|
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 567/2024/DS-ST
Ngày: 08/8/2024
V/v tranh chấp hợp đồng vay tài sản
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Võ Phước Lý
Các Hội thẩm nhân dân:
Ông Lê Văn Ngọc
Ông Nguyễn Tấn Nghiệp
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Đài Trang- Thư ký Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Trần Ngọc Ánh- Kiểm sát viên.
Ngày 08 tháng 8 năm 2024 tại trụ sở Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án thụ lý số 208/2024/TLST–DS ngày 04 tháng 4 năm 2024 về tranh chấp hợp đồng vay tài sản theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 424/2024/QĐST-DS ngày 25 tháng 6 năm 2024 và Quyết định hoãn phiên tòa số 277/2024/QĐST-DS ngày 16 tháng 7 năm 2024 giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP S, địa chỉ: Lầu H, 2 N, Phường V, Quận C, Tp ..
Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Công ty TNHH Một thành viên Q và khai thác tài sản Ngân hàng S; địa chỉ: Số B N, Phường V, Quận C, Tp (Văn bản ủy quyền số 2535A/2022/GUQ-PL ngày 12/10/2022)
Người được ủy quyền lại: Ông Nguyễn Nhật Kinh K; địa chỉ: Số B N, Phường V, Quận C, Tp. (Văn bản ủy quyền ngày 02/5/2024)
2. Bị đơn: Ông Nguyễn Thế A, sinh năm 1986; địa chỉ: B P, Phường B, quận T, Tp ..
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, nguyên đơn Ngân hàng TMCP S và lời khai của người đại theo ủy quyền trình bày:
Ngày 06/10/2011, ông Nguyễn Thế A đã ký giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng và bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng với Ngân hàng TMCP S. Căn cứ thu nhập của ông Nguyễn Thế A, Ngân hàng đã đồng ý cấp cho ông Nguyễn Thế A thẻ tín dụng số 464932-2291 với hạn mức 23.000.000đ.
Sau khi được cấp thẻ tín dụng ông Nguyễn Thế A đã thực hiện các giao dịch với tổng số tiền 1.419.775đ, không thanh toán khoản nào. Sau thời gian sử dụng ông A không có thiện chí trả nợ, vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Ngày 26/9/2012, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ của ông A và chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn. Tính đến ngày 21/5/2024, ông A còn nợ: 14.044.135đ, gồm: nợ gốc: 2.518.887đ, lãi quá hạn: 11.525.248đ.
Bị đơn vi phạm nghĩa vụ thanh toán đã lâu, không thông báo cho Ngân hàng biết về nơi cư trú mới, Ngân hàng vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ của thẻ tín dụng nêu trên; thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật; ngoài ra, bị đơn còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh kể từ 22/5/2024 theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi trả xong số nợ trên.
Bị đơn vắng mặt trong suốt quá trình tố tụng, không có ý kiến phản hồi về yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Tại phiên tòa,
Nguyên đơn do người đại diện theo ủy quyền có đơn xin vắng mặt trình bày: Vẫn giữ yêu cầu khởi kiện, yêu cầu Tòa án buộc bị đơn phải thanh toán cho Ngân hàng số tiền còn nợ, tính đến ngày 08/8/2024 bị đơn ông A còn nợ các khoản sau: Nợ gốc: 2.518.887đ (Hai triệu năm trăm mười tám ngàn tám trăm tám mươi bảy đồng); nợ lãi: 11.739.180đ (Mười một triệu bảy trăm ba mươi chín ngàn một trăm tám mươi đồng); tổng cộng: 14.258.067đ (Mười bốn triệu hai trăm năm mươi tám ngàn không trăm sáu mươi bảy đồng), thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật.
Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh kể từ 09/8/2024 theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng cho đến khi trả xong nợ gốc.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân quận Tân Bình phát biểu ý kiến:
Về tố tụng, trong quá trình thụ lý, giải quyết, xét xử vụ án Thẩm Phán, Hội đồng xét xử, đương sự đều đã chấp hành đúng các quy định của pháp luật về tố tụng dân sự. Từ khi thụ lý vụ án đến ngày xét xử, Tòa án đã vi phạm thời hạn chuẩn bị xét xử theo quy định tại khoản 1 Điều 203 Bộ luật tố tụng dân sự. Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của nguyên đơn.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa và căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về tố tụng:
[1.1] Về thẩm quyền giải quyết vụ án:
Theo đơn khởi kiện của nguyên đơn về việc “Tranh chấp hợp đồng vay tài sản” đối với bị đơn có nơi cư trú tại quận T nên theo quy định tại khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39 Bộ luật Tố tụng dân sự thì đây là vụ án dân sự thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
Ngày 15/9/2023, Tòa án nhân dân huyện Hóc Môn, Thành phố Hồ Chí Minh đã ban hành Quyết định số 715/2023/QĐST-DS chuyển hồ sơ vụ án dân sự cho Tòa án nhân dân quận Tân Bình giải quyết theo thẩm quyền, không có đương sự nào khiếu nại về việc chuyển hồ sơ vụ án là có cơ sở.
[1.2] Về nơi cư trú của đương sự: Xét Đơn khởi kiện, Giấy đề nghị cấp thẻ tín dụng kiêm hợp đồng ngày 06/10/2011, nguyên đơn đã cung cấp địa chỉ thường trú của bị đơn tại B P, Phường B, quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Tại kết quả xác minh của Công an P, quận T đã cung cấp thông tin: “Đương sự Nguyễn Thế A, sinh năm 1986, có đăng ký thường trú tại Phòng 615 Chung cư B H (Số cũ là số 02 P), Phường B, quận T. Hiện đương sự Nguyễn Thế A không còn thực tế cư trú tại địa chỉ trên. Căn nhà số B P đã giải tỏa; đương sự Anh đã chuyển về tạm trú tại Tổ I, Ấp C, xã X, huyện H từ ngày 10/9/2016”.
Tại kết quả xác minh của Công an xã X, huyện H đã cung cấp thông tin: “Đương sự Nguyễn Thế A, sinh năm 1986, hộ khẩu thường trú tại số B P, Phường B, quận T, đăng ký tạm trú tại nhà không số Tổ 9, Ấp C, xã X, huyện H từ năm 2016 đến năm 2018 thì đương sự đã bỏ địa phương đi đâu không rõ.”
Khoản 3 Điều 40 Bộ luật Dân sự năm 2015 quy định: “3. Trường hợp một bên trong quan hệ dân sự thay đổi nơi cư trú gắn với việc thực hiện quyền, nghĩa vụ thì phải thông báo cho bên kia biết về nơi cư trú mới.”
Ông A là bên có nghĩa vụ trả tiền vay, đã thay đổi nơi cư trú nhưng không thông báo cho bên cho vay được xem là trường hợp cố tình giấu địa chỉ. Tòa án nhân dân tống đạt, niêm yết văn bản tố tụng tại địa chỉ bên có nghĩa vụ ghi trong hợp đồng là phù hợp với quy định tại các điều 177 và 179 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015.
[1.3] Về sự có mặt của đương sự: Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai, nguyên đơn có đơn xin xét xử vắng mặt, bị đơn vắng mặt không có lý do chính đáng và không có người đại diện tham gia phiên tòa nên Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt đương sự theo quy định tại khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228 Bộ luật tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung:
[2.1] Căn cứ vào các tài liệu, chứng cứ và lời khai của đương sự đã được xem xét tại phiên tòa đã đủ cơ sở xác định:
Ngày 06/10/2011, Ngân hàng TMCP S và Ông Nguyễn Thế A đã ký hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng và phụ lục kèm theo, loại thẻ Visa, số thẻ 464932-2291 với hạn mức 23.000.000đ, mục đích tiêu dùng cá nhân. Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng có hình thức và nội dung phù hợp với các điều 401, 402, 405 của Bộ luật dân sự năm 2015 nên có hiệu lực đối với các bên tham gia hợp đồng.
Tại bản tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp thể hiện: Sau khi được cấp thẻ tín dụng, ông A đã thực hiện 01 giao dịch ngày 25/02/2012 nhưng không thanh toán cho Ngân hàng khoản nợ nào kể cả khoản giao dịch này, lãi, phí và phí trễ hạn.
[2.2] Đối với yêu cầu của nguyên đơn về yêu cầu trả nợ gốc và lãi:
Căn cứ Hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 06/10/2011 và tóm tắt sao kê do Ngân hàng cung cấp đã đủ cơ sở xác định ông A đã sử dụng thẻ tín dụng thực hiện giao dịch và vi phạm nghĩa vụ thanh toán. Do đó, Ngân hàng đã chấm dứt quyền sử dụng thẻ, chuyển toàn bộ dư nợ còn thiếu sang nợ quá hạn và yêu cầu bị đơn thanh toán tiền còn nợ và tiền lãi phát sinh là phù hợp với thỏa thuận đã quy định tại Điều 2, Điều 20, Điều 23 của Bản điều khoản và điều kiện phát hành và sử dụng thẻ tín dụng của Ngân hàng kèm theo hợp đồng sử dụng thẻ tín dụng ngày 26/12/2019 và Quyết định số 02399/2019/QĐ-TTT ngày 06/8/2019 về ban hành biểu phí sản phẩm dịch vụ thẻ S1 phát hành tại Việt Nam.
Căn cứ khoản 1, Điều 95 Luật các tổ chức tín dụngđịnh: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt việc cấp tín dụng, thu hồi nợ trước hạn khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm các quy định trong hợp đồng cấp tín dụng”.
Căn cứ khoản 2, Điều 91 Luật các tổ chức tín dụng qui định: “Tổ chức tín dụng và khách hàng có quyền thỏa thuận về lãi suất, phí cấp tín dụng trong hoạt động ngân hàng của tổ chức tín dụng theo quy định của pháp luật”.
Từ những căn cứ trên, Hội đồng xét xử chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn, buộc bị đơn phải thanh toán tiền nợ gốc và tiền lãi. Cụ thể: Nợ gốc: 2.518.887đ (Hai triệu năm trăm mười tám ngàn tám trăm tám mươi bảy đồng); nợ lãi: 11.739.180đ (Mười một triệu bảy trăm ba mươi chín ngàn một trăm tám mươi đồng); tổng cộng: 14.258.067đ (Mười bốn triệu hai trăm năm mươi tám ngàn không trăm sáu mươi bảy đồng).
Xét việc bị đơn chậm thực hiện nghĩa vụ thanh toán đã gây thiệt hại đến quyền, lợi ích hợp pháp của nguyên đơn nên cần buộc bị đơn thanh toán toàn bộ số nợ trên ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Ngoài ra, bị đơn còn phải chịu thêm tiền lãi phát sinh kể từ ngày tiếp theo ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi trả xong dứt nợ theo lãi suất thỏa thuận tại hợp đồng.
Quá trình thụ lý và giải quyết vụ án và tại phiên tòa hôm nay, ông A vắng mặt không lý do chính đáng, cũng không đưa ra phản hồi hay chứng cứ nào để chứng minh cho quan điểm của mình. Vì vậy, ông A phải chịu hậu quả pháp lý đối với sự vắng mặt của mình.
[3] Về án phí dân sự sơ thẩm: Do có nghĩa vụ thanh toán nên bị đơn phải chịu án phí theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
- - Căn cứ khoản 3 Điều 26, điểm a khoản 1 Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39; khoản 2 Điều 227; khoản 1, 3 Điều 228; Điều 147; khoản 1 Điều 273; khoản 1 Điều 280 Bộ luật tố tụng dân sự;
- - Căn cứ các điều 280; 463; 466 của Bộ luật dân sự 2015;
- - Căn cứ vào khoản 2 Điều 91; Điều 95 Luật tổ chức tín dụng năm 2010;
- - Căn cứ Điều 26 Luật Thi hành án Dân sự đã được sửa đổi, bổ sung;
- - Căn cứ Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng TMCP S.
- Buộc ông Nguyễn Thế A phải thanh toán cho Ngân hàng TMCP S số tiền còn nợ bao gồm: Nợ gốc: 2.518.887đ (Hai triệu năm trăm mười tám ngàn tám trăm tám mươi bảy đồng); nợ lãi: 11.739.180đ (Mười một triệu bảy trăm ba mươi chín ngàn một trăm tám mươi đồng); tổng cộng: 14.258.067đ (Mười bốn triệu hai trăm năm mươi tám ngàn không trăm sáu mươi bảy đồng).
- Thanh toán ngay sau khi án có hiệu lực pháp luật. Thi hành tại Chi cục Thi hành án dân sự có thẩm quyền.
- Kể từ ngày tiếp theo của ngày xét xử sơ thẩm cho đến khi thi hành xong, bên phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi quá hạn của số tiền chưa thanh toán theo mức lãi suất các bên thỏa thuận trong hợp đồng. Trường hợp trong hợp đồng tín dụng, các bên có thỏa thuận về việc điều chỉnh lãi suất cho vay theo từng thời kỳ của Ngân hàng cho vay thì lãi suất sẽ được tiếp tục điều chỉnh tại giai đoạn thi hành án.
- Án phí dân sự sơ thẩm: Ông Nguyễn Thế A phải chịu 712.903đ (Bảy trăm mười hai ngàn chín trăm lẻ ba đồng).
- Hoàn lại cho nguyên đơn Ngân hàng TMCP S số tiền tạm ứng án phí 300.000đ (Ba trăm ngàn đồng) theo Biên lai thu số 0030930 ngày 25/01/2022 của Chi cục Thi hành án dân sự quận Tân Bình, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Các đương sự có quyền làm đơn kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án, đương sự vắng mặt tại phiên tòa thì thời hạn kháng cáo tính từ ngày được tống đạt hợp lệ bản án hoặc niêm yết bản án.
- Viện kiểm sát nhân dân được quyền kháng nghị theo quy định của Bộ luật tố tụng dân sự.
|
Nơi nhận:
|
T.M HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Võ Phước Lý |
Bản án số 567/2024/DS-ST ngày 08/08/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Số bản án: 567/2024/DS-ST
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 08/08/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN QUẬN TÂN BÌNH, THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Tranh chấp hợp đồng vay tài sản NH Sacombank-An
