|
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
|
Bản án số: 567/2024/HS-PT Ngày 17 tháng 7 năm 2024 |
|
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Điều Văn Hằng.
Các Thẩm phán: Ông Phùng Hải Hiệp;
Bà Đặng Thị Thơm.
- Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Ông Ngô Cảnh Duy, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội tham gia phiên tòa: Ông Vũ Quang Huy, Kiểm sát viên cao cấp.
Ngày 17 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, Tòa án nhân dân cấp cao tại Hà Nội xét xử phúc thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 442/2024/TLPT-HS ngày 22 tháng 4 năm 2024 do có kháng cáo của bị cáo, đại diện hợp pháp của bị hại; kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đối với Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An.
Họ và tên: Nguyễn Hữu Đ; Tên gọi khác: không; Sinh ngày 10/12/1994, tại huyện T, tỉnh Nghệ An; Nơi cư trú: thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Trình độ văn hóa: 12/12; Nghề nghiệp: Lao động tự do; Dân tộc: Kinh; Giới tính: Nam; Tôn giáo: Không; Quốc tịch: Việt Nam; Con ông: Nguyễn Hữu P, sinh năm 1968 và bà: Trần Thị H, sinh năm 1969; Đều trú tại xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An; Vợ, con: Chưa; A, em ruột có 04 người (bị cáo là con thứ 2); Tiền án, tiền sự: Không. Bị can bị tạm giữ, tạm giam tại Trại tạm giam Công an tỉnh N từ ngày 21/9/2023 cho đến nay. Có mặt.
- Người bào chữa cho bị cáo Nguyễn Hữu Đ: Luật sư Nguyễn Thị Thúy K, thuộc Văn phòng L, Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
- Đại diện hợp pháp của bị hại có kháng cáo: Bà Trần Thị T, sinh năm 1957 và chị Hoàng Thị T1, sinh năm 1992; cùng địa chỉ: Thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Có mặt.
- Người bảo vệ quyền, lợi ích hợp pháp cho bà Hoàng Thị T1: Luật sư Trịnh Thị Hoài T2, thuộc Văn phòng L1, Đoàn luật sư tỉnh N. Có mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 21 giờ 30 phút, ngày 20/09/2023 anh Hoàng Văn Đ1, sinh năm 1995; anh Trần Văn H1, sinh năm 1994 đều trú tại thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và anh Hoàng Văn T3, sinh năm 1994, trú tại thôn S, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (là em vợ của anh Đ1) đến chơi tại quán bi-a “Phi Long” của gia đình chị Trịnh Thị H2, thuộc thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An. Lúc này, tại quán bi-a “Phi Long” gồm có Nguyễn Hữu Đ, Nguyễn Hữu T4, sinh năm 1986; Hoàng Văn H3, sinh năm 1985; Lê Quang H4. sinh năm 1988; Lê Ngọc S, sinh năm 1996; Trịnh Văn Q, sinh năm 1994 đều trú tại thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An và anh Đoàn Văn T5, sinh năm 1996 trú tại thôn P, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An đang cùng chơi bi a tại quán.
Sau khi đến quán bi-a “Phi Long”, Hoàng Văn T3 rủ Nguyễn Hữu Đ đánh B-a. Đ nói với anh T3 “chấp thì đánh chứ đánh ngang không đánh được”. Anh T3 nói “chấp mi năm lá” và Đ đã đồng ý đánh B-a với anh T3. Anh Hoàng Văn Đ1 nghe thấy anh T3 và Đ chấp cược “năm lá” bi a với nhau nên đã ngăn cản. Anh Đ1 nói với Đ “đánh ngang thì đánh, mi khôn lúc mô cũng muốn người khác chấp...”. Sau đó, giữa anh Đ1 với Đ lời qua tiếng lại, chửi nhau dẫn đến đánh nhau. Trong quá trình đánh nhau, Đ đã cầm một viên bi-a ném về phía anh Đ1, cầm cây gậy B-a đánh về phía anh Đ1 và dùng tay đấm anh Đ1 nhưng đều không trúng. Anh Đ1 lấy một viên B-a cầm trong tay đánh một phát trúng vào vùng đầu bên trái của Đ gây chảy máu, rách da đầu. Thấy vậy, Nguyễn Hữu T4, Trần Văn H1 chạy đến can ngăn nên anh Hoàng Văn Đ1 đi ra khỏi quán bi-a “Phi Long".
Sau khi được mọi người can ngăn, Nguyễn Hữu Đ đi ra khỏi quán B-a “Phi Long” thì thấy anh Hoàng Văn Đ1 đang đứng ở ngã ba đường trước quán B-a "Phi Long". Anh Đ1 nói với Đ “mi thích chi lại đây”. Đ trả lời “mi chờ đó”. Nói xong, Đ chạy đến xe ô tô tải của mình lấy một con dao, dạng dao Mèo (dài 55,5 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 41, loại một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, chỗ rộng nhất 6,5cm, cán dao bằng gỗ dài 14,5cm) và cầm dao đuổi theo anh Đ1. Khi Đ cầm dao đuổi theo anh Đ1 thì anh H3, anh T3, anh H1 nhìn thấy nên chạy theo Đ để can ngăn. Anh Đ1 bỏ chạy đến nhà anh Hoàng Văn G, sinh năm 1976, trú tại thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An (là nhà chú của anh Đ1) ở đối diện với quán B1-a “Phi Long”. Lúc này, cửa cổng nhà anh G đóng, còn cửa chính đi vào nhà không đóng và trong nhà đã tắt hết bóng đèn điện để đi ngủ. Anh Đ1 leo qua bờ tường rào, chạy vào trong nhà anh G. Nguyễn Hữu Đ cũng cầm dao leo qua bờ tường đuổi theo anh Đ1. Khi anh Đ1 chạy vào trong gian nhà chính thì Đ đuổi kịp, anh quay người lại thì Đ chạy đến đứng đối diện cách anh Đ1 khoảng 01 (một) mét. Đ dùng tay phải cầm dao đưa lên chém anh Đ1 thì anh Đ1 đưa tay trái lên nắm vào cổ tay phải đang cầm dao của Đ nhưng Đ giật được tay ra, dùng dao chém liên tiếp ba phát trúng vào người anh Đ1; trong đó có 01 (một) phát trúng vào 1/3 trên, trong cánh tay trái và 02 (hai) phát trúng vào vùng đầu bên trái của anh Đ1. Bị chém trúng người, anh Đ1 kêu lên “trời ơi” và hai tay ôm đầu đi ra sân thì bị ngã sấp về phía trước, đầu đập xuống sân nhà bất tỉnh. Thấy vậy, Đ cầm dao bỏ đi ra ngoài. Nghe tiếng động, anh Hoàng Văn G thức dậy và bật bóng đèn điện sáng lên. Lúc này anh Hoàng Văn T3, Hoàng Văn H3 và Trần Văn H1 cũng leo tường rào vào trong nhà anh G để can ngăn. Thấy Đ cầm dao đi từ trong nhà anh G đi ra, anh H3 chạy đến giằng lấy con dao trên tay Đ. Nguyễn Hữu Đ trở lại quán B2, vào nhà chị Trịnh Thị H2 rửa vết thương đang chảy máu trên người và sau đó Nguyễn Hữu T4 điều khiển xe máy chở Nguyễn Hữu Đ đến Bệnh viện huyện T, tỉnh Nghệ An để khâu vết thương.
Đến 00 giờ 30 phút ngày 21/9/2023, Nguyễn Hữu Đ đến Công an huyện T, tỉnh Nghệ An đầu thú về hành vi phạm tội của mình.
Anh Hoàng Văn Đ1 bị thương nặng, được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa tỉnh N, đến ngày 23/9/2023 thì tử vong.
Tại Biên bản khám nghiệm tử thi vào hồi 01 giờ 00 phút ngày 24/9/2023 xác định tử thi Hoàng Văn Đ1 có các dấu vết, tổn thương trên cơ thể như sau: “Vùng trán, đầu phía trước cách trên trong đỉnh vành tai phải 15,5cm, cách trên trong đỉnh vành tai trái 17 cm, có 01 vùng xây xát da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (5 x 4) cm; Vùng đầu phía bên trái cách thẳng trên đỉnh vành tai trái 9cm, cách đường dọc giữa đầu 8 cm, có 01 vết thương, kích thước (7,3 x 0,1) cm, vết thương được khâu bởi 05 mũi chỉ; hướng trên xuống dưới, trái sang phải; Vùng đầu phía bên trái cách trên sau đỉnh vành tai trái 3cm, cách đường dọc giữa đầu 16cm, có 01 vết thương, kích thước (5,5 x 0,1) cm, vết thương được khâu bởi 05 mũi chỉ; hướng trái sang phải; Vùng cổ phía bên phải cách trên trong mỏm vai phải 14cm, cách dưới trước dái tai phải 8cm, có 01 vết thương, kích thước (1 x 0,1) cm, vết thương được khâu bởi 01 mũi chỉ; Cánh tay trái cách thẳng dưới mỏm vai trái 15cm, có 01 vết thương, kích thước (17 x 0,3) cm, vết thương được khâu bởi 10 mũi chỉ; hướng từ dưới lên trên, phải sang trái, chếch trước ra sau; 1/3 giữa, trước cẳng chân trái bị xây xát da, bầm tụ máu, không liên tục, kích thước (12 x 2) cm; Trên cơ thể vị trí quanh mắt cá trong hai chân, khuỷu 2 tay, vùng bẹn bên trái có rải rác dấu vết đứt, thủng da, đường kính 0,1cm (dạng kim tiêm truyền); Vùng ngực, cách thẳng trên rốn 28 cm, có 01 vùng bầm tụ máu, kích thước (4x 3) cm.
Mổ tử thi: Vùng đầu: Tổ chức dưới da tương ứng phần khám ngoài bị bầm tụ máu nặng, xương hộp sọ bị vỡ, màng cứng không bị đứt, rách. Ngoài màng cứng không có máu đông. Tổ chức não phù, dưới màng cứng 2 bán cầu đại não chứa nhiều máu đông và không đông; Vùng ngực, bụng: Tổ chức dưới da tương ứng phần khám ngoài vùng ngực bị bầm tụ máu, hai khoang lồng ngực bao tim ổ bụng chứa nhiều dịch, phổi phù, tim, phổi, gan, thận không có tổn thương; Vùng cánh tay trái: Tổ chức dưới da bầm tụ máu nặng. Tổ chức cơ bị đứt nhiều vị trí, đứt động mạch cánh tay trái, tĩnh mạch nền.”.
Tại Kết luận giám định tử thi số 216/KLGĐTT-KTHS ngày 06/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh tỉnh N đối với Hoàng Văn Đ1 kết luận: “1. Các kết quả chính: Nạn nhân vào viện trong tình trạng hôn mê; da niêm mạc nhợt, chi lạnh; vết thương vùng nách trái cánh tay trái phức tạp, máu phun thành tia. Được phẫu thuật xử lý đa vết thương, điều trị: an thần, thở máy, giãn cơ, vận mạch, điện giải, truyền chế phẩm máu, lọc máu liên tục, điều chỉnh toan kiềm, dinh dưỡng. Đến 22h06 ngày 23/9/2023, bệnh nhân tử vong với chẩn đoán: Tử vong do sốc mất máu - Đa vết thương. Bên ngoài nạn nhân bị nhiều vết thương, xây xát da, bầm tụ máu. Đứt, vỡ xương hộp sọ. Tổ chức não phù. Dưới màng cứng hai bán cầu đại não chứa nhiều máu đông và không đông. Tổ chức dưới da, cơ vùng cánh tay trái bị đứt. Đứt động mạch cánh tay trái và tĩnh mạch nền trái. Tim, phổi, gan, thận nhạt màu. 2. Kết luận: Kết luận nguyên nhân chết: Suy tuần hoàn, suy hô hấp do chấn thương làm đứt động mạch cánh tay trái, tĩnh mạch nền trái; đứt, vỡ xương hộp sọ, phù não, xuất huyết não. - Kết luận khác: Không.”.
Tại Bản kết luận giám định số 32/KL-KTHS (Đ2 -SV) ngày 09/10/2023 của Phòng K1 Công an tỉnh N kết luận: Mẫu chất màu nâu thu tại hiện trường quán bi-a Phi Long ký hiệu M1 gửi tới giám định là máu người, thuộc nhóm máu O; Mẫu chất màu nâu thu tại tường rào nhà ông Hoàng Văn G ký hiệu M2 gửi tới giám định là máu người, thuộc nhóm máu O; Mẫu chất màu nâu thu tại tường nhà phía tây gian nhà bên trái của ông Hoàng Văn G ký hiệu M3 gửi giám định là máu người, thuộc nhóm máu O; Mẫu chất màu nâu thu tại nền sân nhà ông Hoàng Văn G ký hiệu M4 gửi tới giám định là máu người, thuộc nhóm máu O; Trên con dao gửi giám định có bám dính máu người, thuộc nhóm máu O; Trên chiếc gậy bi-a gửi tới giám định không có dấu vết máu; Trên hai viên bi-a gửi tới giám định không có dấu vết máu; Máu của Nguyễn Hữu Đ gửi tới giám định thuộc nhóm máu O; Máu tử thi Hoàng Văn Đ1 gửi tới giám định thuộc nhóm máu O."
Vật chứng vụ án: 01(một) con dao dài 55,5 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 41, loại một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, chỗ rộng nhất 6,5cm, cán dao bằng gỗ dài 14,5cm, dao đã qua sử dụng; 01 (một) chiếc dép (dép bên phải) đã qua sử dụng; 01 (một) gậy bi-a dài 146cm; 01 (một) viên bi-a màu trắng; 01 (một) viên bi-a màu xanh được in số 2.
Đối với 01 (một) chiếc nhẫn kim loại do anh Hoàng Văn G nhặt được tại hiện trường vụ án đã giao nộp cho Cơ quan Cảnh sát điều tra. Quá trình điều tra xác định chiếc nhẫn kim loại là tài sản của ông Nguyễn Hữu P giao cho Nguyễn Hữu Đ cầm hộ. Ngày 20/9/2023, khi dùng dao chém anh Hoàng Văn Đ1, Nguyễn Hữu Đ đã làm rơi chiếc nhẫn, nay Nguyễn Hữu Đ và ông Nguyễn Hữu P đề nghị trả lại cho ông P. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an tỉnh N đã ra Quyết định xử lý tài sản, đồ vật, tài liệu số 62 ngày 22/12/2023, trả lại chiếc nhẫn kim loại nêu trên cho chủ sở hữu hợp pháp là ông Nguyễn Hữu P.
Về dân sự: Quá trình điều tra và chuẩn bị xét xử, gia đình bị cáo và gia đình bị hại đã thỏa thuận bồi thường cho gia đình bị hại số tiền 500.000.000 đồng. Gia đình bị hại rút yêu cầu bồi thường dân sự, không yêu cầu Tòa án giải quyết, đồng thời có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.
Cáo trạng số 32/VKS-P2 ngày 11/01/2024 của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Nghệ An truy tố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự.
Tại Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An đã tuyên bố bị cáo Nguyễn Hữu Đ về tội “Giết người”.
Căn cứ điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 13 (mười ba) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/09/2023.
Ngoài ra, Tòa án cấp sơ thẩm còn quyết định về xử lý vật chứng, án phí và thông báo quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Sau khi xét xử sơ thẩm:
Ngày 24/3/2024, bị cáo Nguyễn Hữu Đ kháng cáo xin giảm hình phạt.
Ngày 18/3/2024 và ngày 25/3/2024, đại diện hợp pháp của bị hại là bà Hoàng Thị T1 kháng cáo tăng hình phạt và tăng trách nhiệm dân sự đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đ.
Ngày 03/4/2024, Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội ra Quyết định kháng nghị số 07/QĐ-VC1-HS ngày 03/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội với nội dung kháng nghị tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đ.
Tại phiên tòa phúc thẩm, đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội đã tóm tắt nội dung vụ án, quyết định của bản án sơ thẩm và kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội.
Bị cáo Nguyễn Hữu Đ tự nguyện xin rút toàn bộ kháng cáo.
Đại diện hợp pháp của bị hại bà Hoàng Thị T1 rút kháng cáo về nội dung tăng trách nhiệm bồi thường dân sự, giữ yêu cầu tăng hình phạt đối với bị cáo.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội sau khi phân tích, đánh giá hành vi của bị cáo, Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội thấy: Hành vi phạm tội của bị cáo Nguyễn Hữu Đ là quyết liệt, mang tính chất côn đồ. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật hình sự xử phạt bị cáo 13 năm tù là quá nhẹ. Tại phiên tòa, đại diện hợp pháp của bị hại rút kháng cáo về phần dân sự, giữ kháng cáo về tăng hình phạt đối với bị cáo là có căn cứ. Bị cáo rút kháng cáo xin giảm hình phạt. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo và kháng cáo về phần dân sự của đại diện bị hại; chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo; sửa bản án hình sự sơ thẩm theo hướng xử tăng hình phạt đối với bị cáo lên mức 15 đến 16 năm tù.
Tại phiên Tòa phúc thẩm bị cáo vẫn giữ nguyên các lời khai tại cơ quan điều tra, tại phiên tòa sơ thẩm và thừa nhận hành vi phạm tội như án sơ thẩm đã quy kết. Bị cáo thành khẩn nhận tội, ăn năn hối cải; vận động gia đình tự nguyện bồi thường thêm cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng; đề nghị Hội đồng xét xử xem xét quyết định hình phạt của bị cáo theo quy định của pháp luật.
Đại diện hợp pháp của bị hại là bà Hoàng Thị T1 rút nội dung kháng cáo về phần bồi thường trách nhiệm dân sự; đồng ý nhận 50.000.000 đồng do gia đình bị cáo bồi thường thêm ngay tại phiên tòa; vẫn giữ nội dung kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo Nguyễn Hữu Đ, đề nghị Hội đồng xét xử theo quy định pháp luật.
Luật sư bảo vệ quyền lợi của bị hại: Tại phiên tòa hôm nay gia đình bị hại rút yêu cầu kháng cáo về phần trách nhiệm bồi thường dân sự, gia đình bị hại nhận 50.000.000 đồng bồi thường thêm của gia đình bị cáo. Nhất trí với quan điểm của đại diện Viện kiểm sát về tăng hình phạt đối với bị cáo. Hành vi của bị cáo là quyết liệt, cố ý thực hiện tội phạm đến cùng. Mức hình phạt cấp sơ thẩm còn nhẹ, đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận kháng cáo tăng hình phạt đối với bị cáo của gia đình bị hại.
Luật sư bào chữa cho bị cáo: Qua các tài liệu trong hồ sơ vụ án, diễn biến tại phiên tòa sơ thẩm, tại cơ quan điều tra thể hiện người bị hại và bị cáo có xô xát. Bị hại đã dùng một viên bi a đánh vào đầu bị cáo, gây rách da và chảy máu. Tại Cơ quan điều tra và phiên tòa sơ thẩm gia đình bị hại có đề nghị xử phạt nhẹ hình phạt cho bị cáo. Tại cấp sơ thẩm, gia đình bị cáo đã tích cực bồi thường cho gia đình bị hại 500.000.000. Tại cấp phúc thẩm, mặc dù gia đình bị hại rút kháng cáo về phần bồi thường trách nhiệm dân sự nhưng bị cáo vẫn tác động gia đình bồi thường thêm cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng, thể hiện sự ăn năn hối cải của bị cáo. Mức hình phạt cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo là có phần nghiêm khắc, đủ tác dụng giáo dục bị cáo. Do đó, đề nghị Hội đồng xét xử giữ nguyên mức hình phạt của cấp sơ thẩm.
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa phúc thẩm; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, lời khai của bị cáo,ý kiến của Kiểm sát viên và những người tham gia tố tụng khác.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1]. Tại phiên tòa phúc thẩm, bị cáo Nguyễn Hữu Đ tự nguyện rút toàn bộ kháng cáo xin giảm hình phạt. Do đó, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo của bị cáo.
Kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại trong thời hạn pháp luật quy định, đủ điều kiện xem xét theo thủ tục phúc thẩm.
[2]. Khoảng 21 giờ 45 phút, ngày 20/09/2023, tại quán bi-a "Phi Long" của gia đình chị Trịnh Thị H2, thuộc thôn Y, xã T, huyện T, tỉnh Nghệ An, anh Hoàng Văn Đ1 nghe được Nguyễn Hữu Đ và Hoàng Văn T3 (em vợ Đ1) chấp cược nhau đánh Bi a nên anh Đ1 đã ngăn cản T3 và giữa Đ và anh Đ1 xảy ra mâu thuẫn, đánh nhau. Anh Hoàng Văn Đ1 dùng viên Bi a đánh trúng vào vùng đầu Nguyễn Hữu Đ, gây chảy máu. Nguyễn Hữu Đ cầm dao, dạng dao Mèo (dài 55,5 cm, lưỡi dao làm bằng kim loại dài 41, loại một lưỡi sắc, mũi dao nhọn, chỗ rộng nhất 6,5cm, cán dao bằng gỗ dài 14,5cm) rượt đuổi anh Hoàng Văn Đ1 đến nhà anh Hoàng Văn G (nhà đối diện quán B2 của chị H2) rồi dùng dao chém 01 (một) phát trúng vào 1/3 trên, trong cánh tay trái và 02 (hai) phát trúng vào vùng đầu bên trái của anh Hoàng Văn Đ1. Anh Hoàng Văn Đ1 bị suy tuần hoàn, suy hô hấp do chấn thương làm đứt động mạch cánh tay trái, tĩnh mạch nền trái; đứt, vỡ xương hộp sọ, phù não, xuất huyết não được đưa đi cấp cứu tại Bệnh viện Hữu nghị Đa khoa tỉnh N, đến ngày 23/9/2023 thì tử vong. Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An xét xử bị cáo về tội “Giết người” theo điểm n khoản 1 Điều 123 Bộ luật Hình sự là có căn cứ, đúng pháp luật, không oan.
[3]. Xét yêu cầu kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, Hội đồng xét xử thấy:
Bị cáo Nguyễn Hữu Đ chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong cuộc sống, đã dùng dao chém 03 nhát vào người anh Hoàng Văn Đ1 dẫn đến anh Đ1 tử vong. Hành vi của bị cáo là cố ý, có tính chất côn đồ. Sau khi thực hiện hành vi phạm tội bị cáo đã đầu thú. Trong quá trình điều tra, truy tố và tại phiên tòa sơ thẩm, bị cáo đã thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải về hành vi phạm tội của mình; bị cáo đã tác động gia đình bồi thường dân sự cho gia đình bị hại Hoàng Văn Đ1; gia đình bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ cho bị cáo. Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng các tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự. Trong vụ án này, bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự, được hưởng nhiều tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và bị hại cũng có hành vi dùng viên bi a tấn công gây thương tích cho bị cáo. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo tác động để gia đình bồi thường thêm cho gia đình bị hại 50.000.000 đồng ngoài 500.000.000 đồng đã bồi thường tại cấp sơ thẩm. Tuy vậy, mức hình phạt tòa án cấp sơ thẩm đã tuyên với bị cáo chưa nghiêm. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung Quyết định kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội về việc tăng hình phạt đối với bị cáo.
[4]. Xét yêu cầu kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại bà Hoàng Thị T1:
Tại cấp sơ thẩm, gia đình bị hại có đơn đề nghị xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo và thỏa thuận xong về việc bồi thường trách nhiệm dân sự của bị cáo. Do các bên đã có thỏa thuận nên Tòa án cấp sơ thẩm không giải quyết về trách nhiệm bồi thường của bị cáo. Tại phiên tòa phúc thẩm, gia đình bị hại rút yêu cầu bồi thường trách nhiệm dân sự đối với bị cáo và không có yêu cầu bồi thường thêm chi phí nào khác. Do vậy, Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo về trách nhiệm bồi thường dân sự của bị cáo. Gia đình bị hại khi có yêu cầu, có căn cứ thì có quyền khởi kiện về trách nhiệm bồi thường của bị cáo. Trong vụ án này, Tòa án cấp sơ thẩm cho bị cáo được hưởng nhiều tình tiết quy định tại điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự; đồng thời bị cáo không phải chịu tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự. Tại cấp phúc thẩm, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải tác động gia đình tiếp tục bồi thường thêm cho gai đình bị hại 50.000.000 đồng. Tuy nhiên, do mức hình phạt tòa án cấp sơ thẩm xử phạt bị cáo chưa nghiêm, chưa tương xứng với tính chất nguy hiểm của hành vi phạm tội. Do đó, Hội đồng xét xử chấp nhận nội dung kháng cáo tăng hình phạt của đại diện hợp pháp của bị hại.
[5]. Tại phiên tòa phúc thẩm, quan điểm của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao đề nghị Hội đồng xét xử đình chỉ xét xử đối với kháng cáo về yêu cầu tăng bồi thường của đại diện hợp pháp bị hại và đối với kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo; chấp nhận kháng nghị, kháng cáo của đại diện hợp pháp của bị hại tăng hình phạt đối với bị cáo; sửa bản án sơ thẩm là có căn cứ.
Từ các nhận định trên, Hội đồng xét xử có căn cứ đình chỉ xét xử đối với kháng cáo về yêu cầu tăng bồi thường của đại diện hợp pháp bị hại và đối với kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo; chấp nhận kháng nghị, một phần kháng cáo của bị hại về tăng hình phạt đối với bị cáo.
[6]. Về án phí: Do Hội đồng xét xử chấp nhận kháng nghị của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội, kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại sửa bản án sơ thẩm, nên bị cáo Nguyễn Hữu Đ và đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị T, chị Hoàng Thị T1 không phải chịu án phí hình sự phúc thẩm.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không có kháng cáo, không bị kháng nghị đã có hiệu lực pháp luật.
Vì các lẽ trên,
Căn cứ vào Điều 348; điểm b, đ khoản 1, khoản 2 Điều 355; điểm a khoản 2 Điều 357 Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 về mức thu, miễn giảm, thu, nộp quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án ngày 30/12/2016 của Uỷ ban thường vụ Quốc hội.
QUYẾT ĐỊNH:
- Đình chỉ xét xử phúc thẩm đối với kháng cáo xin giảm hình phạt của bị cáo Nguyễn Hữu Đ và đối với kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại bà Hoàng Thị T1 về yêu cầu tăng bồi thường. Chấp nhận kháng nghị số 07/QĐ-VC1-HS ngày 03/4/2024 của Viện trưởng Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Hà Nội; chấp nhận một phần kháng cáo của đại diện hợp pháp bị hại về tăng hình phạt đối với bị cáo; Sửa Bản án hình sự sơ thẩm số 46/2024/HS-ST ngày 11/3/2024 của Tòa án nhân dân tỉnh Nghệ An, cụ thể:
Áp dụng điểm n khoản 1 Điều 123, điểm b, s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Hữu Đ 15 (mười lăm) năm tù về tội “Giết người”. Thời hạn tù tính từ ngày tạm giữ, tạm giam 21/09/2023.
- Về án phí: Bị cáo Nguyễn Hữu Đ và đại diện hợp pháp của bị hại là bà Trần Thị T, chị Hoàng Thị T1 không phải chịu án phí phúc thẩm.
Xác nhận gia đình bị cáo Nguyễn Hữu Đ đã bồi thường cho đại diện hợp pháp bị hại bà Hoàng Thị T1 50.000.000 (năm mươi triệu) đồng, các bên giao nhận tại phiên tòa.
Các quyết định khác của bản án hình sự sơ thẩm nêu trên không có kháng cáo, không bị kháng nghị có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị.
Bản án hình sự phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Điều Văn Hằng |
Bản án số 567/2024/HS-PT ngày 17/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI về hình sự - giết người (phúc thẩm)
- Số bản án: 567/2024/HS-PT
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Giết người (Phúc thẩm)
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 17/07/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI HÀ NỘI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: kc
