Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TỈNH BẾN TRE

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 568/2024/DS-PT

Ngày: 12/11/2024

“V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản”

NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên toà: Ông Lê Minh Đạt

Các Thẩm phán: Ông Lê Văn Phận; Ông Tôn Văn Thông

- Thư ký phiên toà: Bà Bùi Thị Thùy Dung, Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Bến Tre tham gia phiên tòa: Ông Phạm Công Có – Kiểm sát viên.

Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại Hội trường xét xử Toà án nhân dân tỉnh Bến Tre xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số: 324/2024/TLPT-DS ngày 01 tháng 10 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số: 131/2024/DS-ST ngày 19 tháng 8 năm 2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 3919/2024/QĐ-PT ngày 08 tháng 10 năm 2024; Thông báo về việc thay đổi thời gian mở phiên tòa số 4207/TB-TA ngày 28 tháng 10 năm 2024, giữa:

  1. Nguyên đơn: Bà Châu Thị Kim T, sinh năm: 1968. Địa chỉ: Số A N, khu phố B, phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre
  2. Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Phạm Đăng K, sinh năm: 1982. Địa chỉ: Số A, ấp Đ, xã T, huyện C, tỉnh Bến Tre (theo văn bản ủy quyền ngày 09/8/2024).

  3. Bị đơn: Bà Nguyễn Thị Thanh T1, sinh năm: 1977. Địa chỉ: Số C, khu phố A, phường E, thành phố B, tỉnh Bến Tre.
  4. Người kháng cáo: Bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo bản án sơ thẩm;

Tại đơn khởi kiện, bản tự khai, quá trình tố tụng và tại phiên tòa, người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn là ông Phạm Đăng K trình bày:

Bà Châu Thị Kim T và bà Nguyễn Thị Thanh T1 sống cùng địa phương, do quen biết nên bà T có cho bà T1 vay như sau:

Lần 1: Bà T cho bà T1 vay số tiền 170.000.000 đồng;

Lần 2: Bà T tiếp tục cho bà T1 vay số tiền 20.000.000 đồng.

Tổng cộng hai lần vay là 190.000.000 đồng; ngày 10/01/2023 bà T1 có viết biên nhận nợ số tiền 190.000.000 đồng cho bà T; hai bên thỏa thuận lãi suất là 20%/năm, thỏa thuận lãi suất vay bên ngoài không có ghi trong biên nhận nợ. Từ ngày viết biên nhận nợ, bà T1 có trả cho bà T tiền vốn vay là 50.000.000 đồng, số tiền bà T1 còn nợ lại bà T là 140.000.000 đồng.

Bà T yêu cầu bà T1 phải trả cho bà T số tiền vốn vay là 140.000.000 đồng; yêu cầu bà T1 tiếp tục trả lãi với lãi suất 20%/năm tính từ ngày 10/01/2023 đến ngày 19/8/2024 là 19 tháng với số tiền 44.422.000 đồng; về thời hạn và cách thức trả nợ như bà T1 yêu cầu thì bà T không đồng ý.

Bà T tự nguyện rút yêu cầu khởi kiện bà T1 đối với số tiền vốn vay 50.000.000 đồng.

Trong quá trình tố tụng và tại phiên tòa, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1 trình bày:

Bà thừa nhận nhiều lần vay tiền của bà T, đến ngày 10/01/2023 hai bên tổng kết lại số nợ là 190.000.000 đồng, về tiền lãi bà T trình bày không đúng. Từ ngày 10/01/2023 đến tháng 6/2023, bà có trả tiền lãi cho bà T mỗi tháng là 9.500.000 đồng. Đến tháng 6/2023 bà có trả tiền vốn vay cho bà T 50.000.000 đồng nên từ tháng 7/2023 đến 11/2023 bà có trả cho bà T tiền lãi mỗi tháng là 7.500.000 đồng. Từ tháng 12/2023 cho đến nay bà không có khả năng trả lãi tiếp. Bà xác nhận hiện nay còn nợ bà T số tiền vốn gốc 140.000.000 đồng. Đối với việc bà trả vốn gốc 50.000.000 đồng và tiền lãi hàng tháng cho bà T, hai bên không làm giấy tờ nên bà không thể cung cấp cho Tòa án.

Qua yêu cầu khởi kiện của bà T thì bà đồng ý trả cho bà T số tiền 140.000.000 đồng, do hiện nay bà gặp khó khăn thu nhập không ổn định, không có tài sản nào khác nên bà xin trả dần mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi hết nợ. Đối với số tiền lãi bà T yêu cầu do gia đình bà quá khó khăn nên bà xin không trả lãi.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre đã quyết định:

Căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 217, 218, 244, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Các điều 463, 466, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015; Điều 26 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Kim T về việc khởi kiện bà Nguyễn Thị Thanh T1 đối với số tiền vay 50.000.000 đồng.
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện tiền lãi của bà Châu Thị Kim T với số tiền 22.264.200 đồng.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Kim T. Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T1 có trách nhiệm trả cho bà Châu Thị Kim T số tiền 162.157.800 đồng (trong đó vốn vay là 140.00.000 đồng, nợ lãi là 22.157.800 đồng).

Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về án phí dân sự sơ thẩm, quyền kháng cáo của các đương sự, quyền yêu cầu thi hành án.

Ngày 29/8/2024, bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1 kháng cáo một phần bản án sơ thẩm, yêu cầu cấp phúc thẩm xem xét lại về phần lãi suất, khấu trừ số tiền lãi đã đóng vào phần vốn hoặc trừ vào phần lãi mà bà T1 có nghĩa vụ phải trả tiếp cho bà T.

Tại phiên tòa phúc thẩm, bị đơn giữ nguyên kháng cáo nêu trên và có bổ sung nội dung kháng cáo về việc yêu cầu xin được trả dần số tiền nợ gốc mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn không đồng ý với kháng cáo của bị đơn, yêu cầu giữ nguyên bản án sơ thẩm.

Kiểm sát viên phát biểu:

Về tố tụng: Hội đồng xét xử phúc thẩm và đương sự đã thực hiện đầy đủ các quyền và nghĩa vụ theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.

Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn, giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số số 131/2024/DS-ST ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra công khai tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa, xét kháng cáo của bị đơn, đề nghị của đại diện Viện kiểm sát tham gia phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:

[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1 còn trong thời hạn luật định nên được Tòa án nhân dân tỉnh Bến Tre tiến hành thụ lý, giải quyết theo thủ tục phúc thẩm theo quy định tại Điều 285, Điều 293 của Bộ luật Tố tụng dân sự.

[2] Về nội dung:

[2.1] Đối với số tiền nợ gốc bà T yêu cầu bà T1 phải trả là 140.000.000 đồng đã được Tòa án cấp sơ thẩm xem xét giải quyết. Các đương không kháng cáo, Viện kiểm sát không kháng nghị nội dung này nên Hội đồng xét xử không xem xét lại theo thủ tục phúc thẩm.

[2.2] Xét kháng cáo của bà T1 về nghĩa vụ trả lãi, thấy rằng:

Bà T1 cho rằng đã đóng cho bà T số tiền lãi từ ngày 11/9/2021 đến ngày 30/6/2023 là 9.500.000 đồng/tháng (trên số tiền nợ 190.000.000 đồng) và từ ngày 30/6/2023 đến ngày 30/11/2023 là 7.000.000 đồng/tháng (trên số tiền nợ 140.000.000 đồng), việc đóng lãi không lập thành giấy tờ và bà T1 không có tài liệu, chứng cứ chứng minh cho lời trình bày của mình là có căn cứ, trong khi bà T cũng như người đại diện theo ủy quyền của bà T không thừa nhận. Vì vậy, không có cơ sở chấp nhận lời trình bày của bà T1 về việc đã đóng tiền lãi cho bà T.

Hội đồng xét xử xét thấy, mặc dù tại Biên nhận lập ngày 10/01/2023 không có nội dung thỏa thuận về thời hạn vay cũng như việc cho vay có tính lãi, nhưng căn cứ vào lời trình bày của các bên, cụ thể: Bà T trình bày cho bà T1 vay tiền với mức lãi suất thỏa thuận là 20%/năm, còn theo bà T1 thì mức lãi suất vay là 60%/năm, cả hai bên đương sự đều không có chứng cứ chứng minh về mức lãi suất vay. Tuy nhiên, qua lời trình bày nêu trên của các bên, có cơ sở xác định giữa bà T với bà T1 tồn tại hợp đồng vay tài sản không kỳ hạn và có lãi.

Tại khoản 2 Điều 468 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “Trường hợp các bên có thỏa thuận về việc trả lãi, nhưng không xác định rõ lãi suất và có tranh chấp về lãi suất thì lãi suất được xác định bằng 50% mức lãi suất giới hạn quy định tại khoản 1 Điều này tại thời điểm trả nợ”, tức lãi suất được xác định là 10%/năm của khoản tiền vay.

Như vậy, cấp sơ thẩm giải quyết buộc bà T1 có nghĩa vụ trả lãi cho bà T từ ngày lập biên nhận nợ (ngày 10/01/2023) đến ngày xét xử sơ thẩm (ngày 19/8/2024) với mức lãi suất 10%/năm (tương đương 0,83%/tháng) với số tiền là 22.157.800 đồng (được tính như sau: 140.000.000 đồng x 8,83%/tháng x 19 tháng = 22.157.800 đồng) là phù hợp với quy định của pháp luật như đã viện dẫn nêu trên.

[2.3] Đối với yêu cầu của bà T1 về việc xin được trả dần số tiền nợ gốc mỗi tháng 1.000.000 đồng cho đến khi dứt nợ: Xét yêu cầu này của bà T1 không được phía bà T chấp nhận, không phù hợp với quy định tại khoản 1 Điều 466 Bộ luật Dân sự nên Hội đồng xét xử không chấp nhận.

Bị đơn kháng cáo nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh cho kháng cáo của mình là có căn cứ nên không được chấp nhận.

Từ những nhận định và căn cứ trên, không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1; giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số

131/2024/DS-ST ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

[3] Xét đề nghị của Kiểm sát viên tham gia phiên tòa phù hợp với quan điểm của Hội đồng xét xử nên chấp nhận.

[4] Án phí dân sự phúc thẩm: Do kháng cáo không được chấp nhận nên bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải chịu án phí nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;

Không chấp nhận kháng cáo của bị đơn bà Nguyễn Thị Thanh T1.

Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 131/2024/DS-ST ngày 19/8/2024 của Tòa án nhân dân thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Cụ thể tuyên:

Áp dụng các điều 463, 466, 357, 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015;

Căn cứ vào Điều 26; khoản 1 Điều 35; điểm a khoản 1 Điều 39; các điều 147, 217, 218, 244, 266 của Bộ luật Tố tụng dân sự; Điều 26 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí, lệ phí của Tòa án.

Tuyên xử:

  1. Đình chỉ một phần yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Kim T về việc khởi kiện bà Nguyễn Thị Thanh T1 đối với số tiền vay 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng.
  2. Không chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện về tiền lãi của bà Châu Thị Kim T với số tiền 22.264.200 (hai mươi hai triệu hai trăm sáu mươi bốn nghìn hai trăm) đồng.
  3. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Châu Thị Kim T về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” với bà Nguyễn Thị Thanh T1.
  4. Buộc bà Nguyễn Thị Thanh T1 có trách nhiệm giao trả cho bà Châu Thị Kim T số tiền 162.157.800 (một trăm sáu mươi hai triệu một trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm) đồng, trong đó tiền nợ vay là 140.00.000 (một trăm bốn mươi triệu) đồng và nợ lãi là 22.157.800 (hai mươi hai triệu một trăm năm mươi bảy nghìn tám trăm) đồng.

    Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành án (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên phải

thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015, trừ trường hợp pháp luật có quy định khác.

  1. Án phí dân sự sơ thẩm có giá ngạch:
  2. Bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải nộp 8.107.890 (tám triệu một trăm lẻ bảy nghìn tám trăm chín mươi) đồng tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

    Bà Châu Thị Kim T phải nộp 1.113.210 (một triệu một trăm mười ba nghìn hai trăm mười) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 5.938.000 (năm triệu chín trăm ba mươi tám nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002589 ngày 06/6/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre phải hoàn lại cho bà Châu Thị Kim T số tiền 4.824.790 (bốn triệu tám trăm hai mươi bốn nghìn bảy trăm chín mươi) đồng.

  3. Án phí dân sự phúc thẩm: Bà Nguyễn Thị Thanh T1 phải chịu 300.000 (ba trăm nghìn) đồng nhưng được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 (ba trăm nghìn) đồng theo biên lai thu số 0002785 ngày 29/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Bến Tre, tỉnh Bến Tre.

Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7, 7a, 7b và 9 của Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND cấp cao tại TP.HCM;
  • - VKSND tỉnh Bến Tre;
  • - TAND TP. Bến Tre;
  • - Chi cục THADS TP. Bến Tre;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: Hồ sơ vụ án, VP, P. KTNV&THA.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Lê Minh Đạt

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 568/2024/DS-PT ngày 12/11/2024 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE về tranh chấp hợp đồng vay tài sản

  • Số bản án: 568/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 12/11/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN TỈNH BẾN TRE
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản giữa Châu Thị Kim T - Nguyễn Thị Thanh T1
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger