Hệ thống pháp luật

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO

TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

Bản án số: 566/2024/DS-PT

Ngày: 24-7-2024

V/v “Tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy

chứng nhận quyền sử dụng đất”

CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

Độc Lập – Tự do – Hạnh phúc

—————————

NHÂN DANH

NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM

TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH

- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:

Thẩm Phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Vương Minh Tâm
Các Thẩm phán: Ông Nguyễn Văn Minh
Ông Phạm Văn Công

- Thư ký phiên tòa: Ông Lê Đỗ Hồng Quân, Thư ký Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh.

- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Bà Phạm Thị Thanh Hoa, Kiểm sát viên.

Ngày 24 tháng 7 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh xét xử phúc thẩm công khai vụ án thụ lý số 182/2024/TLPT-DS ngày 14 tháng 3 năm 2024, về việc “Tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất”.

Do Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng bị kháng cáo.

Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số 1986/2024/QĐPT-DS ngày 27 tháng 6 năm 2024; giữa các đương sự:

- Nguyên đơn: Ông Võ Văn Cao T (Võ Minh T1), sinh năm 1988, địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

Người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn: Ông Nguyễn Cao C, sinh năm 1995, địa chỉ: Số D, khu phố C, phường Q, thành phố B, tỉnh Đồng Nai (vắng mặt).

- Bị đơn: Bà Võ Thị T2, sinh năm 1951, địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan:

  1. Ông Võ Minh G, sinh năm 1981, địa chỉ: Số A, Chung cư A, C, phường A, quận T, thành phố Hồ Chí Minh.
  2. Người đại diện theo ủy quyền của ông Võ Minh G: Bà Trần Thị Thanh T3, sinh năm 1962, địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).

  3. Bà Võ Thị T4, sinh năm 1966, địa chỉ: Số A, đường B, khu dân cư A, quận N, thành phố Cần Thơ (vắng mặt).
  4. Bà Võ Thị D, sinh năm 1955, địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  5. Ông Võ Văn P, sinh năm 1958, địa chỉ: Địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  6. Ông Võ Minh G1, sinh năm 1963, địa chỉ: ấp C, xã T, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt, có đơn xin vắng mặt).
  7. Ông Phan Văn Â, sinh năm 1951 (vắng mặt).
  8. Bà Phạm Thị Đ, sinh năm 1952 (vắng mặt).
  9. Ông Nguyễn Văn T5, sinh năm 1979 (vắng mặt).
  10. Bà Trương Thị Đ1 (vắng mặt).
  11. Bà Võ Thị C1 (vắng mặt).
  12. Bà Võ Thị N (vắng mặt).
  13. Ông Võ Văn N1 (vắng mặt).
  14. Cùng địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.

  15. Bà Võ Thị H, địa chỉ: Ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng (vắng mặt).
  16. Ủy ban nhân dân huyện T, địa chỉ: Ấp A, thị trấn P, huyện T, tỉnh Sóc Trăng.
  17. Người đại diện theo ủy quyền của Ủy ban: Ông Trần Văn C2 – Chức vụ Phó trưởng Phòng Tài nguyên và Môi trường huyện T (vắng mặt).

  18. Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S, địa chỉ: Số A đường H, khóm F, phường F, thành phố S, tỉnh Sóc Trăng.
  19. Người đại diện theo ủy quyền: Ông Nguyễn Văn Đ2 – Chức vụ: Giám đốc Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S (vắng mặt).

Người kháng cáo: Ông Võ Minh G1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan.

NỘI DUNG VỤ ÁN:

Theo đơn khởi kiện lập ngày 08/5/2020 và trong quá trình giải quyết vụ án nguyên đơn ông Võ Văn Cao T trình bày:

Ngày 20/3/1998, ông nội của ông tên Võ Văn H1 có lập di chúc chia di sản cho ông gồm 2,25 công tầm cấy (tương đương 2.925m²) đất nông nghiệp và 1,3 công tầm cấy (tương đương 1.690m²) đất vườn, cùng tọa lạc tại ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 18/9/2009 cụ H1 chết, toàn bộ di sản của cụ H1 đều do cô ruột của ông là bà Võ Thị T2 quản lý. Do điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên ông đi thành phố Hồ Chí Minh làm thuê, sau khi có gia đình trở về mong muốn nhận lại di sản thừa kế thì bà T2 phớt lờ, không đồng ý chia. Ngày 08/5/2017, ông khởi kiện tại Tòa án huyện T, tỉnh Sóc Trăng, đến ngày 20/7/2017 khi Tòa án hòa giải bà T2 hứa chia di sản nên ông đồng ý rút đơn khởi kiện. Sau đó, bà T2 lấy đất của cô ruột là Võ Thị T4 (cũng là người có tên trong di chúc) để chia cho ông, trong khi phần đất này bà T4 đã nhận, có giấy chứng nhận quyền sử dụng đất và đang canh tác, nên ông không đồng ý. Do bà T2 không thực hiện chia di sản theo di chúc nên ông tiếp tục khởi kiện yêu cầu Tòa án giải quyết phân chia cho ông được quyền hưởng di sản do cụ H1 để lại bao gồm: 2,25 công tầm cấy (tương đương 2.925m²) đất nông nghiệp và 1,3 công tầm cấy (tương đương 1.690m²) đất vườn, cùng tọa lạc tại ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng

Theo tờ tường trình đề ngày 22/01/2022 và trong quá trình giải quyết vụ án bà Võ Thị T2 trình bày:

Cha bà là cụ Võ Văn H1 qua đời năm 2009, lúc còn minh mẫn cụ H1 có nguyện rằng, khi qua đời cụ phân chia tài sản như sau: Cho con ruột ông Võ Minh G1 05 công đất ruộng tầm cấy, bà Võ Thị T4 05 công đất ruộng tầm cấy, hai cháu nội là Võ Văn G2 và Võ Văn Cao T mỗi người 02 công đất ruộng tầm cấy, cho bà toàn bộ nhà cửa, đất đai còn lại mà bà đứng tên giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Ông G1 đã nhận đủ và chuyển quyền sử dụng đất năm 2018, bà T4 đã nhận đất năm 2013 và chuyển quyền sử dụng đất năm 2018, hai đứa cháu là Võ Văn G2 và Võ Văn Cao T đã nhận đủ 04 công canh tác, sử dụng từ năm 2013 nhưng đến nay chưa chuyển quyền sử dụng đất (bà vẫn còn đứng tên). Vì bà phải lo cụ H1 lúc bệnh nặng qua đời, bà phải gánh vác nuôi vợ chồng và các con ông P nên lâm cảnh nợ nần, nên năm 2018 bà đã chuyển nhượng toàn bộ số đất đai còn lại cho em ruột là ông G1 dưới hình thức tặng cho. Nay bà có ý kiến: Cháu G2 và cháu T có yêu cầu chuyển quyền sử dụng đất 04 công đất nói trên thì chủ động liên hệ với bà để thực hiện chuyển quyền sử dụng đất theo quy định. Việc ông T yêu cầu chia thừa kế di chúc bà không đồng ý.

Tại đơn yêu cầu độc lập ngày 02/7/2020 của ông Võ Minh G và trong quá trình giải quyết vụ án người đại diện theo ủy quyền của ông G trình bày:

Ngày 20/3/1998, ông nội Võ Văn H1 có lập di chúc chia di sản cho ông gồm 2,25 công tầm cấy (tương đương 2.925m²) đất nông nghiệp tại thửa 495 và 1,3 công tầm cấy (tương đương 1.690m²) đất vườn tại thửa 234, cùng tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 18/9/2009 cụ H1 chết, toàn bộ di sản đều do cô ruột là Võ Thị T2 quản lý. Do điều kiện hoàn cảnh khó khăn nên ông đi Thành phố Hồ Chí Minh làm thuê, sau khi trở về mong muốn nhận lại di sản thừa kế thì bà T2 phớt lờ, không đồng ý chia. Nay ông yêu cầu Tòa án chia di sản theo di chúc cho ông được quyền sử dụng diện tích nêu trên.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Văn P trình bày:

Cha mẹ ông tên Võ Văn H1 (chết năm 2009) và bà Trần Thị T6 (chết năm 1989), có tất cả 07 người con ruột, ngoài ra không có con nuôi, cụ thể: Ông Võ Văn B (liệt sỹ hy sinh năm 1969, không vợ con), bà Võ Thị T2, ông Võ Văn B1 (chết năm 2020), bà Võ Thị D, ông Võ Văn P, ông Võ Minh G1 và bà Võ Thị T4. Cha mẹ có nhiều diện tích đất đai khi còn sống đã phân chia cho các con, di sản còn để lại là 18 công tầm cấy đất lúa và 6,6 công tầm cấy đất vườn, khoảng 3.000m² đất thổ cư trong đó có 01 căn nhà cấp 4 lợp tôn xi măng. Cụ H1 khi còn sống có lập tờ di chúc với nội dung: Bà T2 được chia 01 căn nhà, 4 công tầm cấy đất vườn, 4,5 công tầm cấy đất ruộng; ông Võ Minh G1 được chia 4,5 công tầm cấy đất ruộng; bà Võ Thị T4 được chia 4,5 công tầm cấy đất ruộng; hai người cháu gồm ông Võ Minh G và ông Võ Văn Cao T được chia cho 4,5 công tầm cấy đất ruộng và 2,6 công tầm cấy đất vườn (mỗi người được hưởng ½).

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Võ Minh G1 trình bày:

Về thời gian mất và quan hệ nhân thân của cụ Võ Văn H1 và cụ Trần Thị T6, ông thống nhất theo lời trình bày của ông Võ Văn P nêu trên. Sau khi cha ông mất thì để lại toàn bộ nhà cửa, đất đai cho bà Võ Thị T2 đứng tên, sau đó bà T2 đã được thực hiện ý nguyện của cha ông là chia đất ruộng cho ông 05 công, bà Võ Thị T4 05 công, Cao Tăng 02 công và Minh G3 02 công. Ông, bà T4 và Cao T đã nhận đất, riêng Minh G3 chưa nhận đất. Toàn bộ phần đất còn lại của thửa 223 và 234 thì bà T2 chuyển nhượng lại cho ông và ông đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất vào năm 2018, sau đó ông cố phần đất này lại cho ông Phan Văn Â. Đối với tờ di chúc cha ông lập ngày 20/3/1998 thì ông không biết việc này, nhưng ông không đồng ý với yêu cầu chia thừa kế của Võ Văn Cao T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Võ Thị T4 trình bày:

Về thời gian mất và quan hệ nhân thân của cụ Võ Văn H1 và cụ Trần Thị T6, ông thống nhất theo lời trình bày của ông Võ Văn P nêu trên. Lúc cha mẹ còn sống thì đã chia đất cho các con rồi, sau khi cha bà mất bà T2 có thực hiện ý nguyện của cha là chia đất ruộng cho bà 05 công, nhưng vì không có điều kiện canh tác nên bà đã chuyển nhượng lại cho Võ Minh G1, nay bà không có yêu cầu gì và cũng không có liên quan đến vụ án. Đối với tờ di chúc cha bà lập ngày 20/3/1998 thì bà không biết nên không có ý kiến đối với yêu cầu chia thừa kế của Võ Văn Cao T.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Võ Thị D trình bày:

Về thời gian mất và quan hệ nhân thân của cụ Võ Văn H1 và cụ Trần Thị T6, ông thống nhất theo lời trình bày của ông Võ Văn P nêu trên. Đối với tờ di chúc cha bà lập ngày 20/3/1998 thì bà không biết, nhưng theo bà đây không phải là chữ viết và chữ ký của cha bà. Trước đây, bà có nghe nói cha bà có chia đất cho cháu nội là Cao T và Minh G mỗi người 02 công, vì vậy bà chỉ đồng ý chia theo kỷ phần nêu trên cho Cao T, không đồng ý chia theo di chúc, phần còn lại phải thuộc về bà Võ Thị T2, vì bà T2 có công chăm sóc nuôi dưỡng cha mẹ.

Trong quá trình giải quyết vụ án, bà Trương Thị Đ1 trình bày:

Bà là vợ của ông Võ Văn B1 đã chết năm 2020, bà và ông B1 chung sống có 04 người con, bao gồm: Võ Thị C3, Võ Thị N, Võ Văn N1, Võ Thị H. Vợ chồng bà đã được cha mẹ chia đất ra ở riêng kể từ năm 1977, nay bà và các con đều thống nhất không có yêu cầu hay ý kiến gì trong vụ án này.

Trong quá trình giải quyết vụ án, ông Phan Văn  trình bày:

Ông đang canh tác phần đất tranh chấp giữa ông Cao T và bà T2 diện tích là 15 công, lý do là bà T2 tặng phần đất này cho ông G1, sau đó ông G1 cố lại cho ông từ năm 2017 với giá là 750.000.000 đồng, thời hạn cố là 08 năm. Nay trong vụ án này, ông không có yêu cầu độc lập, khi nào tới hạn cố thì ông G1 chuộc lại đất thì ông giao trả.

Tại công văn phúc đáp số 2149/UBND-VP, ngày 10/11/2021 của UBND huyện T, tỉnh Sóc Trăng:

Thửa đất số 223 tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, bà Võ Thị T2 đã tặng cho ông Võ Minh G1 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 319424 ngày 18/01/2018.

Thửa đất số 495 tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng, bà Võ Thị T2 đã tặng cho ông Võ Minh G1 và đã được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 319435 ngày 18/01/2018.

Tại công văn số 674/VPĐK ngày 27/11/2023 của Văn phòng Đăng ký đất đai tỉnh S (đại diện của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S):

Căn cứ vào dữ liệu quản lý, ngày 14/12/1992 bà Võ Thị T2 được UBND huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 247185, gồm các thửa đất 145, 222, 223, 234, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng. Ngày 01/02/2010, UBND huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 064532, thửa đất 495, tờ bản đồ số 06, tọa lạc ấp A, xã V, huyện T, tỉnh Sóc Trăng cho bà Võ Thị T2. Đến ngày 18/12/2017, bà The t cho một phần thửa 495 cho ông Võ Văn G4 diện tích 21.842,8m², ngày 18/01/2018 Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S đã cấp giấy chứng nhận CI 319435 thửa 686 (tách ra từ thửa 495) diện tích 21.842,8m² cho ông Võ Văn G4 theo quy định. Việc cấp giấy chứng nhận cho ông G4 là đúng đối tượng và đúng trình tự thủ tục theo quy định tại Điều 79 của Nghị định số 43/2014/NĐ-CP ngày 15/5/2014 của Chính phủ.

Tại Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng đã quyết định:

  • Căn cứ khoản 1 Điều 637, Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật Dân sự năm 1995;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 659 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn Cao T và chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Võ Minh G về việc “Chia thừa kế theo di chúc” của cụ Võ Văn H1:
    1. Phân chia cho ông Võ Văn Cao T được quyền sử dụng 1.458m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 và 842,25m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223, cùng tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 1.458m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 như sau: Hướng Đông giáp phần đất cây lâu năm tại thửa 223 phân chia cho ông T là 12,80m; hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 686 là 13,14m; hướng Nam giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G tại thửa 686 là 111,54m; hướng Bắc giáp đất ông Huỳnh Văn M là 111,53m.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 842,25m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223 như sau: Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa 223 là 12,89; hướng Tây giáp phần đất chia cho ông T thửa 686 là 12,80m; hướng Nam giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G tại thửa 686 là 64,43m; hướng Bắc giáp đất ông Huỳnh Văn M là 60,61m.
    2. Phân chia cho ông Võ Minh G được quyền sử dụng 1.458m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 và 842,25m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223, cùng tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 1.458m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 như sau: Hướng Đông giáp phần đất cây lâu năm tại thửa 223 phân chia cho ông G là 13,11m; hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 686 là 13,05m; hướng Nam giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G1 tại thửa 686 là 111,54m; hướng Bắc giáp phần đất phân chia cho ông T tại thửa 686 là 111,54m;
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 842,25m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223 như sau: hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa 223 là 13m; hướng Tây giáp phần đất chia cho ông G tại thửa 686 là 13,11m; hướng Nam giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G1 tại thửa 223 là 64,63m; hướng Bắc giáp phần đất phân chia cho ông T tại thửa 223 là 64,43m.
    3. Phân chia cho ông Võ Minh G1 được quyền sử dụng 8.748m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 và 2.592m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223, cùng tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 8.748m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 như sau: Hướng Đông giáp phần đất chia cho ông G1 tại thửa 223 là 39,37m; hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 686 là 39,34m; hướng Nam giáp đất ông Võ Văn L tổng chiều dài 137,83m và giáp đất ông Võ Văn P là 83,05m; hướng Bắc giáp phần đất phân chia cho ông G tại thửa 686 là 111,54m và giáp phần còn lại của thửa 686 là 109,57m.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 2.592m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223 như sau: Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa 223 là 40,10m; hướng Tây giáp phần đất chia cho ông G1 tại thửa 686 là 39,37m; hướng Nam giáp đất ông Võ Văn L là 42,42 và giáp đất ông Phan Văn  là 22,85m; hướng Bắc giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G tại thửa 223 là 64,63m.
  2. Buộc ông Võ Minh G1, bà Võ Thị T2 và ông Phan Văn  có nghĩa vụ bàn giao cho ông Võ Văn Cao T và ông Võ Minh G các diện tích đất được phân chia nêu trên.
  3. Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Võ Thị T2 và ông Võ Minh G1 bao gồm:
    • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 247185, ngày 14/12/1992 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho bà Võ Thị T2 đối với thửa đất số 223 và 234, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
    • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 064532, ngày 01/02/2010 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho bà Võ Thị T2 đối với thửa đất số 495, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
    • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 319424, ngày 18/01/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Võ Minh G1 đối với thửa đất số 223, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
    • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 319435, ngày 18/01/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Võ Minh G1 đối với thửa đất số 686, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.

    Ông Võ Văn Cao T, ông Võ Minh G và ông Võ Minh G1 được Cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất được phân chia thừa kế nêu trên.

    Đính kèm theo bản án là sơ đồ phân chia thừa kế các phần đất cho ông Võ Văn Cao T, ông Võ Minh G và ông Võ Minh G1.

Ngoài ra bản án sơ thẩm còn tuyên về các chi phí tố tụng, về án phí, các quy định về thi hành án và quyền kháng cáo của các đương sự.

Ngày 15/01/2024, ông Võ Minh G1 là người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về phần án phí

Tại phiên tòa phúc thẩm, các bên đương sự đều vắng mặt. Người kháng cáo ông Võ Minh G1 có đơn xin xét xử vắng mặt, trong đơn ông G1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm chấp nhận yêu cầu kháng cáo của ông.

Đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phát biểu ý kiến:

Về việc chấp hành pháp luật: Thẩm phán chủ toạ phiên toà, các thành viên Hội đồng xét xử đã chấp hành đúng các quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự từ giai đoạn thụ lý đến giai đoạn xét xử phúc thẩm.

Về nội dung: Theo căn cước công dân của ông Võ Minh G1 thì ông G1 là người cao tuổi, do đó kháng cáo của ông G1 về việc miễn án phí là có căn cứ. Đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo, sửa bản án sơ thẩm về phần án phí của ông G1.

NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:

  1. Về tính hợp pháp của đơn kháng cáo:
  2. Đơn kháng cáo của ông Võ Minh G1 làm trong hạn luật định, ông G1 là người cao tuổi được miễn nộp tạm ứng án phí dân sự phúc thẩm nên đủ điều kiện để thụ lý và xét xử theo trình tự phúc thẩm.

  3. Về tố tụng:
  4. Tại phiên tòa phúc thẩm, người kháng cáo ông Võ Minh G1 vắng mặt và có đơn đề nghị xét xử vắng mặt. Vì vậy Hội đồng xét xử tiến hành xét xử vụ án theo quy định tại Khoản 2 Điều 296 Bộ luật Tố tụng dân sự.

  5. Xét kháng cáo của ông Võ Minh G1:
  6. Sau khi xét xử sơ thẩm, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Minh G1 có đơn kháng cáo một phần bản án sơ thẩm về án phí. Ông G1 đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xem xét sửa bản án sơ thẩm, miễn phần án phí cho ông G1 do ông là người cao tuổi.

    Hội đồng xét xử xét thấy, tại căn cước công dân số [...] thể hiện ông Võ Minh G1 có quốc tịch Việt Nam, sinh ngày 01/01/1963. Theo quy định tại Điều 2 Luật người cao tuổi thì “người cao tuổi là công dân Việt Nam từ đủ 60 tuổi trở lên”. Như vậy tại thời điểm xét xử sơ thẩm ông Võ Minh G1 là người cao tuổi theo quy định pháp luật.

    Tại điểm đ Khoản 1 Điều 12 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội quy định “Những trường hợp sau đây được miễn nộp tiền tạm ứng án phí, án phí:

    ......

    đ) Trẻ em; cá nhân thuộc hộ nghèo, cận nghèo; người cao tuổi; người khuyết tật; người có công với cách mạng; đồng bào dân tộc thiểu số ở các xã có điều kiện kinh tế - xã hội đặc biệt khó khăn; thân nhân liệt sĩ được cơ quan Nhà nước có thẩm quyền cấp Giấy chứng nhận gia đình liệt sĩ.”

    Do đó, việc ông Võ Minh G1 đề nghị xem xét ông là người cao tuổi và được miễn án phí là có căn cứ.

  7. Từ phân tích, nhận định nêu trên, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ ông Võ Minh G1, sửa bản án dân sự sơ thẩm về phần án phí.
  8. Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát nhân dân cấp cao tại Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên toà phù hợp với nhận định của HĐXX nên được chấp nhận.

  9. Về án phí dân sự phúc thẩm: Ông Võ Minh G1 là người cao tuổi nên được miễn án phí dân sự phúc thẩm theo quy định.
  10. Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

Bởi các lẽ trên,

QUYẾT ĐỊNH:

Căn cứ vào khoản 2 Điều 308 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015, sửa đổi bổ sung năm 2017,

Chấp nhận yêu cầu kháng cáo của người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan ông Võ Minh G1.

Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 97/2023/DS-ST ngày 26 tháng 12 năm 2023 của Tòa án nhân dân tỉnh Sóc Trăng về phần án phí;

  • Căn cứ khoản 1 Điều 637, Điều 652 và Điều 653 của Bộ luật Dân sự năm 1995;
  • Căn cứ khoản 2 Điều 659 của Bộ luật Dân sự năm 2015;
  • Căn cứ điểm d, khoản 2 Điều 227, Điều 271 và khoản 1 Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015;
  • Căn cứ khoản 7 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14, ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban thường vụ Quốc hội.

[1] Tuyên xử:

  1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn ông Võ Văn Cao T và chấp nhận một phần yêu cầu độc lập của ông Võ Minh G về việc “Chia thừa kế theo di chúc” của cụ Võ Văn H1:
    1. Phân chia cho ông Võ Văn Cao T được quyền sử dụng 1.458m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 và 842,25m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223, cùng tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 1.458m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 như sau: Hướng Đông giáp phần đất cây lâu năm tại thửa 223 phân chia cho ông T là 12,80m; hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 686 là 13,14m; hướng Nam giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G tại thửa 686 là 111,54m; hướng Bắc giáp đất ông Huỳnh Văn M là 111,53m.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 842,25m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223 như sau: Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa 223 là 12,89; hướng Tây giáp phần đất chia cho ông T thửa 686 là 12,80m; hướng Nam giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G tại thửa 686 là 64,43m; hướng Bắc giáp đất ông Huỳnh Văn M là 60,61m.
    2. Phân chia cho ông Võ Minh G được quyền sử dụng 1.458m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 và 842,25m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223, cùng tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 1.458m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 như sau: Hướng Đông giáp phần đất cây lâu năm tại thửa 223 phân chia cho ông G là 13,11m; hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 686 là 13,05m; hướng Nam giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G1 tại thửa 686 là 111,54m; hướng Bắc giáp phần đất phân chia cho ông T tại thửa 686 là 111,54m;
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 842,25m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223 như sau: hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa 223 là 13m; hướng Tây giáp phần đất chia cho ông G tại thửa 686 là 13,11m; hướng Nam giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G1 tại thửa 223 là 64,63m; hướng Bắc giáp phần đất phân chia cho ông T tại thửa 223 là 64,43m.
    3. Phân chia cho ông Võ Minh G1 được quyền sử dụng 8.748m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 và 2.592m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223, cùng tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 8.748m², loại đất lúa, thuộc thửa 686 như sau: Hướng Đông giáp phần đất chia cho ông G1 tại thửa 223 là 39,37m; hướng Tây giáp phần đất còn lại của thửa 686 là 39,34m; hướng Nam giáp đất ông Võ Văn L tổng chiều dài 137,83m và giáp đất ông Võ Văn P là 83,05m; hướng Bắc giáp phần đất phân chia cho ông G tại thửa 686 là 111,54m và giáp phần còn lại của thửa 686 là 109,57m.
      • - Vị trí, tứ cận phần đất có diện 2.592m², loại đất cây lâu năm, thuộc thửa 223 như sau: Hướng Đông giáp phần đất còn lại của thửa 223 là 40,10m; hướng Tây giáp phần đất chia cho ông G1 tại thửa 686 là 39,37m; hướng Nam giáp đất ông Võ Văn L là 42,42 và giáp đất ông Phan Văn  là 22,85m; hướng Bắc giáp phần đất phân chia cho ông Võ Minh G tại thửa 223 là 64,63m.
  2. Buộc ông Võ Minh G1, bà Võ Thị T2 và ông Phan Văn  có nghĩa vụ bàn giao cho ông Võ Văn Cao T và ông Võ Minh G các diện tích đất được phân chia nêu trên.
  3. Hủy các giấy chứng nhận quyền sử dụng đất đã cấp cho bà Võ Thị T2 và ông Võ Minh G1 bao gồm:
    • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số B 247185, ngày 14/12/1992 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho bà Võ Thị T2 đối với thửa đất số 223 và 234, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
    • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số BB 064532, ngày 01/02/2010 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho bà Võ Thị T2 đối với thửa đất số 495, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
    • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 319424, ngày 18/01/2018 của Ủy ban nhân dân huyện T, tỉnh Sóc Trăng cấp cho ông Võ Minh G1 đối với thửa đất số 223, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.
    • - Hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số CI 319435, ngày 18/01/2018 của Sở Tài nguyên và Môi trường tỉnh S cấp cho ông Võ Minh G1 đối với thửa đất số 686, tờ bản đồ số 06, tọa lạc tại ấp A, huyện V, tỉnh Sóc Trăng.

    Ông Võ Văn Cao T, ông Võ Minh G và ông Võ Minh G1 được Cơ quan quản lý đất đai có thẩm quyền cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đối với diện tích đất được phân chia thừa kế nêu trên.

    Đính kèm theo bản án là sơ đồ phân chia thừa kế các phần đất cho ông Võ Văn Cao T, ông Võ Minh G và ông Võ Minh G1.

  4. Về án phí dân sự sơ thẩm và chi phí tố tụng:
    • - Chi phí tố tụng: Ông Võ Minh G1 phải chịu là 18.289.500 đồng (mười tám triệu, hai trăm tám mươi chín ngàn, năm trăm đồng), ông Võ Văn Cao T và ông Võ Minh G mỗi người phải chịu là 3.048.250 đồng (ba triệu, không trăm bốn mươi tám ngàn, hai trăm năm mươi đồng). Ông G1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho ông T và ông G mỗi người là 9.144.750 đồng (chín triệu, một trăm bốn mươi bốn ngàn, bảy trăm năm mươi đồng).
    • - Án phí dân sự sơ thẩm:
    • Miễn án phí dân sự sơ thẩm cho ông Võ Minh G1.

      Ông Võ Văn Cao T phải chịu là 7.993.200 đồng (bảy triệu, chín trăm chín mươi ba ngàn, hai trăm đồng), được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 3.461.000 đồng (ba triệu, bốn trăm sáu mươi mốt ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003136, ngày 11/5/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạnh Trị, ông T có nghĩa vụ nộp thêm số tiền là 4.532.200 đồng (bốn triệu, năm trăm ba mươi hai ngàn, hai trăm đồng).

      Ông Võ Minh G phải chịu là 7.993.200 đồng, được khấu trừ số tiền tạm ứng án phí 3.461.000 đồng (ba triệu, bốn trăm sáu mươi mốt ngàn đồng) theo biên lai thu tiền số 0003218, ngày 07/7/2020 của Chi cục Thi hành án Dân sự huyện Thạnh Trị, ông G có nghĩa vụ nộp thêm số tiền là 4.532.200 đồng (bốn triệu, năm trăm ba mươi hai ngàn, hai trăm đồng).

    • [2] Về án phí dân sự phúc thẩm: Miễn án phí dân sự phúc thẩm cho ông Võ Minh G1.
    • [3] Các quyết định khác của bản án sơ thẩm không có kháng cáo, kháng nghị, có hiệu lực pháp luật kể từ ngày hết thời hạn kháng cáo, kháng nghị theo luật định.

    Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật thi hành án dân sự. Thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật thi hành án dân sự.

  5. [4] Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.

CÁC THẨM PHÁN

THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA

Nguyễn Văn Minh

Phạm Văn Công

Vương Minh Tâm

Nơi nhận:

  • - Tòa án nhân dân tối cao;
  • - Viện kiểm sát nhân dân cấp cao
  • tại Thành phố Hồ Chí Minh;
  • - TAND tỉnh Sóc Trăng;
  • - VKSND tỉnh Sóc Trăng;
  • - Cục THADS tỉnh Sóc Trăng;
  • - Đương sự;
  • - Lưu, (HQ).

TM.HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM

THẨM PHÁN - CHỦ TOẠ PHIÊN TOÀ

Vương Minh Tâm

THÔNG TIN BẢN ÁN

Bản án số 566/2024/DS-PT ngày 24/07/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất

  • Số bản án: 566/2024/DS-PT
  • Quan hệ pháp luật: Tranh chấp chia thừa kế và hủy giấy chứng nhận quyền sử dụng đất
  • Cấp xét xử: Phúc thẩm
  • Ngày ban hành: 24/07/2024
  • Loại vụ/việc: Dân sự
  • Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN CẤP CAO TẠI THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
  • Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
  • Đính chính: Đang cập nhật
  • Thông tin về vụ/việc: Võ Văn Cao Tăng
Tải về bản án
Hỗ trợ trực tuyến
Hỗ trợ Zalo Hỗ trợ Messenger