| TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
| Bản án số: 567/2025/DS-PT | |
| Ngày: 23/5/2025 | |
| V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng. |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Huỳnh Thị Như Hà.
Các Thẩm phán: Ông Trương Văn Hiền.
Bà Nguyễn Thị Huyền.
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Cẩm Nhung – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Mạnh Thị Tú Quyên - Kiểm sát viên.
Vào ngày 23 tháng 5 năm 2025, tại trụ sở Tòa án nhân dân Thành Phố Hồ Chí Minh đã xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 431/2025/TLPT-DS ngày 18/4/2025 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 2632/2024/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 2265/2025/QĐ-PT ngày 24 tháng 4 năm 2025 giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng thương mại cổ phần Q;
Địa chỉ: Tầng A (tầng trệt), 2 Tòa nhà S - Số A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp: Ông Lưu Trường H hoặc ông Trần Quốc B hoặc ông Vương Quốc H1 (Có mặt). Cùng địa chỉ: Tầng F Tòa nhà P - Số B U, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số 210789.24 ngày 18/10/2024).
Bị đơn: Ông Trần Vũ Xuân L, sinh năm 1984 (Có mặt);
Địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan:
- Ông Trần Xuân L1, sinh năm: 1953;
- Bà Vũ Thị Quý P, sinh năm: 1961 (Có mặt);
Cùng địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện hợp pháp của ông Trần Xuân L1 và bà Vũ Thị Quý P: Bà Bùi Thị Quỳnh A, sinh năm 1990 (Có mặt). Địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh. (Theo Giấy ủy quyền số công chứng 2322 ngày 16/02/2024 lập tại Văn phòng C).
- Bà Bùi Thị Quỳnh A, sinh năm: 1990 (Có mặt).
Địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Phía nguyên đơn trình bày:
Theo đề nghị của khách hàng Trần Vũ Xuân L, Ngân hàng thương mại cổ phần Q (Gọi tắt là: V) - Chi Nhánh Q1 có ký kết các hợp đồng tín dụng như sau:
1/ Hợp đồng tín dụng số 1713176.20 ngày 27/08/2020 với nội dung như sau:
- + VIB cho ông Trần Vũ Xuân L vay số tiền 3.000.00.000 đồng;
- + Mục đích vay vốn: Đáp ứng nhu cầu về sửa chữa nhỏ (không thay đổi kết cấu) và mua sắm vật dụng cho căn nhà tại Địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
- + Thời hạn vay: 156 tháng.
- + Lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất:
Lãi suất tại thời điểm giải ngân bằng 10,4 %/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là: Lãi suất cơ sở theo sản phẩm trong kỳ + biên độ 3,3 %/năm) và chỉ áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân.
Hết thời hạn 12 tháng, thì lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng 1 lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 4,1%/năm.
- + Ngày trả lãi: Hàng tháng vào ngày 05; từ kỳ thứ 1 đến đến kỳ thứ 60 mỗi tháng trả 9.210.000 đồng. Từ kỳ thứ 61 đến kỳ thứ 155 mỗi kỳ trả 25.763.000 đồng, số tiền còn lại trả vào kỳ cuối.
- + Kỳ trả nợ đầu tiên vào ngày 05/10/2020.
- + Trả phí: theo quy định của V từng thời kỳ.
- + Tài sản bảo đảm: Bất động sản tọa lạc tại Địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 31/08/2020, V đã giải ngân cho ông Trần Vũ Xuân L theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3544928.20 với số tiền 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng) theo đúng yêu cầu của ông L và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng, khách hàng Trần Vũ Xuân L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, ngày 11/4/2023 (theo thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn số 035689.23 ngày 30/3/2023).
Tạm tính đến ngày 30/12/2024, ông Trần Vũ Xuân L đã thanh toán cho Ngân hàng V với tổng số tiền là 928.565.159 đồng (trong đó: nợ gốc là 230.250.000 đồng; nợ lãi là 698.315.159 đồng) và ông Trần Vũ Xuân L còn nợ ngân hàng theo Hợp đồng tín dụng số 1713176.20 số tiền 4.023.303.580 đồng (trong đó: nợ gốc là 2.769.750.000 đồng; nợ lãi 1.253.553.580 đồng).
2. Hợp đồng tín dụng số 7093076.21 ngày 15/09/2021 với nội dung như sau:
- + VIB cho ông Trần Vũ Xuân L vay số tiền 1.475.000.000 đồng;
- + Mục đích vay vốn: Bù đắp vốn tự có nhận chuyển nhượng bất động sản tại thửa đất số 806, tờ bản đồ số 27, phường T, Quận A, TP .;
- + Thời hạn vay: 144 tháng.
- + Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân bằng 9,50 %/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản tín dụng. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo sản phẩm cộng biên độ 3,9%/năm. Ngày trả lãi: Hàng tháng vào cùng ngày 10, ngày trả lãi đầu tiên: 10/10/2021.
- + Phương thức giải ngân: chuyển khoản vào tài khoản của bên được cấp tín dụng mở tại V: Tên chủ tài khoản: Trần Vũ Xuân L; số tài khoản: 607904060083270.
- + Lãi suất vay: Lãi suất tại thời điểm giải ngân bằng 9.5%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi và chỉ được áp dụng trong thời hạn 12 tháng kể từ thời điểm giải ngân. Hết thời hạn ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 03 tháng một lần bằng Lãi suất cơ sở cộng biên độ 3,9%/năm.
- + Hoàn trả khoản tín dụng gốc: cuối kỳ;
- + Ngày trả lãi: hàng tháng vào ngày 10, kỳ trả lãi đầu tiên vào ngày 10/10/2021. Trả phí theo quy định của V từng thời kỳ.
- + Ngày 16/09/2021, V đã giải ngân cho ông Trần Vũ Xuân L theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 7093076.21 với số tiền 1.475.00.000 đồng (Một tỷ, bốn trăm bảy mươi lăm triệu đồng) vào tài khoản số 607904060083270 – Chủ tài khoản: Trần Vũ Xuân L theo đúng yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Trong quá trình thực hiện hợp đồng tín dụng nêu trên, ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Do đó, V cũng có văn bản thông báo đến ông L, nhưng khách hàng vẫn không có thiện trí trả nợ. Ngày 11/4/2023, V đã chuyển nợ quá hạn toàn bộ đối với khoản vay (theo thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn số 035689.23 ngày 30/3/2023).
Tạm tính đến ngày 30/12/2024, ông Trần Vũ Xuân L đã thanh toán cho Ngân hàng V số tiền là 189.641.787 đồng (trong đó: nợ gốc là 39.122.200 đồng; nợ lãi là 150.519.587 đồng) và ông L còn nợ ngân hàng số tiền 2.074.240.865 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.435.877.800 đồng; nợ lãi là 638.363.065 đồng).
3. Căn cứ Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/04/2021, VIB đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Trần Vũ Xuân L, chi tiết số thẻ như sau: 5138920000667124; loại thẻ: V, Hạn mức thẻ: 90.000.000 đồng; lãi suất, phí: theo Biểu phí và Điều khoản điều kiện của V từng thời kỳ. Ngoài ra, V có cung cấp website: vib.com.vn để khách hàng cập nhật thông tin về lãi và phí.
Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng ông L không thanh toán đúng hạn và đầy đủ số tiền đã sử dụng, Ngân hàng V đã nhiều lần yêu cầu ông L thực hiện nghĩa vụ trả nợ nhưng ông L vẫn không hợp tác thực hiện, ảnh hưởng nghiêm trọng đến quyền và lợi ích hợp pháp của V.
Số tiền nợ phát sinh từ thẻ tín dụng số 5138920000667124 là: 153.766.652 đồng; trong đó nợ gốc là 84.042.462 đồng; nợ lãi quá hạn là 37.633.091 đồng; nợ phí là 32.091.099 đồng.
Như vậy, tạm tính đến ngày 30/12/2024, ông Trần Vũ Xuân L còn nợ Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng số tiền là: 6.251.311.097 đồng (Sáu tỷ, hai trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm mười một nghìn, không trăm chín mươi bảy đồng) bao gồm:
- + Số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 1713176.20 là 2.769.750.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 440.276.672 đồng; Nợ lãi quá hạn là 813.276.908 đồng;
- + Số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 7093076.21 là 1.435.877.800 đồng; Nợ lãi trong hạn là 226.035.378 đồng; Nợ lãi quá hạn là 412.327.687 đồng;
- + Số tiền nợ phát sinh từ thẻ tín dụng số 5138920000667124 là: 153.766.652 đồng; trong đó nợ gốc là 84.042.462 đồng; nợ lãi quá hạn là 37.633.091 đồng; nợ phí là 32.091.099 đồng.
Do ông L vi phạm nghĩa vụ thanh toán làm ảnh hưởng đến quyền và lợi ích của hợp pháp của V. Do đó, V khởi kiện đến Tòa án để yêu cầu tòa án giải quyết các vấn đề sau:
- Buộc ông Trần Vũ Xuân L phải thanh toán ngay cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng số tiền còn nợ tạm tính đến ngày 30/12/2024 là: 6.251.311.097 đồng (Sáu tỷ, hai trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm mười một nghìn, không trăm chín mươi bảy đồng).
- Trong trường hợp ông Trần Vũ Xuân L không thực hiện hoặc thực hiện không đầy đủ nghĩa vụ thanh toán các khoản nợ cho V, đề nghị cơ quan có thẩm quyền kê biên, phát mãi tài sản bảo đảm là nhà và đất tại địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, tại thửa đất số: 97, tờ bản đồ số: 37 theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu Nhà ở và Quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 14250/2002 do U cấp ngày 30/05/2001 đứng tên ông Trần Xuân L1 và bà Vũ Thị Quý P theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất được công chứng số: 020329, Quyền số: 8 TP/CC-SCC/HĐGD do Văn phòng C1, TP . công chứng ngày 28/08/2020 để đảm bảo thu hồi nợ cho V.
- Toàn bộ số tiền thu được từ việc xử lý tài sản đảm bảo được dùng để thanh toán nghĩa vụ trả nợ cho bên vay vốn với V. Trường hợp nếu số tiền thu được từ xử lý tài sản đảm bảo không đủ để thanh toán hết nợ thì bên vay vốn vẫn phải có nghĩa vụ trả hết khoản nợ còn lại cho V.
- Buộc Bị đơn phải tiếp tục thanh toán tiền lãi theo thỏa thuận trong hợp đồng trên số tiền chưa thanh toán kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử là ngày 31/12/2024 cho đến khi thanh toán dứt điểm các khoản nợ trên.
Phía bị đơn trình bày:
Ông Trần Vũ Xuân L xác nhận giữa ông và V có ký các Hợp đồng tín dụng sau:
- - Hợp đồng tín dụng số 1713176.20 ngày 27/8/2020 để vay số tiền: 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng); thời gian vay 156 tháng, kể từ ngày khoản vay được giải ngân là ngày 31/8/2020;
- - Hợp đồng tín dụng số 7093076.21 ngày 15/9/2021 để vay số tiền: 1.437.756.000 đồng (Một tỷ bốn trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi sáu ngàn đồng); thời gian vay 144 tháng, kể từ ngày khoản vay được giải ngân là ngày 16/9/2021;
- - Thẻ tín dụng số 5138920000667124 theo Hợp đòng phát hành thẻ ngày 28/4/2021 với hạn mức 90.000.000 đồng.
Từ khi vay nợ cho đến tháng 11 năm 2022, ông luôn thực hiện thanh toán đầy đủ các khoản tiền gốc và lãi hàng tháng cho V bằng hình thức chuyển khoản hoặc hệ thống VIB tự động trích thu từ tài khoản tiền gửi debit cá nhân của ông được mở tại ngân hàng V – Tran Vu X.
Vào tháng 7 năm 2021 khi dịch Covid bùng phát, Thành phố Hồ Chí Minh bị phong tỏa, tài khoản của ông không đủ số dư cho V tự trích trừ nhằm thanh toán nợ vay. Theo sự hướng dẫn của cán bộ tín dụng V, ông ký tiếp Hợp đồng tín dụng Số 7093076.21 ngày 15/9/2021 để vay thêm số tiền: 1.437.765.000 đồng; thời gian vay 144 tháng kể từ ngày khoản vay được giải ngân vào ngày 16/9/2021 để có tiền trong tài khoản cho VIB tự động trích trừ các khoản nợ.
Sau khi bớt giãn cách triệt để do dịch Covid, ông phát hiện dù trả nợ gốc và lãi theo phương pháp giảm dần nhưng số tiền nợ gốc và lãi vẫn bị VIB tự trích thu tăng bất thường kể từ tháng 9/2021 nên ông yêu cầu V cung cấp hồ sơ sao kê chi tiết về gốc/lãi/phí liên quan tới các khoản thu nợ mà V đã trích thu từ trong tài khoản tiền gửi của cá nhân ông - tuy nhiên đã không được đáp ứng.
Đến tháng 06/2022, khi ông có nhu cầu cần mượn lại sổ đỏ (đang thế chấp tại V) để làm thủ tục cập nhật diện tích và đổi sổ mới để xin cấp phép xây dựng, thì nhân viên V là Nguyễn Nghĩa T và Trần Nhật L2 yêu cầu ông phải đưa 150.000.000đ (một trăm năm mươi triệu đồng) thì mới cho ông mượn lại sổ đỏ để làm thủ tục đổi sổ và xin phép xây dựng. Ông đồng ý và có điều kiện phải nhìn thấy bản gốc sổ đỏ thì mới đưa tiền, nhưng cũng không được bên ngân hàng đáp ứng. Từ đó nhân viên V liên tục gây khó khăn cho ông trong việc thanh toán nợ, mặc dù ông rất có thiện chí. Đỉnh điểm là vào tháng 11/2022, do quá ức chế vì không được VIB đáp ứng yêu cầu chính đáng mà còn bị nhân viên V thường xuyên có những hành vi nhục mạ, gây rối, đe dọa đối với ông, nên ông đã trực tiếp tới trụ sở V - Chi nhánh Q1 để gặp lãnh đạo VIB yêu cầu cung cấp sao kê đối chiếu sổ sách nhằm tất toán hợp đồng trước hạn nhưng đã không được phía lãnh đạo và nhân viên V Chi nhánh Q1 đáp ứng.
Ngoài ra, ông còn trình bày đã đóng tiền đầy đủ theo thỏa thuận trong hợp đồng.
Phía người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan ông Trần Xuân L1 và bà Vũ Thị Quý P trình bày:
Ngày 28/8/2020, ông Trần Xuân L1 và bà Vũ Thị Quý P có ký Hợp đồng thế chấp tài sản số 7531980.20 ngày 28/08/2020 để bảo lãnh cho Trần Vũ Xuân L vay tiền với mục đích vay tiêu dùng nhằm mục đích sửa chữa căn nhà mà gia đình ông bà đang ở tại số F X, Phường B, quận B; Tp , với số tiền: 3.000.000.000 đồng; thời gian vay 156 tháng. Việc VIB cấp các khoản vay theo Hợp đồng tín dụng số 7093076.21 ngày 15/9/2021 để vay số tiền: 1.437.765.000 đồng để mua bất động sản tại thửa đất số 806, tờ bản đồ số 27, phường T, Quận A và Thẻ tín dụng số 5138920000667124 theo Hợp đồng phát hành thẻ ngày 28/4/2021 với hạn mức 90.000.000 đồng cho Trần Vũ Xuân L ông bà không biết và không nhận được bất kỳ thông báo liên quan nào từ V.
Từ khi VIB giải ngân các khoản vay cho Trần Vũ Xuân L cho tới nay ông bà không nhận được bất kỳ thông báo nào của V về việc Trần Vũ Xuân L có vi phạm nghĩa vụ trả nợ. Việc vay tiền với mục đích vay tiêu dùng để sửa chữa căn nhà thì ông bà được biết nhưng VIB cho L vay tiền để đầu tư bất động sản và sử dụng thẻ tín dụng ông bà không được thông báo, không biết nên ông bà không chịu trách nhiệm bảo lãnh về các khoản vay này của ông L.
Về thanh toán nợ vay ông bà được Trần Vũ Xuân L thông báo - Từ khi nhận nợ vay cho tới tháng 11 năm 2022, L luôn thanh toán đầy đủ gốc và lãi hàng tháng cho V bằng hình thức chuyển khoản hoặc hệ thống VIB tự trích trừ tài khoản tiền gửi debit cá nhân của ông L mở tại V (stk: 609704060083270 - Tran Vu X).
Do đó với tư cách những người thế chấp tài sản bảo đảm nợ vay cho L, ông bà yêu cầu tòa án buộc VIB các vấn đề sau:
- + Cung cấp toàn bộ sao kê, chứng từ ghi số liên quan tới các khoản VIB đã tự động trích trừ nợ trái phép từ tài khoản tiền gửi của cá nhân Trần Vũ Xuân L mở tại V (stk: 609704060083270);
- + Cung cấp chi tiết số liệu lãi suất trích thu theo từng thời điểm đã thu để đối chiếu. Trên cơ sở các sổ sách, chứng từ số liệu sao kê hợp pháp, bản đối chiếu công nợ cụ thể giữa V và Trần Vũ Xuân L, ông bà với tư cách người bảo lãnh sẽ xem xét thanh toán số tiền ông L còn nợ.
- + Giao nộp cho Tòa Á bản chính và các giấy tờ liên quan tới Giấy chứng nhận quyền sở hữu nhà ở và quyền sử dụng đất ở của ông Trần Xuân L1 và bà Vũ Thị Quý P. Do ông L đã nhiều lần yêu cầu V cung cấp bản chính các giấy tờ này đề cập nhật sổ đỏ và xin giấy phép sửa chữa nhà nhưng không được V đáp ứng.
Tại phiên toà sơ thẩm:
Nguyên đơn trình bày: Vẫn giữ nguyên yêu cầu như trong đơn khởi kiện.
Ngoài ra, Đối với số tiền 1.941.194.000 đồng mà ông L trình bày về việc ngân hàng tự động trích thu tiền từ tài khoản của ông tại ngân hàng thể hiện trong các bản sao kê tài khoản của ông L tại ngân hàng. Ngân hàng xác nhận, trong số tiền bị trích trừ trên, có khoản tiền 935.612.442 đồng là tiền ông L đã thanh toán và tất toán đối với khoản vay từ Hợp đồng tín dụng số 1615370.20 ngày 13/11/2020. Đối với khoản vay này V không có yêu cầu khởi kiện trong vụ án này. Đề nghị Hội đồng xét xử không xem xét.
Bị đơn ông Trần Vũ Xuân L trình bày:
Ông xác nhận có ký 03 Hợp đồng tín dụng như đã trình bày ở trên, và được VIB giải ngân với tổng số tiền là 4.565.000.000 đồng. Đối với số tiền trong thẻ tín dụng ông xác nhận có sử dụng thẻ và không biết số tiền còn thiếu trong thẻ bao nhiêu.
Quá trình thực hiện các Hợp đồng tín dụng nêu trên, ông luôn thực hiện đầy đủ việc đóng lãi và gốc theo đúng thỏa thuận trong hợp đồng. bản thân ông không vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngoài ra, bên phía V đã lạm dụng việc trích thu các khoản tiền trong tài khoản của ông với tổng số tiền theo tính toán của ông từ ngày 31/8/2020 đến ngày 30/10/2022 với tổng số tiền là 1.941.194.000 đồng.
Do đó, ông không vi phạm hợp đồng, thời hạn thực hiện hợp đồng vẫn còn. Do đó ông yêu cầu Ngân hàng rút yêu cầu khởi kiện vì chưa đủ điều kiện khởi kiện, chuyển toàn bộ hồ sơ qua cơ quan điều tra để điều tra về hành vi sai phạm của hợp đồng.
Đại diện người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan bà Bùi Thị Quỳnh A trình bày:
Ông Trần Xuân L1 và bà Vũ Thị Quý P có ký Hợp đồng bảo lãnh như ngân hàng cung cấp. Trong trường hợp xác định được ông L vi phạm nghĩa vụ trả tiền vay thì ông bà đồng ý chịu trách nhiệm đối với nghĩa vụ bảo lãnh vì nợ thì sẽ trả.
Ngoài ra, với tư cách người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan trong vụ án bà xác nhận bà là vợ ông L, bà có biết ông L vay tiền của Ngân hàng V. Bà hiện ở trong căn nhà thế chấp cùng với ông L và ba mẹ ông L. Bà không có đóng góp gì đối với căn nhà nêu trên.
Bản án 2632/2024/DS-ST ngày 30/12/2024 đã tuyên:
Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn - Ngân hàng thương mại cổ phần Q.
Buộc ông Trần Vũ Xuân L phải thanh toán cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q tổng số tiền còn nợ tính đến ngày 30/12/2024 là: 6.251.311.097 đồng (Sáu tỷ, hai trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm mười một nghìn, không trăm chín mươi bảy đồng) trong đó:
- + Số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 1713176.20 là 2.769.750.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 440.276.672 đồng; Nợ lãi quá hạn là 813.276.908 đồng;
- + Số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 7093076.21 là 1.435.877.800 đồng; Nợ lãi trong hạn là 226.035.378 đồng; Nợ lãi quá hạn là 412.327.687 đồng;
- + Số tiền nợ phát sinh từ thẻ tín dụng số 5138920000667124 là: 153.766.652 đồng; trong đó nợ gốc là 84.042.462 đồng; nợ lãi quá hạn là 37.633.091 đồng; nợ phí là 32.091.099 đồng.
Phương thức thanh toán: Trả làm một lần ngay sau khi bản án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại cơ quan thi hành án Dân sự có thẩm quyền.
Kể từ ngày 31/12/2024, bị đơn còn phải tiếp tục chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền nợ gốc chưa thanh toán theo mức lãi suất mà các bên thỏa thuận trong hợp đồng cho đến khi thanh toán xong khoản nợ gốc này. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của ngân hàng cho vay thì lãi suất mà khách hàng vay phải tiếp tục thanh toán cho ngân hàng cho vay theo quyết định của Tòa án cũng sẽ được điều chỉnh cho phù hợp với sự điều chỉnh lãi suất của ngân hàng cho vay.
Ngay sau khi ông Trần Vũ Xuân L thanh toán đầy đủ các khoản nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q thì việc thế chấp tài sản theo Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất số Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 7531980.20 ngày 28/08/2020 và được Văn phòng C1, TP. công chứng ngày 28/08/2020; số công chứng: 020329, Quyền số: 8 TP/CC-SCC/HĐGD chấm dứt. Ngân hàng thương mại cổ phần Q phải giao trả lại toàn bộ các Giấy tờ đã thế chấp theo Biên bản giao nhận hồ sơ tài sản bảo đảm tiền vay ngày 28/8/2020 cho ông Trần Xuân L1 và bà Vũ Thị Quý P.
Trường hợp ông Trần Vũ Xuân L không thanh toán hoặc thanh toán không đầy đủ các khoản nợ trên thì Ngân hàng thương mại cổ phần Q có quyền yêu cầu Cơ quan thi hành án dân sự có thẩm quyền phát mãi tài sản bảo đảm là Quyền sở hữu Nhà ở và Quyền sử dụng đất ở tại thửa đất số: 97, tờ bản đồ số: 37; Địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu Nhà ở và Quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 14250/2002 do Ủy ban nhân dân Thành phố H cấp ngày 30/05/2001 đứng tên ông Trần Xuân L1 và bà Vũ Thị Quý P theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 7531980.20 ngày 28/08/2020 và được Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 28/08/2020; số công chứng: 020329, Quyền số: 8 TP/CC-SCC/HĐGD, được đã được Chi nhánh văn phòng đăng ký đất đai quận C chứng nhận ngày 31/8/2020 tại trang bổ sung số 2 giấy chứng nhận nêu trên để thu hồi nợ cho Ngân hàng theo quy định pháp luật.
Trường hợp số tiền thu hồi từ phát mãi, xử lý tài sản thế chấp vẫn không đủ để trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q thì ông Trần Vũ Xuân L vẫn phải có nghĩa vụ tiếp tục trả nợ cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q cho đến khi thực hiện xong nghĩa vụ trả nợ.
Ngoài ra bản ra án sơ thẩm còn tuyên về án phí và quyền kháng cáo của đương sự.
Ngày 08/01/2025, Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh nhận được đơn kháng cáo của ông Trần Vũ Xuân L ghi ngày 06/01/2025: kháng cáo toàn bộ bản án số 2632/2024/DS-ST ngày 30/12/2024. Ngày 10/3/2025, Toà án nhân dân quận Bình Thạnh, Thành phố Hồ Chí Minh nhận được đơn kháng cáo của ông Trần Vũ Xuân L theo phiếu chuyển số 94/PC-VP ngày 20/2/2025 của Toà án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại phiên tòa phúc thẩm:
Nguyên đơn trình bày: Không đồng ý với yêu cầu kháng cáo của bị đơn. Đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm.
Phía bị đơn trình bày: Đề nghị huỷ án sơ thẩm và đình chỉ vụ giải quyết vì vụ án được tạo dựng để vu khống ông và gia đình ông.
Ngân hàng chưa cung cấp sao kê cho ông, chưa có cơ sở đối chiếu tất toán; ông chưa một lần thế chấp để mua bất động sản ở Quận A đối với hợp đồng được ký ngày 15/6/2021 để vay khoản tiền 1.475.000.000đ, là giả chữ ký của ông, không có giám định chữ ký theo yêu cầu ông. Nguyên đơn không có chứng cứ chứng minh về số tiền khởi kiện trên.
Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông L1, bà P và bà A thống nhất với ý kiến và yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham dự phiên tòa phát biểu ý kiến như sau:
Về hình thức: Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng các quy định pháp luật tố tụng dân sự từ khi thụ lý đến khi xét xử. Tại phiên tòa phúc thẩm cho đến trước khi nghị án, Hội đồng xét xử phúc thẩm đã tiến hành phiên tòa đúng trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự; các đương sự trong vụ án đã chấp hành đúng quy định pháp luật về quyền và nghĩa vụ của mình.
Về thời hạn kháng cáo của bị đơn là còn trong hạn luật định.
Cấp sơ thẩm đã xem xét đầy đủ, yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
Đại diện viện kiểm sát đề nghị: Không chấp kháng cáo của ông Trần Vũ Xuân L.
Căn cứ khoản 1 Điều 308 Bộ luật Tố tụng Dân sự 2015: Giữ nguyên bản án dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về hình thức: Đơn kháng cáo của bị đơn nộp trong thời hạn theo quy định tại Điều 272, Điều 273 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 được chấp nhận xem xét lại bản án theo thủ tục phúc thẩm.
[2] Về thủ tục tố tụng: Xét cấp sơ thẩm đã đưa người tham gia tố tụng đầy đủ.
[3] Về nội dung kháng cáo toàn bộ bản án sơ thẩm của bị đơn, đề nghị huỷ án và đình chỉ giải quyết yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Xét về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án:
Căn cứ Điều 463 Bộ luật dân sự năm 2015; khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015;
Căn cứ vào Công văn số 4773/PC03-Đ1 ngày 09/11/2023, của Phòng cảnh sát kinh tế Công an Thành phố H về việc Phúc đáp công văn số 1770/2023/TAQBTH ngày 25/10/2023;
Căn cứ vào Điều 186, Điều 187, Điều 188, Điều 189, Điều 195 Bộ luật tố tụng Dân sự năm 2015;
Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh thụ lý và giải quyết vụ án nêu trên theo thủ tục tố tụng dân sự là đúng quy định.
Về Đơn yêu cầu phản tố ngày 19/8/2024 của bị đơn ông Trần Vũ Xuân L, Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã ban hành Thông báo số 2090/TB-TA ngày 22/08/2024 yêu cầu ông Lâm S lại Đơn yêu cầu phản tố theo quy định tại Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự và cung cấp tài liệu chứng cứ kèm theo đối với yêu cầu phản tố và đã gửi đến cho ông L thông qua đường bưu điện vào ngày 26/8/2024. Do nội dung tại đơn phản tố ngày 19/8/2024 và Đơn đề nghị ngày 04/9/2024 của bị đơn không đáp ứng với quy định tại Điều 200 Bộ luật tố tụng dân sự nên Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh đã ban hành Thông báo số 2250/TB-TA ngày 16/9/2024, trả lại đơn phản tố cho ông L là phù hợp.
Đối với Quyết định số 635/2024/QĐ-CCTLCC ngày 08/3/2024; Quyết định số 1439/2024/QĐ-CCTLCC ngày 13/5/2024; Quyết định số 1438/2024/QĐ-CCTLCC ngày 13/5/2024; Quyết định số 2508/2024/QĐ-CCTLCC ngày 10/7/2024; Toà án nhân dân quận Bình Thạnh đã liệt kê và công khai các tài liệu do các đương sự nộp tại Biên bản kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ ngày 22/11/2024.
Đối với yêu cầu của bị đơn về việc làm rõ số tiền đã bị trích trừ liên quan đến Hợp đồng tín dụng số 1615370.20 ngày 13/11/2020. Đối với khoản vay này ngân hàng không có yêu cầu khởi kiện trong vụ án này nên cấp sơ thẩm không xem xét là phù hợp.
Về yêu cầu của các đương sự:
Xét yêu cầu của nguyên đơn buộc buộc bị đơn thanh toán ngay cho V tổng số tiền còn thiếu tính đến ngày 30/12/2024 là 6.251.311.097 đồng (Sáu tỷ, hai trăm năm mươi mốt triệu, ba trăm mười một nghìn, không trăm chín mươi bảy đồng) trong đó:
- + Số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 1713176.20 là 2.769.750.000 đồng; Nợ lãi trong hạn là: 440.276.672 đồng; Nợ lãi quá hạn là 813.276.908 đồng;
- + Số tiền nợ gốc của Hợp đồng tín dụng số 7093076.21 là 1.435.877.800 đồng; Nợ lãi trong hạn là 226.035.378 đồng; Nợ lãi quá hạn là 412.327.687 đồng;
- + Số tiền nợ phát sinh từ thẻ tín dụng số 5138920000667124 là: 153.766.652 đồng; trong đó nợ gốc là 84.042.462 đồng; nợ lãi quá hạn là 37.633.091 đồng; nợ phí là 32.091.099 đồng.
Buộc bị đơn còn phải tiếp tục trả tiền lãi, phạt chậm trả theo mức lãi suất đã quy định tại hợp đồng trên số tiền chưa thanh toán kể từ ngày 31/12/2024 đến ngày trả hết nợ,
Căn cứ các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, xác định giữa nguyên đơn và bị đơn có ký kết các hợp đồng tín dụng sau:
- Hợp đồng tín dụng số 1713176.20 ngày 27/8/2020 để vay số tiền: 3.000.000.000 đồng (Ba tỷ đồng); được giải ngân vào ngày 31/8/2020;
- Hợp đồng tín dụng số 7093076.21 ngày 15/9/2021 để vay số tiền: 1.437.756.000 đồng (Một tỷ bốn trăm ba mươi bảy triệu bảy trăm năm mươi sáu ngàn đồng); được giải ngân vào ngày 16/9/2021;
- Thẻ tín dụng số 5138920000667124 theo Hợp đồng phát hành thẻ ngày 28/4/2021 với hạn mức 90.000.000 đồng.
Về số tiền nợ gốc, là lãi:
Đối với hợp đồng tín dụng số 1713176.20, L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Ông L đã thanh toán cho Ngân hàng V với tổng số tiền là 928.565.159 đồng (trong đó: nợ gốc là 230.250.000 đồng; nợ lãi là 698.315.159 đồng) Ngày 11/4/2023, V đã chuyển nợ quá hạn (theo thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn số 035689.23 ngày 30/3/2023).
Xét nguyên đơn căn cứ Mục 6 về lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất của đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3544928.20 ngày 31/08/2020; và điểm 1.8, Điều 1 về các quy định liên quan đến cấp tín dụng (Trang 5) của HĐTD số 1713176.20 ký ngày 27/08/2020.
Căn cứ vào quy định tại điểm b, c, khoản 4, Điều 13 Thông tư 39/2016 quy định về hoạt động cho vay của tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng nước ngoài đối với khách hàng.
Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm; để xác định tiền gốc và lãi;
Nên nguyên đơn tạm tính đến ngày 30/12/2024, ông L còn nợ lại số tiền 4.023.303.580 đồng (trong đó: nợ gốc là 2.769.750.000 đồng; nợ lãi 1.253.553.580 đồng) là phù hợp.
Đối với Hợp đồng tín dụng số 7093076.21 ngày 15/09/2021 vay số tiền 1.475.000.000 đồng; ông L đã vi phạm nghĩa vụ thanh toán theo thỏa thuận trong hợp đồng. Ông Trần Vũ Xuân L đã thanh toán cho Ngân hàng V số tiền là 189.641.787 đồng (trong đó: nợ gốc là 39.122.200 đồng; nợ lãi là 150.519.587 đồng). Nguyên đơn đã có văn bản thông báo đến ông L, ngày 11/4/2023, V đã chuyển nợ quá hạn toàn bộ đối với khoản vay (theo thông báo thu hồi toàn bộ dư nợ khoản vay và chuyển nợ quá hạn số 035689.23 ngày 30/3/2023).
Xét nguyên đơn căn cứ điểm 1.4.6 Điều 1 về các quy định liên quan đến cấp tín dụng của Hợp đồng tín dụng số 7093076.21 ngày 15/09/2021.
Căn cứ mục 6 về lãi suất và kỳ điều chỉnh lãi suất của đơn đề nghị giải ngân kiêm khế ước nhận nợ số 3544928.20 ngày 31/8/2020;
Căn cứ Điểm b, c khoản 4 Điều 13 Thông tư 39/2016 quy định về hoạt động cho vay của Tổ chức tín dụng, Chi nhánh ngân hàng N đối với khách hàng cá nhân và Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11/01/2019 hướng dẫn một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm;
Nên nguyên đơn tạm tính đến ngày 30/12/2024, ông L còn nợ ngân hàng số tiền 2.074.240.865 đồng (trong đó: nợ gốc là 1.435.877.800 đồng; nợ lãi là 638.363.065 đồng) là phù hợp.
Căn cứ Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế ngày 28/04/2021, VIB đồng ý cấp thẻ tín dụng cho ông Trần Vũ Xuân L, chi tiết số thẻ như sau: 5138920000667124; loại thẻ: V, Hạn mức thẻ: 90.000.000 đồng; lãi suất, phí: theo Biểu phí và Điều khoản điều kiện của V từng thời kỳ. Ngoài ra, V có cung cấp website: vib.com.vn để khách hàng cập nhật thông tin về lãi và phí.
Trong quá trình sử dụng Thẻ tín dụng ông L không thanh toán đúng hạn và đầy đủ số tiền đã sử dụng.
Số tiền nợ phát sinh từ thẻ tín dụng số 5138920000667124 là: 153.766.652 đồng; trong đó nợ gốc là 84.042.462 đồng; nợ lãi quá hạn là 37.633.091 đồng; nợ phí là 32.091.099 đồng.
Cấp sơ thẩm căn cứ các Điều 116, 117, 118, 119, 401, 463, 464, 465, 466, của Bộ luật dân sự; Điều 90 Luật tổ chức tín dụng buộc bị đơn có nghĩa vụ thanh toán các khoản tiền trên là phù hợp.
Yêu cầu của nguyên đơn về việc được quyền yêu cầu cơ quan có thẩm quyền phát mãi tài sản thế chấp là quyền sử dụng đất tại thửa đất số: 97, tờ bản đồ số: 37; Địa chỉ: 6 X, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh theo Giấy chứng nhận Quyền sở hữu Nhà ở và Quyền sử dụng đất ở hồ sơ gốc số 14250/2002 do Uỷ ban nhân dâ Thành phố Hồ Chí Minh cấp ngày 30/05/2001 đứng tên ông Trần Xuân L1 và bà Vũ Thị Quý P1 theo Hợp đồng thế chấp Quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số 7531980.20 ngày 28/08/2020 và được Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng ngày 28/08/2020; số công chứng: 020329, Quyển số: 8 TP/CC-SCC/HĐGD để thu hồi nợ cho Ngân hàng trong trường hợp bị đơn không trả hoặc trả không đầy đủ số tiền còn nợ;
Căn cứ Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất, tài sản gắn liền với đất được Văn phòng C1, Thành phố Hồ Chí Minh công chứng theo số 020329, Quyển số: 8 TP/CC-SCC/HĐGD ngày 28/08/2020. Căn cứ công văn số 1297/CNBTH ngày 22/03/2024, về việc cung cấp thông tin của Văn phòng đăng ký đất đai Thành phố H – Chi nhánh quận B trả lời theo Công văn số 37/2024/CV-TABTH ngày 05/01/2024;
Căn cứ Điều 1 của Hợp đồng thế chấp quyền sử dụng đất và tài sản gắn liền với đất số: 7531980.20 ngày 28/08/2020;
Do đó, yêu cầu này của nguyên đơn phù hợp với thỏa thuận trong hợp đồng thế chấp tài sản đã ký giữa các bên cũng như quy định tại Điều 292, Điều 293, Điều 298, Điều 317, Điều 323 của Bộ luật dân sự năm 2015 và Điều 43 Nghị định số 163/2006/NĐ-CP ngày 29/12/2006 của Chính phủ về giao dịch bảo đảm nên có căn cứ để chấp nhận.
Đối với các yêu cầu xử lý về tố giác tội phạm của bị đơn, không thuộc phạm vi xét xử phúc thẩm nên toà không xem xét.
Về yêu cầu giám định chữ ký ông L không đóng tiền tạm ứng chi phí tố tụng theo quy định nên cấp sơ thẩm không thể tiến hành trưng cầu giám định chữ ký và chữ viết; đồng thời tại biên bản phiên toà sơ thẩm ông L có xác nhận có ký hợp đồng vay số tiền 1.475.000.000 đồng nhưng không phải ký ngày 15/9/2021. Do vậy cấp sơ thẩm không xem xét đánh giá đối với yêu cầu này là phù hợp.
Từ những nhận định trên, xét cấp sơ thẩm đã điều tra đầy đủ, áp dụng đúng trình tự thủ tục tố tụng nên yêu cầu kháng cáo của bị đơn là không có cơ sở nên không được chấp nhận.
Xét đề nghị giữ nguyên bản án sơ thẩm của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh là phù hợp với nhận định của Toà án.
Án phí dân sự phúc thẩm: Do yêu cầu kháng cáo của bị đơn không được chấp nhận nên bị đơn phải nộp phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ Điều 272, Điều 273, Khoản 1 Điều 308 Bộ luật tố tụng dân sự năm 2015;
- Căn cứ Nghị quyết 326/2016/ UBTVQH14 Nghị Quyết quy định về mức thu, miễn, giảm, thu nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
- Căn cứ Luật Thi hành án dân sự;
Tuyên xử:
1. Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn ông Trần Vũ Xuân L.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 2632/2024/DS-ST ngày 30 tháng 12 năm 2024 của Tòa án nhân dân quận Bình Thạnh Thành phố Hồ Chí Minh.
2. Án phí dân sự phúc thẩm: Bị đơn phải nộp án phí dân sự phúc thẩm là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) được trừ vào số tiền tạm ứng án phí đã nộp là 300.000 đồng (Ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng phí số 0053143 ngày 01/4/2025 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Bình Thạnh, ông L đã nộp xong.
Trường hợp quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án, người phải thi hành án có quyền thoả thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b, 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
3. Bản án phúc thẩm có hiệu lực kể từ ngày tuyên án.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Huỳnh Thị Như Hà |
Bản án số 567/2025/DS-PT ngày 23/05/2025 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 567/2025/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 23/05/2025
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: tranh chấp hợp đồng tín dụng
