi đất trống (không rõ địa chỉ) trên đường N, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh với giá 130.000 (một trăm ba mươi nghìn) đồng và tiêu xài cá nhân hết số tiền này,
Lần thứ hai: Vào ngày 20/9/2023 (T không nhớ rõ thời gian), T tiếp tục lấy trộm 29 thanh đồng kích thước (125x60x5 mm) tại tầng 4 xưởng sả xuất, rồi đem ném qua song sắt hàng rào đến bụi cỏ bên ngoài hàng rào công ty C. Đến giờ tan làm, T đến bụi cỏ trên lấy 29 thanh đồng trộm cắp được đem đến tiệm phế liệu tại địa chỉ: nhà không số, tổ F, ấp C, xã L, huyện N, Thành phố Hồ Chí Minh bán cho anh Nguyễn Đức D1 với giá 1.338.000 (một triệu ba trăm ba mươi tám nghìn) đồng và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên.
Qua làm việc với Nguyễn Đức D1 anh D1 cho biết vào khoảng 15 giờ 30 phút ngày 24/9/2023 có mua lại 29 thanh kim loại từ một thanh niên không rõ lai lịch với giá 1.338.000 (một triệu ba trăm ba mươi tám nghìn) đồng. Anh D1 không biết các thanh kim loại trên là do trộm cắp mà có. Anh D1 đã giao lại 29 thanh kim loại trên cho Cơ quan Công an.
Lần thứ ba: Với thủ đoạn tương tự như trên, vào khoảng 12 giờ 00 phút ngày 28/9/2023, T tiếp tục lấy trộm 28 thanh đồng (gồm 16 thanh kích thước (125x60x5 mm), 06 thanh (125x80x5 mm), 06 thanh (178x60x5 mm) tại tầng 4 xưởng sản xuất, rồi đem ném qua song sắt hàng rào bên ngoài hàng rào công ty C.
Do phát hiện bị mất số lượng lớn các thanh kim loại nên Công ty K tiến hành trích xuất camera và ghi nhận hình ảnh Nguyễn Y T cầm vật giống thanh kim loại bỏ vào túi quần, sau đó đi ra khu vực hàng rào. Khoảng 13 giờ ngày 29/9/2023, chị Nguyễn Thị Thanh T2 (nhân viên bộ phận nhân sự của Công ty K) đến Công an phường L, thành phố T trình báo vụ việc trên. Khoảng 16 giờ 30 phút ngày 29/9/2023, Công an phường L, thành phố T mời T lên trụ sở để làm việc. Tại Cơ quan điều tra, Nguyễn Y T đã khai nhận toàn bộ hành vi như trên.
Kết quả định giá tài sản số 25-KV2/KLĐG-HĐĐGTS ngày 01/02/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố T, kết luận: 49 thanh đồng kích thước (125x60x5mm), trọng lượng mỗi thanh nặng 0.32 kg có giá trị 3.731.840 đồng; 06 thanh đồng kích thước (178x60x5mm), trọng lượng mỗi thanh nặng 0.48 kg có giá trị 685.440 đồng; 06 thanh đồng kích thước (125x80x5mm), trọng lượng mỗi thanh nặng 0.45 kg có giá trị 642.600 (sáu trăm bốn mươi hai nghìn sáu trăm) đồng. Tổng giá trị tài sản là 5.059.880 (năm triệu không trăm năm mươi chín nghìn tám trăm tám mươi) đồng.
* Vật chứng vụ án:
- - 01 điện thoại di động Iphone màu trắng (thu giữ của Nguyễn Y T)
- - 49 thanh đồng kích thước (125x60x5mm), trọng lượng mỗi thanh nặng 0.32 kg (trong đó: Thu hồi được 45 thanh đồng và 04 thanh đồng không thu hồi được); 06 thanh đồng kích thước (178x60x5mm), trọng lượng mỗi thanh nặng 0.48 kg; 06 thanh đồng kích thước (125x80x5mm), trọng lượng mỗi thanh nặng 0.45 kg.
Ngày 10/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 57 thanh đồng cho Đại diện theo ủy quyền của Công ty K - chị Nguyễn Thị Thanh T2 theo Giấy ủy quyền số 07-HN-Q9.
* Về trách nhiệm dân sự: Đại diện theo ủy quyền của Công ty K là chị Nguyễn Thị Thanh T2 đã nhận lại tài sản là 57 thanh đồng và không yêu cầu bồi thường 04 thanh đồng không thu hồi được mà T đã lấy trộm của công ty. Hội đồng xét xử ghi nhận.
Tại bản Cáo trạng số 473/CT-VKSTPTĐ ngày 25/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Nguyễn Y T về tội: “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa:
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức phát biểu ý kiến giữ nguyên quyết định truy tố bị cáo Nguyễn Y T về tội “Trộm cắp tài sản” và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017, xử phạt bị cáo Nguyễn Y T từ 09 (chín) tháng đến 01 (một) năm tù về tội “Trộm cắp tài sản”.
Bị cáo Nguyễn Y T thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội như nội dung bản cáo trạng của Viện kiểm sát đã truy tố, đồng ý với lời luận tội của Kiểm sát viên và mong hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt.
Bị cáo T nói lời sau cùng: Bị cáo biết hành vi của mình là vi phạm pháp luật. xin Hội đồng xét xử khoan hồng giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo để sớm trở về hòa nhập với cộng đồng và xã hội.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
Về thủ tục tố tụng: Bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa. Xét việc bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử chấp nhận xét xử vắng mặt bị hại và người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan.
Hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan cảnh sát điều tra Công an thành phố T, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục quy định của Bộ luật tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi và quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
Về nội dung:
[1]. Lời khai nhận tội của bị cáo Nguyễn Y T phù hợp với các tài liệu chứng cứ đã thu thập được, có căn cứ xác định: Do cần tiền tiêu xài cá nhân nên vào các ngày 15/9/2023, 20/9/2023 và ngày 28/9/2023 Nguyễn Y T đã lén lút thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của Công ty cổ phần K tại địa chỉ: Đường D Khu C, phường L, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh 04 thanh đồng kích thước (125x60x5 mm, trọng lượng mỗi thanh nặng 0.32 kg), 29 thanh đồng kích thước (125x60x5 mm, trọng lượng mỗi thanh nặng 0.32 kg), 16 thanh đồng kích thước (125x60x5 mm, trọng lượng mỗi thanh nặng 0.32 kg), 06 thanh đồng (125x80x5 mm, trọng lượng mỗi thanh nặng 0.45 kg) và 06 thanh đồng (178x60x5 mm, trọng lượng mỗi thanh nặng 0.48 kg). Tổng giá trị tài sản mà T chiếm đoạt là 5.059.880 (năm triệu không trăm năm mươi chín nghìn tám trăm tám mươi) đồng.
Hành vi của Nguyễn Y T đã phạm vào tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại Khoản 1 Điều 173 Bộ luật hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo Nguyễn Y T về tội danh nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
Đối với người phụ nữ (không rõ lai lịch) mua 04 thanh đồng của Nguyễn Y T, đề nghị Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T tiếp tục điều tra làm rõ.
Đối với anh Nguyễn Đức D1 không biết 29 (hai mươi chín) thanh đồng mà Nguyễn Y T bán cho anh D1 là tài sản do T trộm cắp được mà có nên không có căn cứ để xử lý hình sự.
[2]. Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo Nguyễn Y T thực hiện hành vi trộm cắp tài sản của Công ty cổ phần K (hai) lần trở lên. Đây là tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự “Phạm tội 02 lần trở lên” quy định tại điểm g khoản 1 Điều 52 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
[3]. Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử, bị cáo Nguyễn Y T thành khẩn khai báo, ăn năn, hối cải. Đây là tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017. Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt mà lẽ ra các bị cáo phải chịu.
[4]. Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi phạm tội của bị cáo đã xâm phạm đến quyền sở hữu tài sản của các cá nhân, gây mất trật tự trị an, bị cáo nhận thức được hành vi của mình là trái pháp luật nhưng vẫn cố tình thực hiện. Việc áp dụng hình phạt tù cách ly bị cáo ra khỏi đời sống xã hội một thời gian là cần thiết. Tuy nhiên, giá trị tài sản bị cáo chiếm đoạt không lớn, bị cáo có nhân thân tốt. Do đó Hội đồng xét xử áp dụng Điều 38, Điều 50 Bộ luật hình sự năm 2015, đã được sửa đổi bổ sung năm 2017 để đưa ra mức án phù hợp cho bị cáo, vừa đảm bảo tính nghiêm minh, vừa thể hiện tinh thần nhân đạo của pháp luật, tạo điều kiện cho bị cáo sửa chữa sai lầm, sớm được trở về với gia đình và xã hội.
[5]. Về trách nhiệm dân sự:
Đại diện theo ủy quyền của Công ty K là chị Nguyễn Thị Thanh T2 đã nhận lại tài sản là 57 thanh đồng, không yêu cầu bồi thường 04 thanh đồng không thu hồi được mà T đã lấy trộm của Công ty. Hội đồng xét xử ghi nhận.
[6]. Về vật chứng vụ án:
- - 01 điện thoại di động Iphone màu trắng. Xét thấy đây không phải là công cụ, phương tiện phạm tội nên cần hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Y T
- - 49 thanh đồng kích thước (125x60x5mm), trọng lượng mỗi thanh nặng 0.32 kg (Trong đó: Thu hồi được 45 thanh đồng và 04 thanh đồng không thu hồi được). 06 thanh đồng kích thước (178x60x5mm), trọng lượng mỗi thanh nặng 0.48 kg. 06 thanh đồng kích thước (125x80x5mm), trọng lượng mỗi thanh năng 0.45 kg. Ngày 10/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố T ra Quyết định xử lý vật chứng trả lại 57 thanh đồng cho Đại diện theo ủy quyền của Công ty K theo Giấy ủy quyền số 07-HN-Q9 là chị Nguyễn Thị Thanh T2. Hội đồng xét xử ghi nhận.
[7]. Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm.
[8]. Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- Về tội danh: Căn cứ Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tuyên bố bị cáo Nguyễn Y T phạm tội: “Trộm cắp tài sản”.
- Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51, điểm g khoản 1 Điều 52, Điều 38, Điều 50 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017.
Xử phạt bị cáo Nguyễn Y T 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 14/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017; Điều 106 Bộ luật tố tụng hình năm 2015:
Hoàn trả cho bị cáo Nguyễn Y T 01 điện thoại di động Iphone màu trắng.
(Theo Phiếu nhập kho số: NK25/085C ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh).
- Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015, Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo Nguyễn Y T phải chịu 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự:
Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; bị hại, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn kháng cáo là 15 ngày kể từ ngày bản án được giao hoặc được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
CÁC HỘI THẨM NHÂN DÂN |
THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
|
|
Phạm Văn Phước |
Võ Văn Lợi |
Hoàng Thị Thu |
Bản án số 568/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (hình sự sơ thẩm)
- Số bản án: 568/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Hình sự sơ thẩm)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 14/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Y T - Trộm cắp tài sản
