TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA TỈNH ĐỒNG NAI | CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 564/2024/HS-ST
Ngày: 22/10/2024
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA
TỈNH ĐỒNG NAI
Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Nguyễn Trần Nhàn
Các Hội thẩm nhân dân: Ông Phan Anh Dũng
Ông Trần Công Danh
- Thư ký phiên tòa: Ông Tôn Hoài Anh Tuyển – Thư ký Tòa án nhân dân Thành phố Biên Hòa.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân TP . Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai tham gia phiên tòa: Bà Bùi Thị Thu Thảo – Kiểm sát viên.
Trong ngày 22 tháng 10 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Biên Hòa, tỉnh Đồng Nai đưa ra xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số 539/2024/HSST ngày 13 tháng 09 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số 547/QĐXXST-HS ngày 16/9/2024; Quyết định hoãn phiên tòa số 991/2024/HSST-QĐ ngày 30/9/2024; Thông báo thay đổi lịch xét xử số 52/TB-TA ngày 17/10/2024 đối với bị cáo:
Họ và tên: Lâm Ngọc Khánh V; Tên gọi khác: Không
Giới tính: Nữ; Sinh năm: 1996; Nơi sinh: tỉnh Đắk Lắk.
Nơi cư trú: Không.
Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Không rõ; Tôn giáo: Không.
Nghề nghiệp: Không; Trình độ học vấn: Không rõ.
Họ tên cha: Không rõ; Họ tên mẹ: Không rõ;
Bị cáo sống chung như vợ chồng với Nguyễn Minh T (sinh năm 1990); có 04 người con chung, con lớn nhất sinh năm 2018, con nhỏ nhất sinh năm 2024;
Tiền án, tiền sự: không có.
Bị cáo bị tạm giữ từ ngày 12/7/2024 sau đó tạm giam đến nay. Hiện bị can đang bị tạm giam tại Nhà tạm giữ Công an thành phố B.
Người bào chữa cho bị cáo:
1/ Người bào chữa cho bị cáo Lâm Ngọc Khánh V: Bà Bùi Thị H – Trợ giúp viên pháp lý – Trung tâm Trợ giúp pháp lý tỉnh Đ. (Có mặt)
- Bị hại:
1/ Bà Vi Thị P, sinh năm 1970
2/ Ông Tô Văn S, sinh năm 1975
Cùng địa chỉ: tổ D, khu phố L, phường T, thành phố B, tỉnh Đồng Nai.
(Bị cáo có mặt; bị hại có đơn xin vắng mặt)
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên tòa, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Lâm Ngọc Khánh V là đối tượng sống lang thang, không có nơi cư trú, không có việc làm ổn định.
Vào khoảng 18 giờ ngày 17/3/2023, Lâm Ngọc Khánh V dẫn theo 02 con nhỏ đi bộ trên đường P thuộc khu phố L, phường T, thành phố B để xin ăn. Đến khoảng 20 giờ cùng ngày, khi đến tiệm C4 thuộc tổ C, khu phố L, phường T, thành phố B do bà Vi Thị P (sinh năm 1970) làm chủ, V thấy tiệm bán cây cảnh được rào bằng lưới B40 có thể tháo ra được, bên trong có 01 căn nhà dạng nhà tiền chế bằng cọc sắt, vây tôn xung quanh có điện mở sáng, có khóa cửa, không có người trông coi nên V nảy sinh ý định vào phía bên trong nhà để trộm cắp tài sản. Thực hiện ý định trên, V dẫn 02 người con đi theo lối bên hông hàng rào vào trong khuôn viên tiệm bán cây cảnh. V đi ra phía bên hông căn nhà thì thấy 01 dao tự chế bằng kim loại màu đen dài khoảng 45cm nên V sử dụng con dao này để cạy tấm tôn bên hông nhà để tạo khoảng trống rồi chui qua khoảng trống này để vào bên trong nhà. V đi vào phía phòng ngủ lục tìm tài sản, lúc này V thấy ở phía đầu giường ngủ, ở dưới gối vải có 01 cọc tiền dày khoảng 05cm được buộc thun với nhiều mệnh giá khác nhau từ 1.000 đồng (Một nghìn đồng) đến 100.000 đồng (Một trăm nghìn đồng), V không đếm cọc tiền nên không biết cọc tiền có bao nhiêu tiền. Sau đó, V liền cất cọc tiền này vào túi áo khoác V đang mặc và tiếp tục tìm tài sản thì phát hiện 01 con heo đất màu đỏ để bên trong tủ quần áo, cửa tủ không khóa nên V mang con heo đất ra phòng khách của căn nhà, dùng cây kìm bằng kim loại có tại phòng khách đập bể phần đuôi của con heo đất thì thấy bên trong có nhiều tờ tiền mệnh giá là 200.000 đồng (Hai trăm nghìn đồng) và 500.000 đồng (Năm trăm nghìn đồng), V không đếm có bao nhiêu tiền, V lấy hết số tiền trong con heo đất cất giấu vào túi áo khoác cùng với cọc tiền lúc đầu. V vứt bỏ con dao, cây kìm và con heo đất lại phòng khách rồi bỏ đi.
Đến khoảng 21 giờ cùng ngày, bà Vi Thị P đi công việc về nhà ở tiệm C4 phát hiện nhà có dấu hiệu bị cạy phá, kiểm tra phát hiện số tiền 4.500.000đ (Bốn triệu năm trăm nghìn đồng) để dưới gối trong phòng ngủ và số tiền 32.000.000₫ (Ba mươi hai triệu đồng) trong con heo đất đã bị kẻ gian lấy trộm nên đến Công an phường T trình báo sự việc trên. Công an phường T lập hồ sơ chuyển Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an thành phố B xử lý theo quy định.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra V khai nhận toàn bộ hành vi Trộm cắp tài sản trên.
* Vật chứng và xử lý: Số tiền 36.500.000₫ (Ba mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng), V đã tiêu xài cá nhân hết nên không thu hồi được.
Tại bản Kết luận giám định pháp y tâm thần số 649/KL-VPYTW ngày 11 tháng 9 năm 2023 của Viện pháp y tâm thần trung ương B kết luận:
- - Về y học:
- + Trước, trong, sau khi gây án và hiện nay: Đương sự bị bệnh Chậm phát triển tâm thần nhẹ (F70 – ICD.10).
- - Về khả năng nhận thức và điều khiển hành vi:
- + Tại thời điểm gây án và hiện nay: Đương sự bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi.”
Về dân sự:
Quá trình điều tra, người bị hại là bà Vi Thị P, ông Tô Văn S yêu cầu bị cáo V bồi thường số tiền 36.500.000₫ (Ba mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Hiện bị cáo V chưa bồi thường.
Tại bản cáo trạng số 533/CT-VKSBH ngày 12/9/2024, Viện kiểm sát nhân dân Thành phố Biên Hòa đã truy tố bị cáo Lâm Ngọc K V khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự.
Tại phiên tòa ngày hôm nay, Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa giữ nguyên quan điểm truy tố và đề nghị Hội đồng xét xử áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015 để xử phạt bị cáo Lâm Ngọc Khánh V về tội “Trộm cắp tài sản” với mức án từ 08 tháng tù giam đến 12 tháng tù giam.
Bà Bùi Thị H bào chữa trình bày lời bào chữa: Thống nhất nội dung cáo trạng truy tố về tội danh, khung hình phạt. Về mức hình phạt đại diện Viện kiểm sát đưa ra đã cân nhắc và đánh giá đầy đủ các tình tiết giảm nhẹ, tuy nhiên đề nghị Hội đồng xét xử xem xét bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ, hoàn cảnh gia đình khó khăn, nhận thức của bị cáo còn hạn chế. Vì vậy, đề nghị Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt cho bị cáo, thể hiện chính sách nhân đạo, cho bị cáo có cơ hội làm lại cuộc đời.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan điều tra Công an thành phố B, Điều tra viên, Viện kiểm sát nhân dân thành phố Biên Hòa, Kiểm sát viên trong quá trình điều tra, truy tố đã thực hiện đúng thẩm quyền, trình tự, thủ tục theo quy định của Bộ luật Tố tụng Hình sự. Quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại về hành vi, quyết định của các Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện đều hợp pháp.
[2] Tại phiên tòa, bị cáo Lâm Ngọc Khánh V thừa nhận: Vào khoảng 20 giờ ngày 17/3/2023 tại tiệm C4 thuộc tổ C, khu phố L, phường T, thành phố B, Lâm Ngọc Khánh V có hành vi trộm cắp số tiền 36.500.000₫ (Ba mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng) của bà Vi Thị P, ông Tô Văn S thì bị phát hiện, khởi tố để điều tra xử lý.
Lời khai nhận của bị cáo phù hợp với lời khai của người bị hại và phù hợp với các chứng cứ, tài liệu khác có tại hồ sơ.
Như vậy, đã có đủ cơ sở kết luận bị cáo Lâm Ngọc Khánh V phạm tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự như Cáo trạng của Viện kiểm sát nhân thành phố B đã truy tố đối với bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Hành vi phạm tội của bị cáo Lâm Ngọc Khánh V là nguy hiểm cho xã hội, xâm phạm trực tiếp tài sản của người khác là khách thể được pháp luật bảo vệ, gây mất trật tự trị an xã hội tại địa phương, gây hoang mang trong quần chúng nhân dân.
Bản thân bị cáo V là một người đã trưởng thành. Vì muốn có tiền tiêu xài, mà không phải bỏ sức lao động, bị cáo đã lợi dụng sự sơ hở của bị hại trong việc quản lý tài sản, cố ý thực hiện hành vi chiếm đoạt tài sản của bị hại. Vì vậy, cần thiết phải xử phạt bị cáo một mức án nghiêm, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội mà các bị cáo đã gây ra, cách ly bị cáo khỏi đời sống xã hội một thời gian nhằm răn đe, giáo dục bị cáo và phòng ngừa tội phạm chung.
[4] Về các tình tiết tăng nặng: Không có
[5] Tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự: Phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng; Quá trình điều tra thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải; Người phạm tội là người có bệnh bị hạn chế khả năng nhận thức và điều khiển hành vi của mình; bị cáo hiện đang nuôi con nhỏ. Đây là tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự quy định tại điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật hình sự khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
[6] Về trách nhiệm dân sự: Quá trình điều tra, bà Vi Thị P, ông Tô Văn S yêu cầu bồi thường số tiền 36.500.000 đồng (Ba mươi sáu triệu năm trăm nghìn đồng). Tại phiên tòa, bị cáo đồng ý bồi thường số tiền 36.500.000 đồng cho bà P, ông S nên hội đồng xét xử ghi nhận.
[7] Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội buộc bị cáo phải nộp 200.000đ án phí hình sự sơ thẩm và số tiền 1.825.000 đồng án phí Dân sự sơ thẩm.
[8] Lời trình bày của người bào chữa của bị cáo V phù hợp với nhận định của Hội đồng xét xử về các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự đối với bị cáo nên chấp nhận.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, q, s khoản 1, khoản 2 Điều 51 Bộ luật Hình sự năm 2015.
Tuyên bố bị cáo Lâm Ngọc Khánh V phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
Xử phạt: Bị cáo Lâm Ngọc Khánh V: 10 (mười) tháng tù giam. Thời hạn tù tính từ ngày 12/7/2024
Về phần dân sự: áp dụng Điều 468; 584; 585 Bộ luật Dân sự;
Buộc bị cáo Lâm Ngọc Khánh V phải bồi thường số tiền 36.500.000 đồng (Ba mưới sáu triệu năm trăm nghìn đồng) cho bà Vi Thị P, ông Tô Văn S.
Kể từ ngày bản án, quyết định có hiệu lực pháp luật (đối với các trường hợp cơ quan thi hành án có quyền chủ động ra quyết định thi hành án) hoặc kể từ ngày có đơn yêu cầu thi hành án của người được thi hành (đối với các khoản tiền phải trả cho người được thi hành án) cho đến khi thi hành án xong, tất cả các khoản tiền hàng tháng bên thi hành án phải thi hành án còn phải chịu khoản tiền lãi của số tiền phải thi hành án theo mức lãi suất quy định tại Khoản 2 Điều 468 Bộ luật dân sự năm 2015
Quyết định này được thi hành theo qui định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo qui định tại các Điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo qui định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
- Về án phí: Áp dụng khoản 2 Điều 136 Bộ luật Tố tụng Hình sự 2015 và Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban thường vụ Quốc Hội. Buộc bị cáo Lâm Ngọc Khánh V phải nộp 200.000đ (hai trăm nghìn) án phí Hình sự sơ thẩm và số tiền 1.825.000 đồng (một triệu không trăm chín mươi năm nghìn, bốn trăm đồng) tiền án phí Dân sự sơ thẩm.
Về quyền kháng cáo: Bị cáo được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày tuyên án. Bị hại được quyền kháng cáo trong hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
Nơi nhận:
| TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN - CHỦ TỌA PHIÊN TOÀ Nguyễn Trần Nhàn |
Bản án số 564/2024/HS-ST ngày 22/10/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI về hình sự - trộm cắp tài sản
- Số bản án: 564/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Hình sự - Trộm cắp tài sản
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 22/10/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ BIÊN HÒA, TỈNH ĐỒNG NAI
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: bị cáo Vy có hành vi trộm cắp tài sản
