TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH Số: 565/2025/HNGĐ-ST Ngày: 30-9-2025 V/v Ly hôn | CỘNG HOÀ XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ tọa phiên tòa: Ông Nguyễn Xuân Dũng
Các Hội thẩm nhân dân.
- Ông Võ Hoàng Thu
- Bà Nguyễn Thị Nguyên
Thư ký phiên tòa: Ông Nguyễn Phạm Tuấn Hải – Thư ký Tòa án nhân dân khu vực 10, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa: Ông Võ Kim Cường - Kiểm sát viên.
Ngày 30 tháng 9 năm 2025, tại Trụ sở Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hôn nhân và gia đình thụ lý số: 475/2025/TLST-HNGĐ ngày 02 tháng 6 năm 2025 về việc Ly hôn theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 323/2025/QĐXXST-HNGĐ ngày 14 tháng 8 năm 2025 và Quyết định hoãn phiên tòa số 349/2025/QÐST-HNGĐ ngày 09 tháng 9 năm 2025, giữa các đương sự:
- Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh ngày 23 tháng 8 năm 1995;
Số định danh cá nhân: 038195006449;
Nơi đăng ký thường trú: F8/36 ấp F, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là xã V, Thành phố Hồ Chí Minh);
Nơi cư trú hiện tại: 3 L, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình). (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt)
- Bị đơn: Ông Đỗ Minh H, sinh ngày 04 tháng 01 năm 1970;
Số định danh cá nhân: 036070006032;
Nơi đăng ký thường trú: 30/10 L, phường L, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường T, tỉnh Ninh Bình). (có đơn yêu cầu xét xử vắng mặt).
Nơi cư trú hiện tại: Tổ D, ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh (nay là Nhà không số, ấp C, xã V, Thành phố Hồ Chí Minh) (vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo Đơn khởi kiện, bản tự khai và các tài liệu khác trong quá trình giải quyết vụ án, nguyên đơn bà Nguyễn Thị N trình bày:
Sau thời gian tìm hiểu, bà và ông Đỗ Minh H tự nguyện kết hôn với nhau vào năm 2015, Căn cứ theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08 Quyển số 01 – 2015 do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định cấp ngày 23 tháng 01 năm 2015. Chúng tôi có 01 con chung tên Đỗ Nguyễn Thanh T, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2015.
Trong năm đầu tiên, hai vợ chồng chung sống hạnh phúc nhưng do ông H thường xuyên chơi cờ bạc, lô đề gây ảnh hưởng nghiêm trọng đến kinh tế gia đình và bạo hành tôi cả về mặt thể chất, tinh thần trong thời gian dài làm cho sức khỏe của bà N bị giảm sút nghiêm trọng. Đồng thời do bất đồng quan điểm sống và cách nuôi dạy con, cuộc sống hôn nhân không hạnh phúc, vợ chồng không còn quan tâm, chăm sóc, yêu thương nhau.
Mặc dù đã ngồi lại với nhau để giải quyết nhưng mâu thuẫn vợ chồng ngày càng trầm trọng hơn, ảnh hưởng nghiêm trọng đến gia đình hai bên cũng như sự phát triển bình thường của con cái.
Hiện tại, bà và ông H đã sống ly thân, vợ chồng đã hết tình cảm, không còn quan tâm đến nhau. Nay, cháu Đỗ Nguyễn Thanh T đã lớn, đang sinh sống cùng bà tại thôn R, xã C, tỉnh Thanh Hóa. Bà yêu cầu ông Đỗ Minh H là người không trực tiếp nuôi dưỡng con là cháu Đỗ Nguyễn Thanh T. Theo khoản 1 Điều 3 Nghị định 74/2024/NĐ-CP, mức lương tối thiểu vùng tại nơi cư trú của ông Đỗ Minh H thuộc Vùng I là 4.960.000 VNĐ/tháng. Bà yêu cầu mức cấp dưỡng cho cháu T cụ thể là 2.000.000 VNĐ/tháng.
Nhận thấy hôn nhân với ông Đỗ Minh H không thể tiếp tục kéo dài vì mâu thuẫn gia đình ngày càng trầm trọng, không thể hàn gắn, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, bà Nguyễn Thị N yêu cầu:
Về hôn nhân: Bà yêu cầu được ly hôn với ông Đỗ Minh H
Về con chung: Bà và ông Đỗ Minh H có 01 con chung tên Đỗ Nguyễn Thanh T, sinh ngày 01 tháng 12 năm 2015. Sau khi ly hôn bà yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Đỗ Nguyễn Thanh T, yêu cầu ông Đỗ Minh H cấp dưỡng nuôi trẻ Đỗ Nguyễn Thanh T 2.000.000 đồng/tháng.
Về tài sản chung, nợ chung: Không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết.
Phía bị đơn Đỗ Minh H đã được Tòa án nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh thông báo về việc thụ lý vụ án, triệu tập để lấy lời khai, triệu tập để tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, thông báo kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải, triệu tập tham gia phiên tòa nhưng bị đơn vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến về nội dung vụ án.
Tại phiên tòa:
Các đương sự vắng mặt tại phiên tòa và có đề nghị xét xử vắng mặt.
Ý kiến của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh tham gia phiên tòa:
Về việc chấp hành pháp luật tố tụng: Trong quá trình giải quyết vụ án kể từ khi thụ lý vụ án và tại phiên tòa hôm nay, Thẩm phán, Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa đã tuân thủ đúng quy trình tố tụng giải quyết vụ án. Nguyên đơn đã thực hiện đúng quyền, nghĩa vụ theo quy định tại Điều 70 Bộ luật Tố tụng dân sự. Bị đơn chưa thực hiện đủ các quyền và nghĩa vụ của mình theo quy định tại 70 Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung vụ án: Căn cứ tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án và quá trình tranh tụng tại phiên tòa, Viện kiểm sát nhân dân khu vực 10 – Thành phố Hồ Chí Minh nhận thấy có cơ sở để chấp nhận toàn bộ yêu cầu của nguyên đơn.
Về án phí: Nguyên đơn phải chịu án phí dân sự sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Sau khi nghiên cứu các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án, quá trình thẩm tra tại phiên toà, Hội đồng xét xử nhận định:
[1] Về quan hệ tranh chấp và thẩm quyền giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị N khởi kiện xin ly hôn với Đỗ Minh H, đây là tranh chấp về ly hôn được quy định tại khoản 1 Điều 28 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025). Bị đơn Đỗ Minh H có nơi cư trú tại Nhà không số, ấp C, xã V, Thành phố Hồ Chí Minh (cũ là: Tổ D, ấp D, xã V, huyện B, Thành phố Hồ Chí Minh), do đó căn cứ vào Điều 35 và điểm a khoản 1 Điều 39 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025) thì vụ án thuộc thẩm quyền giải quyết của Tòa án nhân dân khu vực 10 - Thành phố Hồ Chí Minh.
[2] Về sự có mặt, vắng mặt của các đương sự tại phiên tòa: Nguyên đơn bà Nguyễn Thị N có đơn đề nghị xét xử vắng mặt, bị đơn Đỗ Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ lần thứ hai để tham gia phiên tòa nhưng vẫn vắng mặt không có lý do. Do đó Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H theo quy định tại điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228 và Điều 238 của Bộ luật Tố tụng Dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025).
[3] Về quan hệ hôn nhân: Xét thấy bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H có đăng ký kết hôn theo Giấy chứng nhận kết hôn số 08, quyển số 01-2015 do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định cấp ngày 23 tháng 01 năm 2015. Do đó, quan hệ hôn nhân giữa bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H là quan hệ hôn nhân hợp pháp theo quy định tại Điều 8 và Điều 9 của Luật Hôn nhân và gia đình.
[4] Ông Đỗ Minh H đã được Tòa án thông báo về việc thụ lý vụ án; được triệu tập hợp lệ để lấy lời khai; được triệu tập tham gia phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; được thông báo về kết quả phiên họp kiểm tra việc giao nộp, tiếp cận, công khai chứng cứ và hòa giải; được triệu tập tham gia phiên tòa nhưng vẫn không đến Tòa án để giải quyết vụ án, không trình bày ý kiến phản đối về những tình tiết do phía nguyên đơn cung cấp cũng như những chứng cứ do Tòa án thu thập, Đỗ Minh H đã tự tước bỏ quyền được chứng minh của mình được quy định tại Điều 91 Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025). Căn cứ Khoản 2 Điều 92 Bộ luật Tố tụng dân sự, thì những nội dung, tình tiết do phía nguyên đơn cung cấp được chấp nhận mà không phải chứng minh. Vì vậy, Hội đồng xét xử căn cứ yêu cầu xin ly hôn, lời trình bày của Bà Nguyễn Thị N và các tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án để làm cơ sở giải quyết vụ án.
[5] Xét yêu cầu ly hôn của Bà Nguyễn Thị N: Trong quá trình giải quyết vụ án, Bà Nguyễn Thị N xác nhận trong quá trình chung sống giữa Bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H có phát sinh mâu thuẫn trầm trọng không thể hàn gắn.
[6] Tại Điều 19 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định:
1. “Vợ chồng có nghĩa vụ thương yêu, chung thủy, tôn trọng, chăm sóc, giúp đỡ nhau; cùng nhau chia sẻ, thực hiện các công việc trong gia đình.
2. Vợ chồng có nghĩa vụ sống chung với nhau, trừ trường hợp vợ chồng có thỏa thuận khác hoặc do yêu cầu của nghề nghiệp, công tác, học tập, tham gia các hoạt động chính trị, kinh tế, văn hóa, xã hội và lý do chính đáng khác”.
Tại khoản 1 Điều 56 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014 quy định: “Khi vợ hoặc chồng yêu cầu ly hôn mà hòa giải tại Tòa án không thành thì Tòa án quyết định cho ly hôn nếu có căn cứ về việc vợ, chồng có hành vi bạo lực gia đình hoặc vi phạm nghiêm trọng quyền, nghĩa vụ của vợ chồng làm cho hôn nhân lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích của hôn nhân không đạt được”.
[7] Hội đồng xét xử xét thấy trong quá trình chung sống, Bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H có xảy ra mâu thuẫn; nguyên nhân mâu thuẫn theo trình bày của Bà Nguyễn Thị N là do bất đồng trong cuộc sống, vợ chồng không có tiếng nói chung. Xét về mặt tình nghĩa vợ chồng thì hiện tại Bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H không còn thương yêu chăm sóc, giúp đỡ lẫn nhau, không còn sống chung, không cùng nhau chia sẻ thực hiện công việc trong gia đình. Mặt khác, trong suốt quá trình giải quyết vụ án, Đỗ Minh H đã được Tòa án tống đạt hợp lệ các văn bản tố tụng để triệu tập tham gia phiên hòa giải và tham dự phiên tòa nhưng Đỗ Minh H vẫn vắng mặt không có lý do, không có thiện chí để Tòa án tiến hành hòa giải cho vợ chồng đoàn tụ. Vì vậy, Hội đồng xét xử có cơ sở xác định cuộc sống hôn nhân của Bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H đã lâm vào tình trạng trầm trọng, đời sống chung không thể kéo dài, mục đích hôn nhân không đạt được. Do đó, việc Bà Nguyễn Thị N yêu cầu ly hôn với Đỗ Minh H là phù hợp với quy định tại Điều 51 và Điều 56 của Luật hôn nhân và gia đình năm 2014 và hoàn toàn có cơ sở chấp nhận.
[8] Bà Nguyễn Thị N xác nhận trong quá trình chung sống bà và ông Đỗ Minh H có 01 con chung là trẻ Đỗ Nguyễn Thanh T (sinh ngày 01 tháng 12 năm 2015). Hiện tại trẻ T đang sống cùng bà N. Khi ly hôn bà Nguyễn Thị N yêu cầu được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ T, yêu cầu ông Đỗ Minh H cấp dưỡng nuôi trẻ Đỗ Nguyễn Thanh T 2.000.000 đồng/tháng.
[9] Ông Đỗ Minh H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vẫn vắng mặt, không đến Tòa để thể hiện ý kiến đối với yêu cầu liên quan đến con chung. Do đó, ông Đỗ Minh H được xem là đã tự từ bỏ quyền yêu cầu về con chung và quyền chứng minh điều kiện, khả năng chăm sóc con. Vì vậy, Hội đồng xét xử chỉ xem xét, giải quyết vấn đề con chung theo yêu cầu của bà Nguyễn Thị N. Xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị N là có căn cứ, phù hợp với nguyện vọng của con và nhằm bảo đảm quyền lợi mọi mặt cho trẻ, Hội đồng xét xử xét thấy cần giao trẻ Đỗ Nguyễn Thanh T cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp nuôi dưỡng. Căn cứ Điều 81 của Luật Hôn nhân và gia đình năm 2014, Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N về việc được trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng trẻ Đỗ Nguyễn Thanh T sau khi ly hôn. Về mức cấp dưỡng, Hội đồng xét thấy yêu cầu của bà Nguyễn Thị N yêu cầu ông Đỗ Minh H cấp dưỡng nuôi Đỗ Nguyễn Thanh T 2.000.000 đồng/tháng là phù hợp với quy định của pháp luật nên chấp nhận.
[10] Về tài sản chung, nợ chung: Bà Nguyễn Thị N xác nhận không có, không yêu cầu Tòa án giải quyết nên Hội đồng xét xử không xem xét, giải quyết.
[11] Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn theo quy định tại khoản 4 Điều 147 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025) và điểm a khoản 5 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Ông Đỗ Minh H phải chịu án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con theo điểm a khoản 6 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ vào khoản 1 Điều 28, Điều 35, điểm a khoản 1 Điều 39, Điều 91, 92, khoản 4 Điều 147, điểm a và điểm b khoản 2 Điều 227, khoản 1 và khoản 3 Điều 228, Điều 238 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự năm 2015 (Sửa đổi, bổ sung năm 2019, 2020, 2022, 2023, 2024, 2025);
Căn cứ vào các Điều 8, 9, 19, 51, 56, 57 và 58 của Luật Hôn nhân và Gia đình năm 2014;
Căn cứ vào điểm a khoản 5, điểm a khoản 6 Điều 27 của Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội, quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án;
Tuyên xử:
- Chấp nhận toàn bộ yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N về việc yêu cầu ly hôn với ông Đỗ Minh H.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Đỗ Minh H.
Giấy chứng nhận kết hôn 08, quyển số 01-2015 do Ủy ban nhân dân phường C, thành phố N, tỉnh Nam Định (nay là phường N, tỉnh Ninh Bình) cấp ngày 23 tháng 01 năm 2015 không còn giá trị pháp lý.
- Về con chung: Bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H có 01 con chung là trẻ Đỗ Nguyễn Thanh T (sinh ngày 01 tháng 12 năm 2015).
Giao trẻ Đỗ Nguyễn Thanh T (sinh ngày 01 tháng 12 năm 2015) cho bà Nguyễn Thị N trực tiếp chăm sóc, nuôi dưỡng, ông Đỗ Minh H cấp dưỡng nuôi trẻ Đỗ Nguyễn Thanh T 2.000.000 đồng/tháng.
Ông Đỗ Minh H có quyền và nghĩa vụ thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con chung mà không ai được cản trở.
Cha, mẹ không trực tiếp nuôi con lạm dụng việc thăm nom để cản trở hoặc gây ảnh hưởng xấu đến việc trông nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con thì người trực tiếp nuôi con có quyền yêu cầu Tòa án hạn chế quyền thăm nom con của người đó theo quy định tại Điều 82 của Luật Hôn nhân và gia đình.
Cha, mẹ trực tiếp nuôi con cùng các thành viên gia đình không được cản trở người không trực tiếp nuôi con trong việc thăm nom, chăm sóc, nuôi dưỡng, giáo dục con.
Vì lợi ích con chung, sau này các đương sự có quyền xin thay đổi người trực tiếp nuôi con hoặc yêu cầu giải quyết việc cấp dưỡng nuôi con theo quy định tại Điều 83, Điều 84 và Điều 116 của Luật Hôn nhân và gia đình.
- Về tài sản chung và nợ chung: Do nguyên đơn khai không có nên Hội đồng xét xử không tiến hành xem xét, giải quyết.
- Về quan hệ hôn nhân: Bà Nguyễn Thị N được ly hôn với ông Đỗ Minh H.
- Về án phí dân sự sơ thẩm: Bà Nguyễn Thị N phải chịu 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) án phí dân sự sơ thẩm đối với yêu cầu ly hôn được trừ vào số tiền tạm ứng án phí 300.000 đồng (ba trăm nghìn đồng) theo biên lai thu tạm ứng án phí số 0052634 ngày 28 tháng 5 năm 2025 của Chi cục Thi hành án dân sự huyện Bình Chánh (nay là Phòng Thi hành án Dân sự khu vực 10 - Thi hành án Dân sự Thành phố H). Bà Nguyễn Thị N đã nộp đủ án phí.
Ông Đỗ Minh H phải chịu án phí 300.000 đồng đối với yêu cầu cấp dưỡng nuôi con.
- Về quyền kháng cáo: Bà Nguyễn Thị N và ông Đỗ Minh H có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết.
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a, 7b và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự./.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Nguyễn Xuân Dũng |
Bản án số 565/2025/HNGĐ-ST ngày 30/09/2025 của TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về ly hôn
- Số bản án: 565/2025/HNGĐ-ST
- Quan hệ pháp luật: Ly hôn
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2025
- Loại vụ/việc: Hôn nhân và gia đình
- Tòa án xét xử: TOÀ ÁN NHÂN DÂN KHU VỰC 10 – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: Ngọc - Hiển
