TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - Hạnh phúc |
Bản án số: 565/2024/DS-PT Ngày 30/9/2024 V/v tranh chấp hợp đồng tín dụng |
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
| Thẩm phán – Chủ tọa phiên toà: | Ông Bùi Ngọc Thạch |
| Các Thẩm phán: | Ông Đoàn Hoài Trí |
| Ông Huỳnh Văn Luật |
- Thư ký phiên tòa: Bà Nguyễn Thị Tường Vy – Thẩm tra viên Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương tham gia phiên tòa: Ông Lê Trung Kiên - Kiểm sát viên có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Trong các ngày 26 và 30 tháng 9 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Bình Dương, xét xử phúc thẩm công khai vụ án dân sự thụ lý số 316/2023/TLPT-DS ngày 05 tháng 10 năm 2023 về việc “Tranh chấp hợp đồng tín dụng”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DS-ST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên, tỉnh Bình Dương bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 397/2023/QĐ-PT ngày 04 tháng 6 năm 2024, giữa các đương sự:
Nguyên đơn: Ngân hàng TMCP Q (V1); địa chỉ: Tầng A, Tòa nhà S - A P, phường B, Quận A, Thành phố Hồ Chí Minh.
Người đại diện theo pháp luật: Ông Hàn Ngọc V – Chức vụ: Tổng Giám đốc,
Người đại diện theo ủy quyền:
- Ông Tạ Công T; vắng mặt
- Ông Nguyễn Ngọc Đ; có mặt
- Ông Võ Hoàng Đăng D; vắng mặt
- Ông K' Jac Ly; có mặt khi xét xử, vắng mặt khi tuyên án.
Bị đơn:
2
- Bà Đỗ Thị H, sinh năm 1990; địa chỉ: Tổ F, khu phố C, phường H, thành phố T, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Ông Nguyễn Văn L, sinh năm 1990; địa chỉ: Khu phố A, phường H, thị xã B, tỉnh Bình Dương; vắng mặt.
- Người kháng cáo: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V1).
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo đơn khởi kiện, quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, đại diện nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V1) trình bày:
Ngày 31 tháng 8 năm 2018 Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q (V1) (sau đây viết tắt là Ngân hàng Q) ký với bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 Hợp đồng tín dụng số 0765.HĐTD-VIB638, nội dung: giải ngân số tiền: 425.000.000 đồng, mục đích: thanh toán mua một xe ô tô nhãn hiệu Hyundai Elantra, thời hạn vay 96 tháng từ ngày 01/9/2018 đến ngày 31/8/2026; lãi suất tại thời điểm giải ngân là 9.99%/năm. Lãi suất này là lãi suất ưu đãi (so với lãi suất thông thường là lãi suất cơ sở trong kỳ + biên độ 3.09%/năm) và chỉ được áp dụng trong 12 tháng đầu tiên kể từ ngày giải ngân khoản vay. Hết thời hạn hưởng lãi suất ưu đãi nói trên, lãi suất sẽ được điều chỉnh lại 3 tháng một lần bằng lãi suất cơ sở theo quy định của Ngân hàng Q tại thời điểm điều chỉnh cộng biên độ 4.09%/năm. Hàng tháng vào cùng ngày trả lãi, mỗi kỳ trả: 4.427.000 đồng; kỳ cuối cùng trả 4.435.000 đồng. Hoàn trả lãi: hàng tháng vào ngày 30 tây, ngày trả nợ đầu tiên ngày 30 tháng 9 năm 2018; trả phí: theo quy định của Ngân hàng Q từng thời kỳ; lãi quá hạn bằng 150 % lãi trong hạn.
Ngân hàng Q đã giải ngân cho bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 theo Đơn đề nghị giải ngân kiêm Khế ước nhận nợ số 0765.KUNN-VIB638.18 ngày 31 tháng 8 năm 2018 với số tiền 425.000.000 đồng, theo yêu cầu của khách hàng và phù hợp với Hợp đồng tín dụng.
Ngày 04 tháng 4 năm 2019 bà Đỗ Thị H có đơn Đề nghị phát hành Thẻ tín dụng quốc tế kiêm Hợp đồng mở và sử dụng tài khoản. Ngân hàng Q đã phát hành thẻ tín dụng cho khách hàng Đỗ Thị H với hạn mức tín dụng 71.000.000 đồng, loại thẻ: V1, mục đích vay: tiêu dùng, lãi suất vay: theo quy định của Ngân hàng Q trong từng thời kỳ.
Quá trình thực hiện hợp đồng bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán nợ gốc và lãi phát sinh từ tháng 5/2022. Tạm tính đến ngày 05 tháng 6 năm 2023, bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 còn nợ Ngân hàng Q số tiền: 409.039.981 đồng, bao gồm: dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0765.HĐTD-VIB638.18 ngày 31 tháng 8 năm 2018 là 277.277.791 đồng (nợ gốc: 230.212.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 11.534.967 đồng, nợ lãi quá hạn: 35.530.824 đồng) và dư nợ thẻ tín dụng: 131.762.190 đồng (nợ gốc: 70.438.000 đồng, nợ lãi: 25.051.062 đồng, phí: 36.273.128 đồng), nguyên đơn khởi kiện yêu cầu:
3
- Buộc bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 liên đới thanh toán dư nợ theo Hợp đồng tín dụng số 0765.HĐTD-VIB638.18 ngày 31/8/2018 là 277.277.791 đồng (nợ gốc: 230.212.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 11.534.967 đồng, nợ lãi quá hạn: 35.530.824 đồng).
- Buộc bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 liên đới thanh toán dư nợ thẻ tín dụng: 131.762.190 đồng (nợ gốc: 70.438.000 đồng, nợ lãi: 25.051.062 đồng, phí: 36.273.128 đồng).
- Bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 tiếp tục phải chịu lãi, lãi quá hạn, phí kể từ ngày 06/6/2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại hợp đồng tín dụng và khế ước nhận nợ đã ký.
Nguyên đơn không yêu cầu xử lý đối với tài sản bảo đảm cho Hợp đồng tín dụng nêu trên.
Quá trình giải quyết vụ án, tại phiên tòa, các bị đơn vắng mặt, không có văn bản trình bày ý kiến trước yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn.
Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DSST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên đã xét xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc: Tranh chấp hợp đồng tín dụng” với bị đơn bà Đỗ Thị H, ông Nguyễn Văn L1:
1.1 Buộc bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 phải liên đới thanh toán cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q khoản nợ của Hợp đồng tín dụng 0765.HĐTD-VIB638.18 ngày 31/8/2018 với số tiền: 277.277.791 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu, hai trăm bảy mươi bảy nghìn, bảy trăm chín mươi mốt đồng), gồm: nợ gốc: 230.212.000 đồng, lãi trong hạn: 11.534.967 đồng và lãi quá hạn: 35.530.824 đồng;
Kể từ ngày 06/6/2023 cho đến khi thi hành xong, bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng thương mại cổ phần Q theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng 0765.HĐTD-VIB638.18 ngày 31/8/2018 và Khế ước nhận nợ 0765.KUNN-VIB638.18 ngày 31/8/2018.
1.2 Buộc bà Đỗ Thị H thanh toán nợ thẻ tín dụng 84.525.600 đồng (tám mươn bốn triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn, sáu trăm đồng), gồm: nợ gốc: 70.438.000 đồng, nợ lãi: 14.087.600 đồng (lãi suất 20%/năm).
Kể từ ngày 06/6/2023 cho đến khi thi hành xong, bà Đỗ Thị H còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo mức lãi suất quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc: Yêu cầu bà Đỗ Thị H thanh toán phí thẻ tín dụng V1 (G) và một phần tiền lãi với tổng số tiền 47.236.590 đồng (bao gồm: phí 36.273.128 đồng và lãi 10.963.462 đồng).
4
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn quyết định về án phí và quyền kháng cáo theo quy định của pháp luật.
Ngày 20 tháng 6 năm 2023 nguyên đơn Ngân hàng Q kháng cáo, yêu cầu Tòa án cấp phúc thẩm sửa bản án sơ thẩm; chấp nhận yêu cầu khởi kiện của Ngân hàng Q; buộc bà Đỗ Thị H, ông Nguyễn Văn L1 phải liên đới thanh toán cho Ngân hàng Q khoản nợ của Hợp đồng tín dụng số 0765.HĐTD-VIB638.18 ngày 31/08/2018 với số tiền 277.277.791 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu, hai trăm bảy mươi bảy nghìn, bảy trăm chín mươi mốt đồng), gồm: nợ gốc: 230.212.000 đồng, lãi trong hạn: 11.534.967 đồng và lãi quá hạn: 35.530.824 đồng; kể từ ngày 06 tháng 06 năm 2023 cho đến khi thi hành xong toàn bộ khoản nợ, bà Đỗ Thị H và ông L1 còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0765.HĐTD-VIB638.18 và Khế ước nhận nợ số 0765.KUNN-VIB638.18 ngày 31 tháng 8 năm 2018; buộc bà Đỗ Thị H và ông L1 phải liên đới thanh toán dư nợ thẻ tín dụng số tiền 131.277.791 đồng, gồm: nợ gốc: 70.438.000 đồng, nợ lãi: 25.051.062 đồng và phí: 36.273.128 đồng. Bà Đỗ Thị H và ông L1 tiếp tục phải chịu lãi, phí kể từ ngày 06 tháng 6 năm 2023 cho đến khi thanh toán xong toàn bộ khoản nợ theo quy định tại Đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 05 tháng 4 năm 2019.
Tại Mục 10.1 và 10.2 bà H (chủ thẻ) đã đồng ý và trả cho Ngân hàng Q các khoản phí, lãi phát sinh từ thẻ theo quy định tại biểu phí dịch vụ và lãi suất thẻ của Ngân hàng Q tại từng thời kỳ nên bà H phải trả phí mở thẻ tín dụng cho Ngân hàng Q.
Khi bà H mở thẻ tín dụng, sao kê giao dịch thấy mục đích chi trả tiền mua lương thực, thực phẩm cho các siêu thị nhằm phục vụ nhu cầu gia đình nên trách nhiệm thanh toán thẻ tín dụng là nghĩa vụ chung của vợ chồng bà H, ông L1.
Về án phí sơ thẩm: buộc bà H và ông L1 phải chịu toàn bộ án phí dân sự sơ thẩm, Ngân hàng Q không phải chịu án phí dân sự sơ thẩm. Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên hoàn lại cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q số tiền 8.245.522 đồng đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006721 ngày 15 tháng 02 năm 2023.
Tại phiên tòa phúc thẩm những người đại diện theo ủy quyền của nguyên đơn trình bày: Nguyên đơn vẫn giữ nguyên yêu cầu kháng cáo.
Ý kiến của Kiểm sát viên đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Bình Dương:
Về thủ tục tố tụng: những người tiến hành tố tụng và người tham gia tố tụng tại Tòa án cấp phúc thẩm đã thực hiện đúng quy định của Bộ luật Tố tụng dân sự.
Về nội dung: Bản án sơ thẩm xét xử vắng mặt bị đơn sau khi đã tiến hành các thủ tục theo quy định pháp luật và nội dung bản án buộc ông L1 bà H phải
5
trả cho Ngân hàng các khoản nợ theo hợp đồng tín dụng là phù hợp quy định pháp luật. Đề nghị Tòa án cấp phúc thẩm xét xử vụ án theo quy định pháp luật.
Sau khi nghiên cứu tài liệu, chứng cứ có trong hồ sơ vụ án được thẩm tra tại phiên tòa, căn cứ vào kết quả tranh tụng, ý kiến của Kiểm sát viên,
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
[1] Về tố tụng: Đơn kháng cáo của nguyên đơn làm trong thời hạn luật định, phù hợp với quy định tại các Điều 271, 272 và Điều 273 của Bộ luật Tố tụng dân sự và đương sự đã nộp tiền tạm ứng án phí theo quy định tại Điều 276 của Bộ luật Tố tụng dân sự nên vụ án được Tòa án cấp phúc thẩm xem xét giải quyết là hợp lệ.
Người tham gia tố tụng ông Nguyễn văn L1, bà Đỗ Thị H đã được Tòa án triệu tập hợp lệ nhưng vắng mặt. Tòa án tiến hành xét xử phúc thẩm vắng mặt các đương sự nêu trên theo quy định tại Điều 296 của Bộ luật Tố tụng dân sự.
[2] Về nội dung: Ngày 31 tháng 8 năm 2018 giữa Ngân hàng Q và bà Đỗ Thị H, ông Nguyễn Văn L1 ký kết Hợp đồng tín dụng số 0765.HĐTD-VIB638.18, ngân hàng đã giải ngân cho bà H, ông L1 số tiền 425.000.000 đồng. Tính đến thời điểm xét xử sơ thẩm, bà H, ông L1 còn nợ ngân hàng số tiền theo dư nợ tín dụng 277.277.791 đồng (nợ gốc: 230.212.000 đồng, nợ lãi trong hạn: 11.534.967 đồng, nợ lãi quá hạn: 35.530.824 đồng). Bà H, ông L1 vi phạm nghĩa vụ thanh toán từ tháng 5/2022. Căn cứ khoản 1 Điều 21 của Thông tư 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N quy định: “Tổ chức tín dụng có quyền chấm dứt cho vay, thu hồi nợ trước hạn theo nội dung đã thỏa thuận khi phát hiện khách hàng cung cấp thông tin sai sự thật, vi phạm quy định trong thỏa thuận cho vay...”, do đó bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 có trách nhiệm thanh toán nợ gốc, lãi theo Hợp đồng tín dụng đã ký kết cho Ngân hàng Q.
Về ký kết, thực hiện hợp đồng phát hành thẻ tín dụng: Căn cứ tài liệu, chứng cứ do nguyên đơn cung cấp, có cơ sở xác định giữa nguyên đơn và bà Đỗ Thị H có ký Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng ngày MERGEFIELD Ngày_làm_đơn_phát_hành_thẻ 04 tháng 4 năm 2019ơn đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản). Số tiền bà H nợ gốc tài khoản thẻ tín dụng là 70.438.000 đồng. Xét nội dung tại đề nghị phát hành thẻ tín dụng quốc tế kiêm hợp đồng mở và sử dụng tài khoản ngày 04 tháng 4 năm 2019 thể hiện Ngân hàng Q phát hành cho bà H 01 thẻ tín dụng V1 (V1) hạn mức 42.000.000 đồng, sau đó nâng hạn mức lên 71.000.000 đồng. Xét thấy, hợp đồng không có điều khoản thỏa thuận về quyền, nghĩa vụ của các bên; không có điều khoản quy định về phí, lãi; không quy định về phạm vi sử dụng thẻ, không quy định rõ thời hạn thanh toán sau. Đối chiếu với quy định tại Điều 5, Điều 13 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Ngân hàng N quy định về hoạt động thẻ ngân hàng, quy định “... Các hình thức thông báo và cung cấp thông tin về phí cho chủ thẻ phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ. Thời gian từ khi thông báo đến khi áp
6
dụng các thay đổi về phí tối thiểu là 07 ngày và phải được quy định cụ thể trong hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ”, Điều 13 quy định “...1. Hợp đồng phát hành và sử dụng thẻ phải bao gồm các nội dung tối thiểu sau: ...d) Các nội dung về quyền và nghĩa vụ của các bên; đ) Quy định về phí (các loại phí, các thay đổi về phí); ...h) Phạm vi sử dụng thẻ; ...”. Do đó có căn cứ xác định nguyên đơn phát hành thẻ tín dụng không tuân thủ đầy đủ quy định của pháp luật, không xác định rõ quyền, nghĩa vụ của các bên trong hợp đồng, không xác định rõ quy định về phí trong hợp đồng. Hợp đồng phát hành thẻ tín dụng không quy định về phí nên không có căn cứ buộc bị đơn phải trả phí. Các bên có thỏa thuận lãi nhưng không quy định rõ ràng trong hợp đồng phát hành thẻ tín dụng, tại phiên tòa nguyên đơn yêu cầu tính lãi theo mức lãi suất 30,5%/năm là không phù hợp quy định tại Điều 468 Bộ luật Dân sự vì lãi suất theo thỏa thuận không được vượt quá 20%/năm của khoản tiền vay. Do bà H vi phạm hợp đồng tín dụng từ tháng 5/2022, căn cứ quy định tại khoản 2 Điều 9 Mục I của Thông tư số 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 3 năm 2013 của Ngân hàng N thì toàn bộ khoản vay của bà Đỗ Thị H tại Ngân hàng Q đã chuyển nợ xấu, nên xác định thời điểm tháng 5/2022 là thời điểm bà H vi phạm hợp đồng phát hành thẻ tín dụng, làm cơ sở xác định thời gian tính lãi cho khoản nợ thẻ tín dụng. Ông L1 không ký hợp đồng phát hành thẻ tín dụng với Ngân hàng Q, nguyên đơn không cung cấp được chứng cứ chứng minh ông L1 có liên quan đến khoản vay thẻ tín dụng nên không có cơ sở buộc ông L1 liên đới thanh toán khoản nợ thẻ tín dụng nêu trên.
Từ những phân tích trên, xét thấy Tòa án cấp sơ thẩm xét xử là phù hợp quy định pháp luật, không chấp nhận kháng cáo của Ngân hàng Q. Tòa án cấp phúc thẩm giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DSST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên.
[3] Ý kiến của người đại diện hợp pháp của nguyên đơn bổ sung chứng cứ tại phiên tòa phúc thẩm là không có cơ sở chấp nhận.
[4] Ý kiến đề nghị của đại diện Viện kiểm sát là phù hợp nên Hội đồng xét xử chấp nhận.
[5] Về án phí: Ngân hàng Q phải nộp theo quy định của pháp luật.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
- Căn cứ các Điều: 147; 148; khoản 1 Điều 308 và Điều 313 của Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Căn cứ Điều 5, Điều 13 của Thông tư số 19/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 6 năm 2016 của Ngân hàng N;
- Căn cứ khoản 1 Điều 21, Điều 13 của Thông tư số 39/2016/TT-NHNN ngày 30 tháng 12 năm 2016 của Ngân hàng N;
- Căn cứ khoản 2 Điều 9 Mục I của Thông tư 02/2013/TT-NHNN ngày 21 tháng 3 năm 2013 của Ngân hàng N.
7
- Căn cứ Nghị quyết 01/2019/NQ-HĐTP ngày 11 tháng 01 năm 2019 của Hội đồng Thẩm phán Tòa án nhân dân tối cao về việc hướng dẫn áp dụng một số quy định của pháp luật về lãi, lãi suất, phạt vi phạm.
- Căn cứ các Điều: 26, 29 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30-12-2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội khóa 14 quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí của Tòa án.
Giữ nguyên Bản án dân sự sơ thẩm số 40/2023/DSST ngày 05 tháng 6 năm 2023 của Tòa án nhân dân thành phố Tân Uyên như sau:
Tuyên xử:
1. Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc tranh chấp hợp đồng tín dụng với bị đơn bà Đỗ Thị H, ông Nguyễn Văn L1:
1.1 Buộc bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 liên đới thanh toán cho Ngân hàng Q khoản nợ của Hợp đồng tín dụng 0765.HĐTD-VIB638.18 ngày 31 tháng 8 năm 2018, số tiền 277.277.791 đồng (hai trăm bảy mươi bảy triệu, hai trăm bảy mươi bảy nghìn, bảy trăm chín mươi mốt đồng), gồm: nợ gốc: 230.212.000 đồng, lãi trong hạn: 11.534.967 đồng và lãi quá hạn: 35.530.824 đồng;
Kể từ ngày 06 tháng 6 năm 2023 cho đến khi thi hành án xong, bà H và ông L1 còn phải tiếp tục trả lãi cho Ngân hàng Q theo mức lãi suất thỏa thuận tại Hợp đồng tín dụng số 0765.HĐTD-VIB638.18 và Khế ước nhận nợ số 0765.KUNN-VIB638.18 ngày 31 tháng 8 năm 2018.
1.2 Buộc bà Đỗ Thị H thanh toán nợ thẻ tín dụng 84.525.600 đồng (tám mươi bốn triệu, năm trăm hai mươi lăm nghìn, sáu trăm đồng), gồm: nợ gốc 70.438.000 đồng, nợ lãi 14.087.600 đồng.
Kể từ ngày 06 tháng 6 năm 2023 cho đến khi thi hành án xong, bà H còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền còn phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Điều 357, khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự.
2. Không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của nguyên đơn Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q về việc: Yêu cầu bà Đỗ Thị H thanh toán phí thẻ tín dụng V1 (G) và một phần tiền lãi với tổng số tiền 47.236.590 đồng (gồm phí 36.273.128 đồng và lãi 10.963.462 đồng).
3. Về án phí dân sự sơ thẩm:
- - Bà Đỗ Thị H và ông Nguyễn Văn L1 liên đới phải chịu 13.863.890 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Bà Đỗ Thị H phải chịu 4.226.280 đồng án phí dân sự sơ thẩm.
- - Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phải chịu 2.361.830 đồng án phí dân sự sơ thẩm, được khấu trừ 8.245.522 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0006721 ngày 15 tháng 02 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên. Chi cục Thi hành án dân sự
8
thành phố Tân Uyên hoàn trả cho Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q 5.883.692 đồng.
4. Về án án phí dân sự phúc thẩm: Ngân hàng Thương mại Cổ phần Q phải nộp 300.000 đồng, được khấu trừ 300.000 đồng tạm ứng án phí đã nộp theo Biên lai thu tạm ứng án phí, lệ phí Tòa án số 0007801 ngày 23 tháng 6 năm 2023 của Chi cục Thi hành án dân sự thành phố Tân Uyên.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 của Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án./.
| THÀNH VIÊN HỘI ĐỒNG XÉT XỬ | THẨM PHÁN-CHỦ TỌA PHIÊN TÒA |
9
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Bùi Ngọc Thạch |
Bản án số 565/2024/DS-PT ngày 30/09/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG về tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Số bản án: 565/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp hợp đồng tín dụng
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 30/09/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH BÌNH DƯƠNG
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: giữ nguyên bản án sơ thẩm
