Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ BIÊN HÒA

TỈNH ĐỒNG NAI

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập – Tự do – Hạnh phúc

Bản án số: 566/2024/HS-ST

Ngày: 23/10/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA - TỈNH ĐỒNG NAI

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Bà Thành Thị Thu Trang.

Các Hội thẩm nhân dân:

  1. Bà Thiều Thị Phi Loan
  2. Bà Huỳnh Thị Kim Kiên

Thư ký phiên tòa: Ông Phan Văn Tiến - Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tham gia phiên tòa:

Bà Lê Thị Lam - Kiểm sát viên.

Ngày 23 tháng 10 năm 2024, tại Trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa xét xử công khai vụ án hình sự sơ thẩm thụ lý số: 566/TLST-HS ngày 27 tháng 9 năm 2024, theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 562/2024/QĐXXST-HS ngày 07 tháng 10 năm 2024 đối với bị cáo:

Họ và tên: Lê Văn Đ - Giới tính: Nam.

Tên gọi khác: Không.

Sinh năm 1989, tại tỉnh Bạc Liêu.

Nơi thường trú: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

Quốc tịch: Việt Nam - Dân tộc: Kinh - Tôn giáo: Không.

Trình độ học vấn: Lớp 1/12. Nghề nghiệp: Làm thuê.

Họ tên cha: Lê Văn B, sinh năm 1970 (còn sống).

Họ tên mẹ ruột: Nguyễn Thị T, sinh năm 1970 (đã chết).

Gia đình có 05 anh em, bị cáo là con thứ nhất.

Sống chung như vợ chồng với Võ Thị H, sinh năm 1994. Bị cáo có 02 con sinh năm 2019 và năm 2021.

Tiền án, tiền sự: Không.

Bị cáo bị bắt truy nã ngày 02/5/2024, bị tạm giữ ngày 03/5/2024 và chuyển tạm giam ngày 09/5/2024 đến nay. Hiện bị cáo đang bị tạm giam tại Trại tạm giam B5 Công an tỉnh Đ.

(Có mặt)

Bị hại:

  1. Anh Nguyễn Thanh N, sinh năm 1983;
  2. Địa chỉ: Ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

  3. Anh Trần Văn Đ1, sinh năm 1986;
  4. Địa chỉ: Ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long.

(Bị hại có mặt)

Người làm chứng:

  1. Bà Nguyễn Thị H1, sinh năm 1968;
  2. Địa chỉ: Tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  3. Anh Hồ Ngọc T1, sinh năm 1983;
  4. Địa chỉ: Tổ A, khu phố A, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

  5. Chị Lê Thị Anh Đ2, sinh năm 1989;
  6. Địa chỉ: 7, Khóm C, thị trấn T, huyện T, tỉnh Vĩnh Long.

  7. Anh Đặng Lê Xuân T2, sinh năm 1982;
  8. Địa chỉ: Khu phố B, phường M, thành phố P - T, tỉnh Ninh Thuận.

  9. Anh Lê Văn B, sinh năm 1970;
  10. Địa chỉ: Ấp N, xã N, huyện H, tỉnh Bạc Liêu.

(Người làm chứng vắng mặt)

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lê Văn Đ thuê trọ và sinh sống tại dãy trọ của bà Nguyễn Thị H1 (sinh năm 1968) địa chỉ tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.

Khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/02/2023, anh Trần Văn Đ1 (sinh năm 1986, thường trú tại ấp M, xã M, huyện M, tỉnh Vĩnh Long) cùng anh Hồ Ngọc T1, chị Nguyễn Thị Anh Đ3, Đặng Lê Xuân T2 (là những người sống cùng dãy trọ với anh Đ1), bà Nguyễn Thị H1 (chủ dãy trọ nêu trên) và anh Nguyễn Thanh N (sinh năm 1983, thường trú tại ấp B, xã H, huyện M, tỉnh Vĩnh Long, là bạn của anh Đ1) đang tổ chức ăn uống tại hành lang dãy trọ (trước phòng trọ của bà H1 ) tại địa chỉ nêu trên.

Trong lúc đang ăn nhậu thì Đ điều khiển xe mô tô Honda Wave biển số 94F1 – 405.42 chở ông Lê Văn B (tên gọi khác là S, ba của Đ) đi từ trong phòng trọ ngang qua chỗ nhóm anh N đang nhậu. Do hành lang của dãy trọ hẹp nên Đ chạy xe qua bị vướng vào chiếu. Lúc này, anh Đ1 và anh N đứng lên có lời qua tiếng lại với Đ, ông B ra can ngăn thì xảy ra cãi vã. Lúc này, Đ chạy lại xe mô tô biển số 94F1 – 405.42 lấy 01 (một) cây kéo dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại mũi nhọn cầm trên tay xông đến đâm anh Trần Văn Đại liên t 04 (bốn) nhát trúng vào cổ bên phải, vai phải, vai trái, bàn tay trái gây thương tích. Sau đó, Đ tiếp tục cầm kéo quay qua đâm anh Nguyễn Thanh N 03 (ba) nhát: 01 (một) nhát trúng tay trái, 02 (hai) nhát trúng vai trái gây thương tích. Sau khi gây án, Đ và ông B chở anh Đ1 đến Bệnh viện ITO cấp cứu, do sợ bị bắt nên Đ bỏ trốn khỏi phòng trọ. Anh Đ1 và anh N trình báo sự việc đến Công an phường H. Công an phường H lập hồ sơ chuyển đến Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý.

Ngày 23/02/2023, anh Nguyễn Thanh N và anh Trần Văn Đ1 làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

Quá trình điều tra, Lê Văn Đ khai nhận hành vi phạm tội như trên.

* Vật chứng vụ án:

- 01 chiếc kéo dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại mũi nhọn.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 0258/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23/03/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận về thương tích của anh Nguyễn Thanh N như sau:

- Các kết quả chính:

  • + Tổn thương màng phổi trái gây tràn khí màng phổi trái đã phẫu thuật dẫn lưu hiện không để lại di chứng.
  • + Tổn thương đứt cơ gấp cổ tay quay trái đã được phẫu thuật khâu nối hiện để lại hạn chế vận động cổ tay trái mức độ ít.
  • + 02 sẹo vai trái kích thước 01x0,2cm và 3,5x0,2cm.
  • + Vết thương khâu da thưa 1/3 trên mặt ngoài cẳng tay trái kích thước 11x01cm.
  • + Vết biến đổi sắc tố da hông phải.
  • + Sẹo mổ dẫn lưu ngực bên trái kích thước 1x0,5cm.

- Kết luận: Căn cứ vào thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Nguyễn Thanh N - 1983 tại thời điểm giám định là 15% (mười lăm phần trăm).

  • + Vật gây thương tích vai trái là vật sắc nhọn, thương tích cẳng tay trái là vật sắc và thương tích hông phải là vật tày.

- Tại bản Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0694/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 25/07/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ (đối với thương tích của Nguyễn Thanh N) kết luận:

  • + Vết thương phức tạp vùng cẳng tay trái dài 10cm (đứt cơ cánh tay quay, cơ gấp cổ tay quay). Tổn thương này do vật sắc tác động vào vùng 1/3 trên mặt ngoài cẳng tay trái với lực mạnh theo hướng từ trái qua phải, từ ngoài vào trong hoặc trong trường hợp đối tượng dùng hung khí tác động vào vùng đầu của nạn nhân và theo phản xạ nạn nhân đưa tay lên đỡ thì sẽ có hướng từ trên xuống dưới.
  • + Vết thương vùng vai trái (để lại sẹo kích thước 01x0,2cm). Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng vai trái với lực mạnh theo hướng từ sau ra trước song song với về mặt tổn thương gây ra.
  • + Vết thương vùng vai trái (để lại sẹo kích thước 3,5cmx0,2cm), tràn khí màng phổi trái và trung thất. Tổn thương này do vật sắc nhọn tác động vào vùng vai trái với lực mạnh theo hướng từ sau ra trước gây ra.
  • + Xây xát da hông phải. Tổn thương này do vật tày tác động vào vùng hông phải với lực vừa đủ theo hướng từ ngoài vào trong và từ phải qua trái gây nên.
  • + Các tổn thương của nạn nhân thuộc loại cấp cứu có trì hoãn, ngay lập tức sẽ không ảnh hưởng đến tính mạng của nạn nhân nếu không được cấp cứu kịp thời.

* Tại bản Kết luận giám định tổn thương cơ thể trên người sống số: 0259/KLTTCT-TTPYĐN ngày 23/03/2023 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ kết luận về thương tích của anh Trần Văn Đ1 như sau:

- Các kết quả chính:

  • + Sẹo cổ phải kích thước 0,5x0,2cm.
  • + Sẹo vai phải kích thước 03x0,4cm.
  • + Sẹo lưng trái kích thước 2,8x0,2cm.
  • + Sẹo gan bàn tay trái kích thước 9,5x0,3cm.

Kết quả khác: Không.

- Kết luận: Căn cứ vào thông tư 22/2019/TT-BYT ngày 28/8/2019 của Bộ Y quy định tỷ lệ phần trăm tổn thương sử dụng trong giám định pháp y, xác định tỷ lệ phần trăm tổn thương cơ thể của Trần Văn Đ1 - 1986 tại thời điểm giám định là 07% (bảy phần trăm).

  • + Vật gây thương tích là vật sắc hoặc vật sắc nhọn.

* Tại bản Kết luận giám định cơ chế tổn thương qua hồ sơ số 0693/KLGĐCC-TTPYĐN ngày 25/07/2024 của Trung tâm Pháp y tỉnh Đ (đối với thương tích của Trần Văn Đ1) kết luận:

  • + Vết thương bàn tay trái hiện để lại sẹo kích thước 9,5x0,3cm. Tổn thương này do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động vào vùng bàn tay trái với lực nhẹ theo hướng từ trong ra ngoài (theo tư thế giải phẩu) hoặc trong trường hợp nạn nhân bị tác động vùng đầu mặt và theo phản xạ tự nhiên nạn nhân đưa tay lên đỡ sẽ có hướng từ trên xuống dưới gây nên, hoặc tác động theo hướng tiếp tuyến với da gây nên.
  • + Vết thương vai phải hiện để lại sẹo kích thước 03x0,4cm. Tổn thương này do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động vào vùng vai phải với lực tương đối theo hướng từ trên xuống dưới và chếch từ sau ra trước gây nên hoặc tác động theo hướng tiếp tuyến với da gây nên.
  • + Vết thương cổ phải hiện để lại sẹo kích thước 0,5x0,2cm. Tổn thương này do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động vào vùng cổ phải với lực nhẹ theo hướng từ phải qua trái hoặc tác động theo hướng tiếp tuyến với da gây nên.
  • + Vết thương lưng trái hiện để lại sẹo kích thước 2,8x0,2cm. Tổn thương này do vật sắc hoặc vật sắc nhọn tác động vào vùng lưng trái với lực tương đối theo hướng từ sau ra trước gây nên, hoặc tác động theo hướng tiếp tuyến với da gây nên.
  • + Các tổn thương của bệnh nhân thuộc loại cấp cứu có trì hoãn, ngay lập tức không ảnh hưởng đến tính mạng.

Về trách nhiệm dân sự: Bị hại anh Nguyễn Thanh N yêu cầu Lê Văn Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích với số tiền: 50.000.000₫ (năm mươi triệu đồng). Anh Lê Văn Đ4 yêu cầu Lê Văn Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích với số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Bị can Đen chưa bồi thường.

Tại cáo trạng số: 563/CT/VKS-HS ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa đã truy tố Lê Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”, theo quy định điểm đ khoản 2 Điều 134 Bộ luật hình sự.

Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa trong phần tranh luận vẫn giữ nguyên quyết định truy tố, đồng thời đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự, xử phạt bị cáo Lê Văn Đ với mức án 02 (hai) năm 06 (sáu) tháng đến 03 (ba) năm tù.

Về trách nhiệm dân sự: Buộc bị cáo Lê Văn Đ bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh NLê Văn Đ4 theo quy định pháp luật.

Về án phí: Bị cáo nộp án phí theo quy định.

Bị cáo và bị hại không có ý kiến tranh luận. Trong lời nói sau cùng bị cáo đã nhận thức rõ về hành vi phạm tội của mình và xin Hội đồng xét xử giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về tố tụng:

Trong suốt quá trình điều tra, truy tố và xét xử, các hành vi, quyết định tố tụng của những người tiến hành tố tụng phù hợp với quy định của pháp luật tố tụng hình sự; các văn bản tố tụng được tống đạt hợp lệ và đầy đủ. Bị cáo, bị hại không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, hành vi, quyết định của cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng trong vụ án này đều hợp pháp, nên Hội đồng xét xử không đặt ra giải quyết.

[2] Về nội dung vụ án, tội danh và áp dụng điều luật:

Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội. Lời khai nhận tội của bị cáo phù hợp với lời khai trong biên bản hỏi cung bị can, kết luận giám định, biên bản ghi lời khai của bị hại, người làm chứng cùng các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào khoảng 20 giờ 30 phút ngày 19/02/2023, tại hành lang dãy trọ nhà bà Nguyễn Thị H1 thuộc tổ A, khu phố B, phường H, thành phố B, tỉnh Đồng Nai. Do mâu thuẫn trong sinh hoạt khi Lê Văn Đ chở ông Lê Văn B (cha của Đ) đi qua hành lang nơi anh Trần Văn Đ1 và anh Nguyễn Thanh N cùng bạn đang ngồi nhậu dẫn đến Đen cãi vã và xô xát với anh N và anh Đ1. Lê Văn Đ đã có hành vi dùng 01 cây kéo dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại mũi nhọn đâm anh Trần Văn Đ1 04 nhát vào cổ bên phải, vai phải, vai trái, 01 bàn tay trái gây thương tích cho anh Đ1 với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 07 %. Đâm anh Nguyễn Thanh N 03 nhát vào tay trái, vai trái gây thương tích với tỷ lệ tổn thương cơ thể là 15%. Ngày 23/02/2023, anh Nguyễn Thanh N và anh Trần Văn Đ1 làm đơn yêu cầu khởi tố vụ án hình sự.

- Về tội danh: Từ căn cứ trên, xác định bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích” quy định tại điểm đ khoản 2, Điều 134 của Bộ luật Hình sự năm 2015 (sửa đổi, bổ sung năm 2017).

Như vậy, bản cáo trạng số 563/CT/VKS-HS ngày 26 tháng 9 năm 2024 của Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai và kết luận của Kiểm sát viên đề nghị truy tố bị cáo về tội “cố ý gây thương tích” theo điều khoản tương ứng nêu trên là có căn cứ, đúng người, đúng tội và đúng pháp luật.

[3] Về tính chất mức độ hành vi phạm tội: Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm đến tính mạng, sức khỏe của công dân được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự, gây bất bình cho quần chúng nhân dân tại địa phương. Bị cáo là người đã trưởng thành nên có đủ nhận biết hành vi cố ý gây thương tích cho bị hại là vi phạm pháp luật. Chỉ vì mâu thuẫn nhỏ trong sinh hoạt mà bị cáo đã dùng kéo đâm liên tiếp bị hại gây tổn thương cơ thể cho anh Đ1 với tỷ lệ 7%, anh N với tỷ lệ là 15%. Hành vi dùng hung khí nguy hiểm để gây thương tích cho bị hại của bị cáo thể hiện tính chất hung hãn, côn đồ. Do đó, cần thiết xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian nhằm răn đe, cải tạo giáo dục và phòng ngừa tội phạm chung.

[4] Về tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự:

Về tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Bị cáo không có tình tiết tăng nặng theo quy định tại Điều 52 Bộ luật hình sự.

Về tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải. Bị cáo có nhân thân tốt, chưa có tiền án, tiền sự. Bị cáo có hoàn cảnh khó khăn, vợ bỏ đi, một mình nuôi hai con nhỏ. Hiện nay hai con đang gửi ở Chùa do không có người chăm sóc, nuôi dưỡng. Đây là các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự.

Từ những nhận định trên, xét về tính chất, mức độ nguy hiểm, vai trò, hậu quả của hành vi phạm tội gây ra, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo cũng như yêu cầu của việc đấu tranh phòng chống tội phạm, Hội đồng xét xử cần áp dụng hình phạt tù có thời hạn đối với bị cáo để đảm bảo sự nghiêm minh của phát luật và giáo dục, răn đe phòng ngừa chung đồng thời xem xét giảm nhẹ một phần trách nhiệm hình sự cho bị cáo để thể hiện tính nhân đạo và sự khoan hồng của pháp luật Nhà nước ta.

[5] Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại mũi nhọn do Đ sử dụng gây án.

[6] Về bồi thường dân sự: Bị hại anh Nguyễn Thanh N yêu cầu Lê Văn Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích với số tiền: 50.000.000đ (năm mươi triệu đồng). Anh Lê Văn Đ4 yêu cầu Lê Văn Đ bồi thường chi phí điều trị thương tích với số tiền 20.000.000₫ (Hai mươi triệu đồng). Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường cho các bị hại số tiền yêu cầu nên Hội đồng xét xử ghi nhận sự tự nguyện của bị cáo.

[7] Về án phí: Bị cáo phải nộp án phí hình sự sơ thẩm và án phí dân sự sơ thẩm theo quy định pháp luật.

[8] Đối với phần trình bày và đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa tại phiên tòa, xét thấy phù hợp với những phân tích nêu trên, Hội đồng xét xử sẽ xem xét khi quyết định về vụ án.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Căn cứ điểm đ khoản 2 Điều 134, điểm s khoản 1, khoản 2 Điều 51, Điều 38 Bộ luật hình sự năm 2015;
    • - Tuyên bố bị cáo Lê Văn Đ phạm tội “Cố ý gây thương tích”.
    • - Xử phạt bị cáo Lê Văn Đ 02 (hai) năm tù, thời hạn tù tính từ ngày 03/5/2024.
  2. Về trách nhiệm bồi thường dân sự: Áp dụng các Điều 48 Bộ luật hình sự; Điều 584; Điều 585; Điều 590 Bộ luật Dân sự năm 2015: Buộc bị cáo Lê Văn Đ có nghĩa vụ bồi thường cho bị hại Nguyễn Thanh N số tiền 50.000.000đ (Năm mươi triệu đồng), bồi thường cho bị hại Trần Văn Đại số tiền 20.000.000đ (Hai mươi triệu đồng).
  3. Kể từ ngày bản án có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, bên thi hành án phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015

    Bản án này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.

  4. Về xử lý vật chứng: Căn cứ Điều 47 Bộ luật Hình sự và Điều 106 Bộ luật tố tụng Hình sự: Tịch thu tiêu hủy 01 chiếc kéo dài khoảng 20cm, cán bằng nhựa màu đen, lưỡi bằng kim loại mũi nhọn do bị cáo sử dụng gây án.
  5. Theo biên bản giao nhận vật chứng tài sản ngày 27/9/2024 tại Chi cục thi hành án dân sự Thành phố Biên Hòa.

  6. Về án phí: Áp dụng Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự; Nghị quyết số: 326/2016/NQ-UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
  7. Buộc bị cáo Lê Văn Đ phải nộp 200.000 đồng (hai trăm nghìn đồng) án phí hình sự sơ thẩm và 3.500.000đ (ba triệu năm trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm.

  8. Quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331, 333 của Bộ luật Tố tụng Hình sự;
  9. Bị cáo và bị hại được kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án.

Nơi nhận:

  • - TAND tỉnh;
  • - VKSND TP.Biên Hòa;
  • - THA Biên Hòa;
  • - Bị cáo; bị hại.
  • - Lưu.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Thành Thị Thu Trang

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 566/2024/HS-ST ngày 23/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI về cố ý gây thương tích

  • Số bản án: 566/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Cố ý gây thương tích
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 23/10/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: cố ý gây thương tích
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger