Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN

THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC

THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc lập - Tự do - Hạnh phúc

Số: 566/2024/HS-ST

Ngày: 14/11/2024

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:

Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Phạm Minh Vương

Các Hội thẩm nhân dân: 1. Ông Cao Quốc Hưng

2. Ông Phạm Văn Phước

- Thư ký phiên tòa: Ông Trần Minh Nhật – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Ông Trần Ngọc Nam - Kiểm sát viên.

Ngày 14 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 504/2024/HSST ngày 03/10/2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 9041/2024/QĐXXST-HS ngày 30/10/2024, đối với bị cáo:

Nguyễn Viết Qu; sinh năm: 1984 tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú và cư trú: phường Linh Đông, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh; nghề nghiệp: không; trình độ văn hoá (học vấn): 9/12; dân tộc: Kinh; giới tính: Nam; tôn giáo: Công giáo; quốc tịch: Việt Nam; con ông Nguyễn Viết X (chết) và bà Nguyễn Thị Th, sinh năm 1956; chưa có vợ con.

Tiền án, tiền sự: Không.

Nhân thân: Ngày 17/4/2008 bị Tòa án nhân dân quận Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xử phạt 10 tháng tù giam về tội “Lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản”, chấp hành xong hình phạt tù ngày 27/9/2008, đã thi hành xong án phí hình sự sơ thẩm ngày 26/3/2009.

Bị cáo bị tạm giam từ ngày 10/6/2024 tại Nhà tạm giữ Công an thành phố Thủ Đức.

Bị cáo có mặt tại phiên tòa.

* Bị hại: Anh Trần Thanh Qul, sinh năm 2001 (có yêu cầu vắng mặt)

Nơi thường trú: huyện Triệu Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

Địa chỉ liên lạc: phường Long Thạnh Mỹ, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.

- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan: Ông Nguyễn Văn H, sinh năm 1981. (vắng mặt)

Địa chỉ: phường Tĩnh Hải, thị xã Nghi Sơn, tỉnh Thanh Hóa.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo các tài liệu có trong vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:

Lúc 19 giờ 30 phút ngày 10/6/2024, Nguyễn Viết Qu đi bộ ngang qua quán nước số 639 đường Tô Ngọc Vân, phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh thì nhìn thấy một chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave A màu xanh, dung tích 110cc, biển số 36AA-693.89 của anh Trần Thanh Qul (sinh năm 2001) dựng trước quán và có cắm sẵn chìa khóa trên xe nên Quang nảy sinh ý định trộm cắp. Quang đi lại gần chiếc xe mô tô trên, dẫn xe xuống lề đường rồi lên xe đề nổ máy chạy đi. Khi Quang chạy được khoảng 5 mét thì bị anh Quân phát hiện, đuổi theo bắt quả tang và báo cho Công an phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức xử lý.

Tại Cơ quan Điều tra, Nguyễn Viết Qu đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.

Kết luận định giá tài sản số 287-KV3/KL-HĐĐGTS ngày 18/6/2024 của Hội đồng định giá trong tố tụng hình sự thành phố Thủ Đức kết luận: 01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave A, màu xanh, biển số 36AA-693.89, số khung RLHJA3939PY107768, số máy JA70E0155732 có giá trị là 17.500.000 đồng (Mười bảy triệu năm trăm ngàn đồng).

Vật chứng vụ án:

01 (một) chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave A, màu xanh, dung tích 110cc. Qua xác minh, chủ sở hữu chiếc xe mô tô trên là ông Nguyễn Văn H (sinh năm 1981, nơi thường trú: thôn Thắng Hải, xã Tĩnh Hải, huyện Ngh Sơn, tỉnh Thanh Hóa). Quá trình làm việc ông Hùng cho biết vào khoảng tháng 03/2024, ông Hùng cho anh Trần Thanh Qul (cháu ruột) mượn chiếc xe mô tô trên để quản lý, sử dụng cho đến nay. Ngày 21/6/2024, Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố Thủ Đức có Quyết định xử lý vật chứng số 5246/QĐ-ĐTTH trao trả cho anh Trần Thanh Qu1 chiếc xe mô tô trên.

Về dân sự: Anh Trần Thanh Qu1 đã nhận lại tài sản và không yêu cầu bồi thường gì thêm.

Bản Cáo trạng số 477/CT-VKSTPTĐ ngày 01/10/2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức đã truy tố bị cáo Qu về tội “Trộm cắp tài sản” theo khoản 1 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: Không có.

Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải nên áp dụng điểm s khoản 1 Điều 51 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

Tại phiên tòa,

Bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi của mình như trên, bị cáo đồng ý với kết luận định giá, đồng ý với các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của người tiến hành tố tụng, cơ quan tiến hành tố tụng và không khiếu nại hay có ý kiến gì khác.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ nguyên quan điểm truy tố đối với bị cáo Qu về tội danh, khung hình phạt, các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:

  • - Tuyên bố bị cáo Qu phạm tội trộm cắp tài sản;
  • - Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017:
  • + Xử phạt bị cáo Qu từ 01 năm đến 01 năm 06 tháng tù giam.

Về trách nhiệm dân sự: Không xem xét do bị hại đã nhận tài sản và không có yêu cầu bồi thường.

Về xử lý vật chứng: đã trả lại chủ sở hữu theo quy định pháp luật nên không đề nghị xem xét.

Án phí hình sự buộc bị cáo nộp theo quy định pháp luật.

Bị cáo không bào chữa, tranh luận và nói lời sau cùng xin Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu có trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:

[1] Về thủ tục tố tụng:

Bị hại là anh Trần Thanh Qul có đơn xin xét xử vắng mặt; người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan là ông Nguyễn Văn H vắng mặt. Việc vắng mặt của anh Quân và ông Hùng không gây trở ngại cho việc xét xử nên căn cứ khoản 1 Điều 292 của Bộ luật Tố tụng hình sự, Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vắng mặt các đương sự nêu trên.

[2] Các quyết định tố tụng, hành vi tố tụng của Cơ quan điều tra, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân, Kiểm sát Viên trong quá trình điều tra, truy tố đã được thực hiện đúng về thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của pháp luật. Quá trình điều tra, truy tố và xét xử tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.

[3] Trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như cáo trạng đã nêu. Lời khai của bị cáo phù hợp với với các tài liệu, chứng cứ khác có trong hồ sơ vụ án. Do đó, Hội đồng xét xử có đủ cơ sở kết luận:

Vào lúc 19 giờ 30 phút, ngày 10/6/2024, tại trước quán nước địa chỉ 639 Tô Ngọc Vân, phường Tam Bình, thành phố Thủ Đức, TP. Hồ Chí Minh; Nguyễn Viết Qu đã có hành vi hành vi lén lút trộm cắp 01 chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave A màu xanh, biển số 36AA-693.89 của anh Trần Thanh Qul trị giá 17.500.000 đồng.

Hành vi nêu trên của bị cáo đã đủ yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017. Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.

[4] Về tình tiết định khung tăng nặng hình phạt: Không.

[5] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự áp dụng đối với bị cáo:

Về các tình tiết tăng nặng trách nhiệm hình sự: không có.

Về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Xét trong quá trình điều tra, truy tố và xét xử bị cáo thành khẩn khai báo, có thái độ ăn năn hối cải nên được giảm nhẹ một phần hình phạt theo quy định tại điểm s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[6] Về tính chất, mức độ hành vi phạm tội, hình phạt đối với bị cáo:

Hội đồng xét xử đánh giá tính chất, mức độ hành vi phạm tội của bị cáo là ít nghiêm trọng, nhưng bị cáo thực hiện hành vi phạm tội với lỗi cố ý, xâm phạm đến trật tự công cộng, làm mất trật tự an toàn xã hội gây tâm lý lo lắng trong quần chúng nhân dân, xâm phạm đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của công dân được pháp luật bảo vệ. Bị cáo có nhân thân xấu, đã từng bị xét xử liên quan đến hành vi lạm dụng tín nhiệm chiếm đoạt tài sản nhưng vẫn tiếp tục thực hiện hành vi vi phạm pháp luật thể hiện sự coi thường pháp luật, chính sách của nhà nước. Do đó, Hội đồng xét xử xét thấy cần phải xử phạt bị cáo với mức án tương xứng, cách ly bị cáo ra khỏi xã hội một thời gian mới có tác dụng giáo dục bị cáo nói riêng và đấu tranh phòng ngừa tội phạm nói chung trong toàn xã hội.

Xét bị cáo không có nghề nghiệp ổn định nên không áp dụng hình phạt bổ sung theo quy định tại khoản 5 Điều 173 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

[7] Về xử lý vật chứng:

Đối với chiếc xe mô tô hiệu Honda Wave A, màu xanh, biển số 36AA-693.89, số khung RLHJA3939PY107768, số máy JA70E0155732, Cơ quan Cảnh sát điều tra đã trả lại tài sản trên cho anh Trần Thanh Qul là người được chủ tài sản ông Nguyễn Văn H giao quản lý, sử dụng là đúng quy định.

[8] Về trách nhiệm dân sự:

Anh Trần Thanh Qul đã nhận lại toàn bộ tài sản, không yêu cầu bị cáo bồi thường nên Hội đồng xét xử không xem xét giải quyết.

[9] Về án phí: Buộc bị cáo chịu án phí hình sự sơ thẩm là 200.000 đồng.

[10] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh về tội danh, mức án, nghĩa vụ dân sự, xử lý vật chứng là phù hợp nên được chấp nhận toàn bộ.

Vì các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

  1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Viết Qu phạm tội “Trộm cắp tài sản".
  2. Về hình phạt:

    Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm s khoản 1 Điều 51; Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015, sửa đổi, bổ sung năm 2017.

    Xử phạt bị cáo Nguyễn Viết Qu 01 (một) năm 06 (sáu) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 10/6/2024.

  3. Về án phí:

    Áp dụng Điều 135, Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

    Áp dụng điểm a khoản 1 Điều 23 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;

    Buộc bị cáo nộp 200.000 (Hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.

  4. Về quyền kháng cáo:

    Áp dụng Điều 331, Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự năm 2015;

Bị cáo được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan vắng mặt được quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.

Nơi nhận:

  • - Bị cáo;
  • - Người tham gia tố tụng;
  • - Công an thành phố Thủ Đức;
  • - TAND Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - VKSND TP. Hồ Chí Minh;
  • - VKSND thành phố Thủ Đức;
  • - Phòng PV06, PC10 - Công an TP. HCM;
  • - Sở Tư pháp Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - Chi cục THADS thành phố Thủ Đức;
  • - Thi hành án hình sự;
  • - Lưu hồ sơ.

TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM

THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Phạm Minh Vương

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 566/2024/HS-ST ngày 14/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về hình sự (trộm cắp tài sản)

  • Số bản án: 566/2024/HS-ST
  • Quan hệ pháp luật: Hình sự (Trộm cắp tài sản)
  • Cấp xét xử: Sơ thẩm
  • Ngày ban hành: 14/11/2024
  • Loại vụ/việc: Hình sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC - THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ:
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Trộm cắp TS
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger