TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 567/2023/HSST Ngày: 05/12/2023 |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
Với thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Ông Phùng Văn Hải
Các Hội thẩm nhân dân:
- Bà Nguyễn Thị Thanh Mai
- Ông Phạm Văn Hải
Thư ký Tòa án ghi biên bản phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Kiều Trang – Cán bộ Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Hương Liễu - Kiểm sát viên
Ngày 05 tháng 12 năm 2023, tại Trụ sở Tòa án nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm vụ án hình sự thụ lý số 853/2023/HSST ngày 27 tháng 10 năm 2023 theo quyết định đưa vụ án ra xét xử số 5314/2023/QĐXXST-HS ngày 13 tháng 11 năm 2023 đối với bị cáo:
Họ và tên: Phan Văn T; giới tính: nam; Sinh ngày: 05/6/1986 tại: tỉnh Đồng Nai; Hộ khẩu thường trú: số nhà 1261B đường A, Tổ B, ấp C, xã D, huyện E, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi ở hiện tại: Không nơi cư trú nhất định; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; trình độ văn hóa: Không biết chữ; nghề nghiệp: Không; con ông: Phan Văn K và bà Nguyễn Thị U; hoàn cảnh gia đình: bị cáo chưa có vợ con; Tiền án: không; Tiền sự: Ngày 07/12/2021 bị Tòa án Nhân dân Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh ra Quyết định áp dụng biện pháp xử lý hành chính đưa vào cơ sở cai nghiện bắt buộc thời hạn là 12 tháng, chấp hành tại Cơ sở cai nghiện ma túy Phước Bình. Ngày 01/9/2022, chấp hành xong; Bị cáo bị tạm giam từ ngày 05/7/2023 - có mặt.
Bị hại: Bà J, sinh năm: 1975; Quốc tịch: Australia; Địa chỉ: B22.04 chung cư A, số 151 B, Phường C, Quận T, thành phố Hồ Chí Minh – Vắng mặt.
NỘI DUNG VỤ ÁN
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 04/7/2023, Phan Văn T đang ngồi tại dạ cầu C, Phường D, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì nhìn thấy bà J, bà E và bà B (cùng Quốc tịch Úc) đang đi bộ, trên tay bà J đang cầm điện thoại di động Iphone 12 màu đen. T nảy sinh ý định cướp giật điện thoại bán lấy tiền tiêu xài nên đi bộ theo phía sau bà J. Khi đến khu vực đối diện số 57-59 B, Phường D, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, T áp sát và nhanh chóng dùng tay phải giật điện thoại di động trên tay bà J, xoay người chạy theo hướng ngược chiều để tẩu thoát. Lúc này, bà J, bà E và bà B đuổi theo Phan Văn T dọc theo con đường ở phía dưới dạ cầu C. Trên đường tẩu thoát, T gặp người phụ nữ tên “Lùn”, T đưa điện thoại và dặn “Lùn” mang đi bán, “Lùn” đồng ý, cầm điện thoại và bỏ đi; T tiếp tục băng qua vạch phân cách của đường B, bỏ chạy. Bà J, bà E tiếp tục đuổi theo T đến đối diện số 80 Bis B, Phường 9, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh thì giữ được T nhưng khi kiểm tra thì không phát hiện thấy điện thoại của bà J. Sau đó, bà J, bà E, bà B đưa T đến Công an Phường D, Quận T trình báo.
Đến ngày 05/7/2023, theo định vị, bà J phát hiện vị trí của điện thoại di động bị cướp giật tại khu vực đường V, Quận T. Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T xác định được vị trí điện thoại di động Iphone 12 màu đen của bà J tại cửa hàng mua bán điện thoại số 58 V, Phường F, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh.
Qua làm việc, chủ cửa hàng mua bán điện thoại là anh Lê Thanh D trình bày: Vào khoảng 15 giờ 00 phút ngày 04/7/2023, có 01 người đàn ông mặc trang phục xe ôm công nghệ Grab (chưa rõ nhân thân lai lịch) đến đưa điện thoại di động Iphone 12 màu đen với yêu cầu mở khóa màn hình điện thoại và mở khóa icloud. Anh D hẹn người đàn ông này khoảng 01 tuần sau quay lại lấy máy và trả tiền mở khóa mật khẩu. Khi biết điện thoại trên là tài sản cướp giật mà có anh D đã tự nguyện giao nộp điện thoại di động này cho Cơ quan Công an (bút lục 114).
Theo Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận T, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen, số Imei 1: 353052113007102, số Imei 2: 353052113912343, đã qua sử dụng, trị giá 7.500.000 đồng (bảy triệu năm trăm nghìn đồng) (bút lục số 86).
Ngày 05/7/2023, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Quận T ra Lệnh bắt người bị giữ trong trường hợp khẩn cấp đối với Phan Văn T sau đó chuyển nguồn tin đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh để giải quyết theo thẩm quyền.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Văn T khai nhận hành vi “Cướp giật tài sản” phù hợp với tài liệu, chứng cứ đã thu thập được. Ngoài ra, Phan Văn T khai: T và “Lùn” sống chung như vợ chồng dưới chân cầu C, T không biết nhân thân, lai lịch của “Lùn”. Sau khi cướp giật, trong lúc tẩu thoát T thấy “Lùn” nên đã đưa điện thoại di động vừa cướp giật được cho và dặn “Lùn” mang đi bán, “Lùn” đồng ý và cầm điện thoại di động bỏ đi. Trước khi thực hiện hành vi cướp giật, giữa T và “Lùn” không có sự bàn bạc, thỏa T từ trước (bút lục 121-126).
* Vật chứng vụ án:
- - 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen, số Imei 1: 353052113007102, số Imei 2: 353052113912343, đã qua sử dụng, trị giá 7.500.000 đồng đã được thu hồi trả cho bị hại là bà J.
- - Ngoài ra Cơ quan điều tra còn thu giữ của Phan Văn T 01 quần Jean lửng màu xám, T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội.
* Về dân sự:
Ngày 05/7/2023, bị hại là bà J đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự (bút lục số 50).
Tại bản cáo trạng số 541/CT-VKS-P2 ngày 16/10/2023 của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố bị cáo Phan Văn T về tội “Cướp giật tài sản” quy định tại Khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, bị cáo khai nhận hành vi phạm tội như nội dung cáo trạng đã nêu và xin được xem xét giảm nhẹ hình phạt.
Đại diện Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh trình bày bản luận tội, xác định nội dung bản cáo trạng đã truy tố bị cáo là đúng người, đúng tội, không oan sai. Đồng thời, sau khi phân tích tính chất, mức độ, hậu quả hành vi phạm tội do bị cáo thực hiện đã đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017: Xử phạt bị cáo Phan Văn T từ 01 năm đến 01năm 06 tháng tù về tội “Cướp giật tài sản”.
Đối với vật chứng đề nghị giải quyết theo quy định pháp luật.
Căn cứ vào chứng cứ, tài liệu đã được thẩm tra tại phiên tòa; căn cứ vào kết quả tranh luận tại phiên tòa, trên cơ sở xem xét đầy đủ, toàn diện tài liệu, chứng cứ, ý kiến của Kiểm sát viên, luật sư và các bị cáo.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được thẩm tra, xét hỏi, tranh luận tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận thấy như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh, Điều tra viên, Viện kiểm sát Nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh, Kiểm sát viên, trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Đối với việc vắng mặt của bị hại: Đã được Tòa án triệu tập và niêm yết hợp lệ nên Hội đồng xét xử quyết định xét xử vắng mặt theo quy định tại Điều 292 Bộ luật Tố tụng hình sự là phù hợp.
[3] Tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa hôm nay, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi phạm tội của mình, lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của bị hại cùng các chứng cứ khác đã thu thập được có trong hồ sơ vụ án, từ đó xác định được: Vào khoảng 11 giờ 00 phút ngày 04/7/2023, tại dạ cầu C, đối diện số 57-59 B, Phường D, Quận T, Thành phố Hồ Chí Minh, Phan Văn T đi bộ áp sát và nhanh chóng dùng tay phải cướp giật điện thoại di động trên tay bà J rồi bỏ chạy thì bị bắt quả tang. Theo Kết luận định giá tài sản số 31/KL-HĐĐGTS ngày 10/7/2023 của Hội đồng định giá tài sản trong tố tụng hình sự Ủy ban nhân dân Quận T, kết luận: 01 (một) điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen, số Imei 1: 353052113007102, số Imei 2: 353052113912343, đã qua sử dụng, trị giá 7.500.000 đồng.
Hành vi phạm tội của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, đã xâm phạm quyền sở hữu tài sản hợp pháp của cá nhân được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội. Hành vi của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Cướp giật tài sản” quy định tại khoản 1 Điều 171 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017; Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo về tội danh và điều luật như trên là có căn cứ, đúng pháp luật.
[4] Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: bị cáo không có tình tiết tăng nặng.
[5] Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét thấy tại Cơ quan điều tra cũng như tại phiên tòa bị cáo đã khai báo thành khẩn, ăn năn hối cải, tài sản đã thu hồi trả lại cho bị hại nên được áp dụng quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, được sửa đổi bổ sung năm 2017 để giảm nhẹ một phần hình phạt.
[6] Từ những phân tích nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử xem xét hành vi của bị cáo, tính chất, mức độ, động cơ phạm tội, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ và nhân thân của bị cáo, xét cần có mức án nghiêm, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian, nhằm cải tạo giáo dục riêng đối với bị cáo và răn đe phòng ngừa tội phạm chung cho xã hội.
Đối với đối tượng tên “Lùn” đã nhận điện thoại di động hiệu Iphone 12 màu đen do Phan Văn T đưa sau khi cướp giật được. Do T khai không rõ lai lịch, địa chỉ nên Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố Hồ Chí Minh không có cơ sở để điều tra làm rõ để xử lý là phù hợp.
Đối với chủ cửa hàng mua bán điện thoại là anh Lê Thanh D khai nhận điện thoại di động Iphone 12 màu đen với yêu cầu mở khóa màn hình điện thoại và mở khóa icloud, không biết điện thoại trên là tài sản do cướp giật mà có và đã tự nguyện giao nộp điện thoại di động này cho Cơ quan Công an nên không xem xét xử lý là phù hợp.
Trên đây cũng là quan điểm lập luận của Hội đồng xét xử đối với đề nghị của đại diện Viện kiểm sát.
[7]Trách nhiệm dân sự và xử lý vật chứng:
Về trách nhiệm dân sự: Ngày 05/7/2023, bị hại là bà J đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường dân sự nên Hội đồng xét xử ghi nhận.
Về xử lý vật chứng:
Đối với 01 quần Jean lửng màu xám, T mặc khi thực hiện hành vi phạm tội tịch thu tiêu hủy.
[8]. Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo qui định tại Điều 136 Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 qui định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án có hiệu lực ngày 01 tháng 01 năm 2017.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
Căn cứ khoản 1 Điều 171, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017;
Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (một) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/7/2023.
Áp dụng Điều 106 Bộ luật Tố tụng hình sự:
- + Tịch thu tiêu hủy 01 quần Jean lửng màu xám.
(Theo Biên bản giao nhận tang tài vật số NK2024/046 ngày 09/11/2023 của Cục thi hành án dân sự Thành phố Hồ Chí Minh)
Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm 200.000 (hai trăm ngàn) đồng.
Trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án bị cáo có quyền kháng cáo xin xét xử phúc thẩm. Riêng bị hại vắng mặt có quyền kháng cáo bản án trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết hợp lệ.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Phùng Văn Hải |
Bản án số 567/2023/HSST ngày 05/12/2023 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự sơ thẩm (tội cướp giật tài sản)
- Số bản án: 567/2023/HSST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự Sơ thẩm (Tội Cướp giật tài sản)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 05/12/2023
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Xử phạt bị cáo Phan Văn T 01 (một) năm tù về tội “Cướp giật tài sản”. Thời hạn chấp hành hình phạt tù tính từ ngày 05/7/2023.
