TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 567/2024/HS-ST.
Ngày: 24-10-2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Nhàn.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Trần Văn Chánh;
- Ông Phan Anh Dũng.
Thư ký phiên tòa: Ông Trần Trọng Duy - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Ông Đặng Xuân Toàn - Kiểm sát viên.
Ngày 24 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 588/TLST-HS ngày 08 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 573/2024/QĐXXST-HS ngày 10 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Họ và tên: Nguyễn Thành Đ, sinh ngày 24 tháng 6 năm 2004 tại tỉnh Trà Vinh; Nơi đăng ký HKTT: Tổ A, khu phố D, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không. Trình độ học vấn: 9/12; nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Văn T và Hứa Thị T1; Bị cáo là con duy nhất trong gia đình; Bị cáo chưa có vợ con.
Tiền án, tiền sự: Không;
Nhân thân: Ngày 10/5/2022 bị Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xử phạt 04 tháng cải tạo không giam giữ về tội “Cố ý gây thương tích” theo bản án số 188/2022/HS-ST. Bị cáo đã chấp hành xong bản án và đã được xóa án tích.
Bị cáo đầu thú và bị tạm giữ ngày 30/4/2024 đến ngày 09/5/2024 thì chuyển tạm giam đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại nhà tạm giữ thuộc Công an thành phố B;
- Bị hại: Anh Đào Thanh H, sinh năm: 2001.
- Địa chỉ: A, khu phố A, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo Đ có mặt, bị hại Hào vắng mặt tại phiên tòa)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Nguyễn Thành Đ là đối tượng không có nghề nghiệp, có nhân thân xấu (bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích”, đã xóa án tích), nay lại thực hiện hành vi “Cướp tài sản” như sau:
Do cần tiền tiêu xài nên Đ nảy sinh ý định đi đến cửa hàng T2 để chiếm đoạt tài sản. Khoảng 00 giờ ngày 30/4/2024, Đ lấy từ trong nhà của mình 01 con dao dài khoảng 20cm cán nhựa màu vàng (loại dao thái lan) cất giấu vào túi quần rồi đi bộ đến xưởng nước đá tại khu phố B, phường A, thành phố B để gặp bạn là Nguyễn Quang Bảo P, sinh năm: 2003 ngụ tại phường A, thành phố B và mượn chiếc xe mô tô nhãn hiệu yamaha Taurus, biển số 39F1-2123 của P nói đi mua đồ ăn. Sau đó, Đ điều khiển xe đến cửa hàng T2 thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai rồi dựng xe bên hông và đi bộ vào trong cửa hàng. Đ đi lòng vòng trong cửa hàng G tìm mua đồ. Khi thấy khách đã ra về hết, tại cửa hàng chỉ còn anh Đào Thanh H, sinh năm: 2001, ngụ tại: khu phố A, phường T, thành phố B, là nhân viên đang bán hàng tại quầy, Đ đi đến quầy tính tiền đứng quan sát rồi rút dao thái lan ra hướng về phía anh H đe dọa “Có tiền không đưa đây”, anh H sợ hãi lùi về phía góc quầy cách vị trí đứng bán hàng khoảng 04m, thì Đ tiến vào trong quầy tính tiền để lấy tiền tại quầy nhưng tiền bán hàng anh H bỏ trong hộc tủ được khóa nên Đ không lấy được. Đ đi ra phía ngoài quầy đứng cách anh H khoảng 1m rồi đưa dao lên tiếp tục đe dọa yêu cầu anh H đưa tiền nhưng anh H không đưa thì Đ tiếp tục cầm dao đi vào trong quầy rồi tiến về phía anh H. Do sợ bị Đ đâm nên anh H liền nhảy lên trên quầy bán hàng để chạy ra bên ngoài cửa thì Đ chạy ra bên ngoài quầy hướng về phía anh H. Lúc này anh H nhảy xuống tiếp tục đứng trong quầy còn Đ ở bên ngoài quầy. Đ giơ dao lên yêu cầu anh H đưa tiền thì anh H lấy điện thoại gọi cho quản lý cửa hàng là chị Thân Thị Thúy V, sinh năm 2001 để nhờ chị V trình báo Cơ quan Công an. Đ sợ bị Cơ quan Công an bắt giữ nên bỏ đi, sau đó Đ nhờ P chở về nhà Đ. Trên đường về ngang cầu Ô thuộc khu phố B, Phường A, thành phố B, Đ ném con dao xuống suối để phi tang.
Sau khi tiếp nhận thông tin vụ việc, qua rà soát Công an phường A, thành phố B xác định được Nguyễn Thành Đ là đối tượng có liên quan đến vụ án. Khi biết hành vi của mình đã bị lộ, cùng ngày 30/4/2024, Đ đến Công an Phường A đầu thú.
Vật chứng của vụ án:
- 01 USB chứa dữ liệu điện tử ghi hình vụ “Cướp tài sản”, lưu cùng hồ sơ.
- 01 (Một) áo khoác màu đen có mũ áo, khoá kéo, dài tay, phần ngực áo trái có chữ adidas, phần lưng áo phía trên dưới cổ áo có chữ adidas. Đây là trang phục Đ mặc trên người khi thực hiện hành vi cướp tài sản.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, biển số 39F1-2123, số máy: 058637, số khung: 058632; là tài sản của anh Nguyễn Quang Đ1 (chú ruột của Nguyễn Quang Bảo P) cho P mượn làm phương tiện đi lại. Anh Đ1 không biết Nguyễn Thành Đ sử dụng xe trên vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh Nguyễn Quang Đ1.
- 01 (Một) con dao thái lan Đ1 sử dụng làm hung khí gây án, Đ1 đã ném xuống suối, Cơ quan điều tra không thu giữ được.
Về dân sự: Bị hại anh Đào Thanh H không yêu cầu bồi thường.
Tại Cáo trạng số: 578/CT-VKSBH ngày 03/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đã truy tố:
- Nguyễn Thành Đ về tội “Cướp tài sản” theo quy định tại điểm d khoản 2 Điều 168 Bộ luật Hình sự.
- Tại phiên tòa, đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị:
- Áp dụng điểm d Khoản 2, Điều 168 và điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38, của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ từ 07 đến 08 năm tù;
- Lời nói sau cùng: Bị cáo ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình và xin giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về tố tụng:
Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại, và những người tham gia tố tụng khác không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng.
Bị hại anh Đào Thanh H đã được triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Anh H đã có lời khai đầy đủ tại hồ sơ nên việc vắng mặt anh H không ảnh hưởng đến việc xét xử, Tòa án xét xử vắng mặt theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự.
[2] Về hành vi bị truy tố và tội danh:
- Những chứng cứ xác định có tội: Tại phiên tòa cũng như quá trình điều tra, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, biên bản lấy lời khai bị hại, người làm chứng, kết luận định giá tài sản, cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra tại phiên tòa. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:
Khoảng 00 giờ ngày 30/4/2024, tại cửa hàng T2 thuộc khu phố A, phường A, thành phố B, tỉnh Đồng Nai, Nguyễn Thành Đ có hành vi sử dụng vũ khí nguy hiểm là con dao thái lan, ngay tức khắc đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản của anh Đào Thanh H là nhân viên của cửa hàng. Khi chưa chiếm đoạt được tài sản, do lo sợ anh H nhờ quản lý của của hàng báo công an nên Đ đã bỏ đi. Sau đó, chị Thân Thị Thúy V1 là quản lý của cửa hàng đã trình báo sự việc với cơ quan công an. Khi biết hành vi của mình đã bị lộ, cùng ngày 30/4/2024, Đ đến Công an Phường A đầu thú.
Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội “Cướp tài sản” quy định tại điểm d khoản 2, Điều 168 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).
Như vậy, bản Cáo trạng số 578/CT-VKSBH ngày 03/10/2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo Nguyễn Thành Đ về tội “Cướp tài sản” theo các điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.
[3] Về các tình tiết liên quan đến việc quyết định hình phạt:
- Xét tính chất mức, độ nghiêm trọng của hành vi phạm tội và lỗi: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã trực tiếp xâm hại đến quyền sở hữu tài sản và quyền nhân thân của người bị hại được Nhà nước bảo vệ, gây ảnh hưởng đến trật tự trị an tại địa phương, gây tâm lý hoang mang, lo sợ trong quần chúng nhân dân. Bản thân bị cáo là người trưởng thành, có nhân thân xấu (bị kết án về tội “Cố ý gây thương tích”, đã xóa án tích), bị cáo biết rõ việc chiếm đoạt tài sản của người khác là vi phạm pháp luật nhưng do lười lao động, cần tiền tiêu xài, Đ đã có hành vi dùng dao đe dọa nhằm chiếm đoạt tài sản của người khác ngay tức khắc. Vì vậy, cần phải có hình phạt nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo để cải tạo, giáo dục răn đe và phòng ngừa chung.
- Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.
- Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Trong quá trình điều tra, truy tố, xét xử, bị cáo có thái độ thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã ra đầu thú nên được hưởng các tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017). Vì vậy, cần xem xét giảm nhẹ một phần hình phạt cho bị cáo.
Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự, nhân thân của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo Nguyễn Thành Đ để đảm bảo sự nghiêm minh, khoan hồng của pháp luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung.
[4] Về hình phạt bổ sung:
Xét thấy bị cáo là người không có nghề nghiệp nên hội đồng xét xử không áp dụng hình phạt bổ sung với bị cáo.
[5] Về vật chứng:
- 01 USB chứa dữ liệu điện tử ghi hình vụ “Cướp tài sản”, lưu cùng hồ sơ.
- Trả lại cho bị cáo Đ: 01 (Một) áo khoác màu đen có mũ áo, khoá kéo, dài tay, phần ngực áo trái có chữ adidas, phần lưng áo phía trên dưới cổ áo có chữ adidas. Đây là trang phục Đ mặc trên người khi thực hiện hành vi cướp tài sản.
- 01 (Một) xe mô tô nhãn hiệu Yamaha Taurus, biển số 39F1-2123, số máy: 058637, số khung: 058632; là tài sản của anh Nguyễn Quang Đ1 (chú ruột của Nguyễn Quang Bảo P) cho P mượn làm phương tiện đi lại. Anh Đ1 không biết Nguyễn Thành Đ sử dụng xe trên vào mục đích phạm tội nên Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại xe cho anh Nguyễn Quang Đ1 là đúng theo quy định.
- 01 (Một) con dao thái lan Đ1 sử dụng làm hung khí gây án, Đ1 đã ném xuống suối, Cơ quan điều tra không thu giữ được.
[6] Trách nhiệm bồi thường thiệt hại về dân sự:
Bị hại anh Đào Thanh H không yêu cầu bồi thường nên không xem xét;
[7] Về án phí: Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải nộp 200.000 đồng án phí hình sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.
[8] Về vấn đề khác:
Đối với Nguyễn Quang Bảo P cho Đ mượn xe mô tô biển số 39F1-2123, nhưng không biết Đ sử dụng xe đi phạm tội. P không biết Đ thực hiện hành vi “Cướp tài sản” nên không có căn cứ xử lý hình sự.
[9] Nhận định về phần trình bày của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng tại phiên tòa:
- Đối với phần trình bày của Kiểm sát viên: Cáo trạng truy tố bị cáo về tội danh nêu trên và đề nghị mức hình phạt phù hợp nên được chấp nhận.
- Đối với nói sau cùng của bị cáo được Hội đồng xét xử xem xét khi nghị án.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH
- Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thành Đ phạm tội "Cướp tài sản".
- Về điều luật áp dụng và xử phạt:
- - Áp dụng điểm d khoản 2 Điều 168; điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
- - Xử phạt bị cáo Nguyễn Thành Đ 07 (bảy) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 30/4/2024.
- Về xử lý vật chứng: Áp dụng Điều 47 Bộ luật hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017); Điều 106 Bộ luật tố tụng hình sự năm 2015.
- - Trả lại cho bị cáo Đ: 01 (Một) áo khoác màu đen có mũ áo, khoá kéo, dài tay, phần ngực áo trái có chữ adidas, phần lưng áo phía trên dưới cổ áo có chữ adidas. Đây là trang phục Đ mặc trên người khi thực hiện hành vi cướp tài sản.
- Vật chứng này hiện lưu giữ tại Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, theo biên bản giao nhận vật chứng, tài sản ngày 04/10/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 135 và khoản 2 Điều 136 Bộ luật tố tụng hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
- Buộc bị cáo Nguyễn Thành Đ phải chịu 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm.
- Về quyền kháng cáo: Áp dụng Điều 331, Điều 333 Bộ Luật Tố tụng hình sự: Bị cáo Nguyễn Thành Đ được quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án; Bị hại anh Đào Thanh H được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Thị Nhàn |
Bản án số 567/2024/HS-ST ngày 24/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự (cướp tài sản)
- Số bản án: 567/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự (Cướp tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 24/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Nguyễn Thành Đ “Cướp tài sản”
