Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

HUYỆN HÓC MÔN

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Bản án số: 568/2025/HNGĐ-ST

Ngày: 28-5-2025

Về việc: Ly hôn

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Văn Mai

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Lê Thanh Loan
  2. Bà Nguyễn Thị Kim Liên

- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Thị Vui - Thư ký Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn tham gia phiên tòa: Bà Phùng Thị Ngọc Duyên - Kiểm sát viên.

Ngày 28 tháng 5 năm 2025, tại Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số 1605/2024/TLST-HNGĐ ngày 13 tháng 11 năm 2024 về việc “Ly hôn”, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 44/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 04 tháng 3 năm 2025, Quyết định hoãn phiên tòa số 81/2025/QĐST-HNGĐ ngày 01 tháng 4 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên toà số 119/2025/QĐST-HNGĐ ngày 08 tháng 5 năm 2025, giữa các đương sự:

Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị Bích T, sinh năm 1981;

Địa chỉ thường trú: A ấp T, xã T, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (có mặt).

Bị đơn: Ông Lê Hỷ N (Lê Hỹ N1), sinh năm 1977;

Địa chỉ thường trú: 3/20 ấp A (nay là ấp C), xã Đ, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh (vắng mặt).

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện và trong quá trình giải quyết vụ án cũng như tại phiên tòa, nguyên đơn bà Nguyễn Thị Bích T trình bày:

Bà và ông Lê Hỷ N tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01/2004 do UBND xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/02/2004.

Trong quá trình giải quyết vụ án, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn do ông N không có trách nhiệm với gia đình, có người phụ nữ khác bên ngoài, nhiều lần xúc phạm, đánh đập vợ dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống không có hạnh phúc. Bà đã nhiều lần góp ý nhưng ông N không thay đổi. Hai vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau và đã sống ly thân từ năm 2019-2020 đến nay.

Nay bà không thể duy trì mối quan hệ hôn nhân và không thể tiếp tục chung sống với ông N, mục đích hôn nhân không đạt được nên bà yêu cầu được ly hôn với ông N.

Về con chung: Trong thời kỳ hôn nhân với ông N, bà và ông N có 02 con chung tên Lê Nguyễn Bảo T1, sinh năm 2004 (đã trưởng thành) và Lê Nguyễn L sinh ngày 18/11/2013. Hiện nay, hai con chung đang sống với bà. Sau khi ly hôn, bà yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.

Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu Toà án giải quyết.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân huyện Hóc Môn phát biểu quan điểm:

Về thủ tục tố tụng: Những người tiến hành và tham gia tố tụng đều tuân thủ đúng những quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.

Về nội dung vụ án: Bà T và ông N là vợ chồng hợp pháp từ năm 2004. Trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh mâu thuẫn. Nguyên nhân do ông N không có trách nhiệm với gia đình, có hành vi xúc phạm, bạo hành bà T. Bà T và ông N đã sống ly thân từ năm 2019-2020 đến nay. Hai vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông N. Về con chung: Có 02 con chung tên Lê Nguyễn Bảo T1, sinh năm 2004 (đã trưởng thành) và Lê Nguyễn L sinh ngày 18/11/2013. Hiện nay, hai con chung đang sống với bà T. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L, cháu L cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Để đảm bảo sự phát triển ổn định cho cháu L cũng như xét yêu cầu của bà T, nguyện vọng của cháu L được sống với mẹ là phù hợp, đề nghị Hội đồng xét xử giao cháu L cho bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng. Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết. Về tài sản chung, nợ chung: Không yêu cầu giải quyết.

Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ, vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng tại phiên tòa:

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

[I] Về thủ tục tố tụng:

[1] Về quan hệ tranh chấp: Quan hệ tranh chấp giữa bà T và ông N là tranh chấp về việc “ly hôn” được quy định tại khoản 1 Điều 28 Bộ luật tố tụng dân sự nên thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án; ông N có nơi cư trú tại huyện H nên vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn theo quy định tại điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật tố tụng dân sự.

[2] Về thủ tục niêm yết, tống đạt văn bản tố tụng: Tòa án đã tống đạt, niêm yết hợp lệ Thông báo thụ lý vụ án, Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, Quyết định xét xử, Quyết định hoãn phiên tòa, Giấy triệu tập cho bà T và ông N. Tại phiên tòa, bà T có mặt, ông N vắng mặt không rõ lý do. Căn cứ Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015, Tòa án vẫn tiến hành xét xử vụ án.

[II] Về nội dung vụ án:

[1] Về quan hệ hôn nhân: Bà T và ông N tự nguyện chung sống và có đăng ký kết hôn. Căn cứ Giấy chứng nhận kết hôn số 17, quyển số 01/2004 do UBND xã N, huyện H, Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 23/02/2004, có đủ cơ sở xác định, bà T và ông N là vợ chồng hợp pháp.

Xét yêu cầu ly hôn của bà T đối với ông N: Trong quá trình giải quyết vụ án, Tòa án đã tống đạt hợp lệ Thông báo về phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải theo quy định nhằm tạo điều kiện để bà T và ông N hòa giải, đoàn tụ nhưng bà T vẫn giữ nguyên yêu cầu ly hôn với ông N, ông N vắng mặt không rõ lý do. Bà T trình bày trong quá trình chung sống, vợ chồng phát sinh nhiều mâu thuẫn. Nguyên nhân là do ông N không có trách nhiệm với gia đình, có người phụ nữ khác bên ngoài, nhiều lần xúc phạm, đánh đập bà T dẫn đến vợ chồng mâu thuẫn, cãi vã, cuộc sống không có hạnh phúc. Bà T đã cố gắng hàn gắn nhưng ông N không thay đổi. Hai vợ chồng đã sống ly thân từ năm 2019-2020 đến nay. Xét thấy, mâu thuẫn vợ chồng giữa bà T và ông N đã trầm trọng, vợ chồng không còn yêu thương, quan tâm, chăm sóc nhau, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà T về việc ly hôn với ông N.

[2] Về con chung: Bà T xác định trong thời kỳ hôn nhân với ông N, vợ chồng ông bà có 02 con chung tên Lê Nguyễn Bảo T1, sinh năm 2004 (đã trưởng thành) và Lê Nguyễn L sinh ngày 18/11/2013. Hiện nay, hai con chung đang sống với bà T. Sau khi ly hôn, bà T yêu cầu được nuôi dưỡng cháu L, cháu L cũng có nguyện vọng được sống chung với mẹ. Để đảm bảo sự phát triển ổn định về thể chất và tinh thần cho cháu L cũng như xét yêu cầu của bà T, nguyện vọng của cháu L được sống với mẹ là phù hợp, Hội đồng xét xử giao cháu L cho bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

[3] Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Tòa án giải quyết. Do đó, Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.

[4] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu án phí theo quy định pháp luật.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Áp dụng khoản 1 Điều 28, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 và Điều 227, 228 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;

Áp dụng Điều 56, 58, 81, 82, 83, 84 Luật hôn nhân và gia đình năm 2014;

Áp dụng Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:

Tuyên xử:

  1. Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị Bích T được ly hôn với ông Lê Hỷ N.
  2. Về con chung: Bà T và ông N có 02 con chung tên Lê Nguyễn Bảo T1, sinh năm 2004 (đã trưởng thành) và Lê Nguyễn L sinh ngày 18/11/2013.

    Giao cháu Lê Nguyễn L cho bà T được quyền trực tiếp nuôi dưỡng.

    Về cấp dưỡng nuôi con: Hai bên tự thoả thuận, không yêu cầu giải quyết.

    Vì lợi ích của con chung, bên không trực tiếp nuôi con có quyền thăm nom, chăm sóc, giáo dục con chung, không ai được cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến quyền này. Khi cần thiết, một hoặc cả hai bên có quyền yêu cầu Tòa án giải quyết thay đổi người nuôi con cũng như việc cấp dưỡng nuôi con.

  3. Về tài sản chung, nợ chung: Bà T không yêu cầu Toà án giải quyết.
  4. Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà T phải chịu 300.000 đồng án phí ly hôn, được cấn trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số 0047468 ngày 13/11/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Hóc Môn (đã nộp đủ).
  5. Nguyên đơn (có mặt) được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, bị đơn (vắng mặt) được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc kể từ ngày niêm yết bản án.
  6. Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự, thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

Nơi nhận:

  • - TAND TP. HCM;
  • - VKSND huyện Hóc Môn;
  • - Chi cục THADS huyện Hóc Môn;
  • - Cơ quan thực hiện ĐKKH;
  • - Các đương sự;
  • - Lưu: VP, hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Mai

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 568/2025/HNGĐ-ST ngày 28/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn

  • Số bản án: 568/2025/HNGĐ-ST
  • Quan hệ pháp luật: Ly hôn
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 28/05/2025
  • Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN HUYỆN HÓC MÔN, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: ly hôn
Tải về bản án
Trò chuyện với Luật sư Hải A.I
Luật sư Hải A.I
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger