|
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập - Tự do - hạnh phúc |
|
Bản án số: 563/2024/DS-PT Ngày: 25/11/2024 V/v “Tranh chấp quyền sử dụng đất”. |
NHÂN DANH NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Thành phần Hội đồng xét xử phúc thẩm gồm có:
Thẩm phán - Chủ toạ phiên toà: Bà Dương Thúy Hằng
Các Thẩm phán: Bà Võ Thị Hồng Mai
Bà Đặng Thị Đồng
- Thư ký phiên tòa: Bà Lê Mai Hương - Thư ký Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh.
- Đại diện Viện Kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh tham gia phiên tòa: Bà Đặng Thị Châu - Kiểm sát viên.
Trong các ngày 22, 25 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân tỉnh Tây Ninh xét xử công khai vụ án dân sự phúc thẩm thụ lý số: 369/2024/TLPT-DS, ngày 07 tháng 10 năm 2024 về việc “Tranh chấp quyền sử dụng đất”.
Do Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024, của Toà án nhân dân Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh bị kháng cáo.
Theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử phúc thẩm số: 520/2024/QĐ-PT ngày 23 tháng 10 năm 2024, giữa các đương sự:
1. Nguyên đơn: Bà Nguyễn Thị N, sinh năm 1952, địa chỉ cư trú: Khu phố C, thị trấn D, huyện D, tỉnh Bình Dương, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn: Chị Bùi Thị Hoa M, địa chỉ cư trú: Khu phố L, phường L, thị xã H, tỉnh Tây Ninh, là người đại diện theo uỷ quyền của nguyên đơn (văn bản uỷ quyền ngày 09-6-2023) có mặt.
2. Bị đơn: Anh Nguyễn Minh T, sinh năm 1973, chị Lê Thị T1, sinh năm 1979, cùng địa chỉ cư trú: Ấp A, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, vắng mặt.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn:
Anh Nguyễn Ngọc T2, sinh năm 1985, địa chỉ cư trú: Số D H, phường H, thành phố T, thành phố Hồ Chí Minh. Chị Nguyễn Ái V, sinh năm 1993, địa chỉ cư trú: Số B U, Phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh, là người đại diện theo uỷ quyền của đồng bị đơn (văn bản uỷ quyền ngày 09-4-2024) có mặt.
Địa chỉ liên lạc của anh T2, chị V: Số B đường P, phường B, quận P, Thành phố Hồ Chí Minh (Lầu H, toà nhà T7)
3. Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan: Ông Đặng Văn L, sinh năm 1964; địa chỉ cư trú: Ấp A, xã Đ, huyện D, tỉnh Bình Dương, có đơn đề nghị giải quyết vắng mặt.
Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn: Bà Nguyễn Thị Hồng T3; địa chỉ: Lầu H, Tòa nhà S, phố Q, phường N, quận H, Thành phố Hà Nội, là Luật sư của Công ty L2, thuộc Đoàn luật sư Thành phố H, vắng mặt.
Người kháng cáo: bà Nguyễn Thị N là nguyên đơn, anh Nguyễn Minh T, Lê Thị T1 là bị đơn.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
* Theo đơn khởi kiện ngày 08-5-2023 và quá trình giải quyết vụ án, người đại diện theo uỷ quyền của bà N, chị Bùi Thị Hoa M trình bày:
Bà N là dì của anh T. Năm 2002, cha mẹ bà N có cho bà N và bà Đ1 là mẹ của anh T phần đất có diện tích 9.641,7m² thửa 176, tờ bản đồ số 21, toạ lạc tại ấp A, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Năm 2007, bà N và bà Đ1 cùng trồng cao su, trồng xong bà Đ1 chia cho bà N 273 cây, bà N đã chăm sóc, quản lý khai thác, sử dụng từ đó đến nay. Bà N nhiều lần yêu cầu bà Đ1 tách giấy nhưng cứ hẹn, sau đó đến chồng bà Đ1 và hiện nay con bà Đ1 là anh Nguyễn Minh T và chị Lê Thị T1. Bà N nhiều lần yêu cầu anh T, chị T1 trả lại phần đất trên nhưng anh T, chị T1 không thực hiện. Nay bà N yêu cầu anh T, chị T1 trả lại cho bà N phần đất có diện tích sau khi đo đạc là 4.684,3m² có cây cao su trên đất.
Do anh T và chị T1 không cho bà N khai thác mủ 273 cây cao su từ ngày 02-5-2023 cho đến nay nên bà N bị thiệt hại mất thu nhập bình quân 1.700.000 đồng/tháng. Bà N yêu cầu anh T, chị T1 bồi thường mất thu nhập từ ngày 02-5-2023 cho đến khi xét xử là 10,5 tháng, mỗi tháng 1.700.000 đồng, tổng cộng số tiền 17.850.000 đồng.
Đối với yêu cầu phản tố của bị đơn: Bà N không đồng ý với toàn bộ yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1, với các lý do sau:
Nguồn gốc thửa đất 176, tờ bản đồ số 21 có diện tích 9641,7m², tọa lạc tại ấp A, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh, do anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất (GCNQSDĐ) số CH00695, ngày 22/11/2016 là của cha mẹ bà N khai phá. Sau khi ba bà N mất, năm 2002 mẹ bà N đã kêu anh chị em của bà N về để chia đất. Cha mẹ bà N có nhiều đất, ở nhiều nơi khác nhau, trong đó cha mẹ chia cho ông T4 và bà N1 01 phần; ông N2 và ông Đ 01 phần, ông L1 là con út được 01 phần, còn bà N và bà Nguyễn Thị Đ1 (Mẹ ruột của anh T, mẹ chồng của chị T1) chung 01 phần có diện tích 9641,7m², thửa số 176, tờ bản đồ số 21 tọa lạc tại ấp A, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Sau khi được chia đất các anh, chị em bà N đã thực hiện chia tách đất ra rõ ràng cho từng người. Do bà N không ở B như bà Đ1, mà lúc đó đi dạy và ở D, nên bà N có giao cho bà Đ1 kê khai đăng ký đứng tên dùm luôn phần đất của bà N. Đến năm 2007, bà N và bà Đ1 thỏa thuận thống nhất trồng cây cao, sau khi trồng tính tiền giống, tiền công mỗi người chịu một nửa và bà Đ1 chia cho bà N 273 cây cao su bà N đã chăm sóc, quản lý, khai thác, sử dụng từ năm 2007 đến nay.
Khi anh T, chị T1 ký hợp đồng đặt cọc mua bán đất, với cam kết không có bất kỳ tranh chấp nào liên quan đến mảnh đất nói trên. Trong khi anh T, chị T1 biết trong phần diện tích 9641,7m² đất vợ chồng anh được cấp có phần của bà N, vì sự việc này chị em trong gia đình đều biết và chị em của bà N cũng đã có kêu T tách ½ thửa đất cho bà N mà T không thực hiện, anh T, chị T1 cũng biết bà N quản lý, khai thác mủ cao su từ năm 2007 nhưng anh T, chị T1 vẫn cam kết đất không tranh chấp để nhận tiền cọc của bên mua. Rõ ràng, lỗi này là do anh T, chị T1 không phải lỗi của bà N.
* Quá trình giải quyết vụ án, đại diện bị đơn, anh Nguyễn Ngọc T2 và chị Nguyễn Ái V trình bày:
Không đồng ý yêu cầu của nguyên đơn đối với yêu cầu trả 4.684,3m², vì nguồn gốc đất này của cha mẹ anh T2 khai hoang và tặng cho vợ chồng anh T2. Vợ chồng anh đã được cấp GCNQSDĐ ngày 22-11-2016 với diện tích 9641,7m². Đối với yêu cầu bồi thường mất thu nhập mủ cao su từ ngày 02-5-2023 cho đến khi nay là 10,5 tháng, mỗi tháng 1.700.000 đồng là 17.850.000 đồng của bà N: Vợ chồng anh T2 cũng không đồng ý, do anh T2 không ngăn cản bà N khai thác và anh T2, chị T1 cũng không khai thác phần cao su đó.
Vợ chồng anh T2 có đơn phản tố yêu cầu bà N bồi thường thiệt hại cho vợ chồng anh T2 vì:
Ngày 01-3-2023, vợ chồng anh T2 chị T1 cùng ông Đặng Văn L ký hợp đồng đặt cọc nhằm mục đích đặt cọc để tiến hành các thủ tục chuyển nhượng thửa đất số 176, tờ bản đồ số 21, toạ lạc tại ấp A, xã B, Huyện D.
Vợ chồng anh T2 chị T1 có nhận cọc của ông L số tiền 300.000.000 đồng và hẹn thời gian không quá 05 tháng (hạn cuối ngày 01-8-2023) ông L sẽ giao đủ số tiền 3.000.000.000 đồng cho vợ chồng ông T2 và ký hợp đồng chuyển nhượng. Sau khi nhận cọc vợ chồng anh T2 yêu cầu bà N trả đất để tiến hành các thủ tục mua bán nhưng bà N không trả. Ngày 01-6-2023, bà N khởi kiện tranh chấp một phần thửa đất vợ chồng anh T2 đã nhận cọc của ông L. Do nội dung của hợp đồng có cam kết đất không tranh chấp, nếu hết thời hạn mà không tiến hành việc chuyển nhượng thì vợ chồng anh T2 phải bồi thường. Sau nhiều lần thoả thuận không thành vợ chồng anh T2 phải trả tiền cọc 300.000.000 đồng và phạt cọc 300.000.000 đồng cho anh L. Nay vợ chồng anh T2 phản tố yêu cầu bà N bồi thường cho vợ chồng anh T2 số tiền 300.000.000 đồng mà vợ chồng anh T2 bị phạt cọc và trả tiền lãi theo mức lãi suất 10%/năm từ ngày 15-5-2024 (ngày trả tiền phạt cọc) cho đến khi thanh toán xong số tiền 300.000.000 đồng.
* Quá trình giải quyết vụ án, người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan, ông Đặng Văn L trình bày:
Ông có nhận chuyển nhượng đất của vợ chồng anh T2, chị T1 phần đất có diện tích 2.000m² toạ lạc tại ấp A, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh với số tiền là 3.000.000.000 đồng. Ngày 01-3-2023, vợ chồng anh T2 có cọc cho ông số tiền 300.000.000 đồng. Do đất tranh chấp không thực hiện được việc chuyển nhượng nên vợ chồng anh T2 có trả cho ông 600.000.000 đồng, trong đó 300.000.000 đồng tiền cọc và 300.000.000 đồng tiền phạt cọc. Ông không có ý kiến, yêu cầu gì trong vụ kiện này.
* Ý kiến của người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn, bà Nguyễn Thị Hồng T3 tại phiên tòa sơ thẩm trình bày:
Bà N khởi kiện nhưng không cung cấp được chứng cứ chứng minh nguồn gốc đất là của cha mẹ bà N. Không cung được chứng cứ bà N và bà Đ1 được cho đất và cùng nhau khai thác.
Đại diện của bà niên cho rằng khi cha mẹ của bà N chia đất có mặt 07 anh em, tuy nhiên theo Biên bản lấy lời khai của ông N2 thể hiện: Phần đất tranh chấp ông không nghe trực tiếp từ cha mẹ cho bà N và bà Đ1 vì ông N2 ở xa, ông nghe các em của ông nói lại. Ngoài ra còn có hai người làm chứng xác định đất này là của ông S và bà Đ1. Đối với yêu cầu bồi thường thiệt hại thì không đồng ý vì vợ chồng anh T2 không ngăn cản bản Niên cạo mủ, vợ chồng anh T2 cũng không có cạo mủ. Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N.
Đối với yêu cầu phản tố của vợ chồng anh T2: Vợ chồng anh T2 được cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất. Vợ chồng anh T2 nhận tiền cọc của ông L ngày 01-3-2023. Ngày 18-5-2023, bà N gởi đơn tranh chấp ở xã, do có tranh chấp nên anh T2 không chuyển nhượng được cho ông L nên bị phạt cọc số tiền 300.000.000 đồng. Như phân tích đất trên đất là của vợ chồng anh T2, bà N tranh chấp nên anh T2 không chuyển nhượng được là do lỗi của bà N. Đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố bồi thường thiệt hại của vợ chồng anh T2 số tiền 300.000.000 đồng và tiền lãi của 300.000.000 đồng tính từ ngày 15-5-2023 cho đến khi trả xong 300.000.000 đồng.
Tại bản án số 106/2024/DS-ST ngày 22/7/2024 của TAND Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh đã quyết định:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Buộc anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 trả cho bà Nguyễn Thị N diện tích 2.776,6m² đất thuộc một phần thửa 176, tờ bản đồ số 1, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Bà N được quyền sử dụng diện tích 2.776,6m² và cây cao su trên đất.
Phần đất có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 176, dài 31,16m; 3,09m
- Hướng Tây giáp một 76, dài 29,90m
- Hướng Nam giáp một phần thửa 176, dài 1,26m; 48,52m; 46,66m
- Hướng Bắc giáp một phần thửa 177 dài 1,09m; 2,87m; 37,64m; giáp một phần thửa 178 dài 51,27m. (có sơ đồ kèm theo)
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N yêu cầu anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 trả diện tích 1.907,7m² đất thuộc một phần thửa 176, tờ bản đồ số 21, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Đương sự đến cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp theo quyết định của bản án.
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 về việc yêu cầu bồi thường tiền mất thu nhập 17.850.000 đồng.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 đối với bà N về việc bồi thường số tiền 335.582.000 đồng, trong đó số tiền yêu cầu bồi thường là 300.000.000 đồng, số tiền lãi là 35.582.000 đồng.
Ngoài ra, bản án sơ thẩm còn tuyên về chi phí tố tụng, án phí, quyền kháng cáo của các đương sự theo quy định của pháp luật.
Ngày 31/7/2024 anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 kháng cáo đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm về việc chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc anh T, chị T1 trả cho bà N diện tích 2.776,6m² đất thuộc 01 phần thửa 176, tờ bản đồ 21 tại ấp A, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh và cây cao su trên đất. Đề nghị chấp nhận yêu cầu phản tố của anh T, chị T1, buộc bà N trả cho anh T, chị T1 số tiền phạt cọc là 300.000.000 đồng và tiền lãi là 10%/năm từ ngày 15/5/2024 cho đến khi trả hết nợ.
Ngày 05/8/2024, bà Nguyễn Thị N kháng cáo một phần bản án sơ thẩm đề nghị sửa bản án sơ thẩm theo hướng buộc anh T, chị T1 trả phần diện tích còn lại 1.907,7 m² và bồi thường số tiền 17.850.000 đồng tiền mủ cao su bị mất thu nhập.
Tại phiên toà phúc thẩm:
Các đương sự vẫn giữ nguyên yêu cầu khởi kiện và yêu cầu kháng cáo.
Người đại diện hợp pháp của nguyên đơn trình bày: Bị đơn cho rằng cho nguyên đơn khai thác mủ cao su là cho khai thác nhờ, không có chứng cứ cho khai thác nhờ, nguyên đơn không biết bị đơn được cấp GCNQSDĐ.
Người đại diện hợp pháp của bị đơn trình bày: Nguyên đơn trình bày nguồn gốc phần đất tranh chấp là của cha mẹ cho nguyên đơn và bị đơn nhưng nguyên đơn không có chứng cứ để chứng minh. Thời điểm 1996 lương giáo viên rất khó khăn nên bà Đ1 mới cho bà N khai thác cao su để bà N nuôi con. Việc cấp GCNQSDĐ của anh T, chị T1 là đúng quy định của pháp luật, được pháp luật công nhận và bảo vệ nên bị đơn chuyển nhượng cho ông L là hợp pháp, do nguyên đơn tranh chấp với bị đơn đã làm ảnh hưởng đến quyền lợi ích hợp pháp của bị đơn, bị đơn phải đền cọc cho ông L. Do đó đề nghị Hội đồng xét xử chấp nhận yêu cầu kháng cáo của bị đơn.
Ý kiến của đại diện Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh:
Về tố tụng: Thẩm phán thụ lý vụ án, chuẩn bị xét xử và quyết định đưa vụ án ra xét xử đều đảm bảo đúng quy định về thời hạn, nội dung, thẩm quyền của Bộ luật Tố tụng dân sự; Hội đồng xét xử, Thư ký phiên tòa thực hiện đúng trình tự, thủ tục đối với phiên tòa dân sự. Những người tham gia tố tụng đều thực hiện đúng quyền và nghĩa vụ của mình, chấp hành tốt nội quy phiên tòa;
Về nội dung: Đề nghị Hội đồng xét xử không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của nguyên đơn và bị đơn; giữ nguyên bản án sơ thẩm.
NHẬN ĐỊNH CỦA TÒA ÁN:
Căn cứ vào các chứng cứ, tài liệu có trong hồ sơ vụ án được xem xét tại phiên tòa, kết quả tranh tụng tại phiên tòa, ý kiến của đại diện Viện kiểm sát, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Về thủ tục tố tụng: ông Đặng Văn L có đơn xin vắng mặt. Người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn đã được triệu tập hợp lệ đến lần thứ 2 nhưng vắng mặt không có lý do. Căn cứ các Điều 227, 228 của Bộ luật Tố tụng dân sự Tòa án tiến hành xét xử vắng mặt ông L và người bảo vệ quyền và lợi ích hợp pháp của bị đơn.
[2] Về nội dung giải quyết vụ án: Bà Nguyễn Thị N yêu cầu anh T, chị T1 trả lại cho bà phần đất diện tích 4.684,3m² thuộc một phần thửa 176, tờ bản đồ số 21, tọa lạc tại ấp A, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Yêu cầu anh T, chị T1 bồi thường mất thu nhập từ ngày 02-5-2023 cho đến khi xét xử mỗi tháng 1.700.000 đồng, trừ 4 tháng không khai thác, số tiền yêu cầu bồi thường 17.850.000 đồng. Anh T5, chị T1 không đồng ý yêu cầu khởi kiện của bà N và có yêu cầu phản tố yêu cầu bà N bồi thường cho vợ chồng anh T5 số tiền 300.000.000 đồng mà anh T5 bị phạt cọc và trả lãi suất 10%/năm từ ngày 15-5-2024 cho đến khi thanh toán xong số tiền 300.000.000 đồng.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của bà N; anh T5 chị T1 thấy rằng:
[3.1] Đối với yêu cầu kháng cáo của bà N yêu cầu anh T5, chị T1 tiếp tục trả phần đất diện tích 1.907,7 m² và kháng cáo của anh T5, chị T1 đề nghị hủy một phần bản án sơ thẩm về việc chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà N, buộc anh T5, chị T1 trả cho bà N diện tích 2.776,6m² đất thuộc 01 phần thửa 176, tờ bản đồ 21 tại ấp A, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh và cây cao su trên đất thấy rằng:
Về nguồn gốc phần đất tranh chấp: các bên không thống nhất về nguồn gốc đất. Bà N cho rằng nguồn gốc đất là của ba mẹ bà là cụ Nguyễn Văn T6 và cụ Nguyễn Thị H khai phá. Anh T5 cho rằng nguồn gốc đất là của ba mẹ anh T5 (con của cụ T6 và cụ H) là ông Nguyễn Văn S và bà Nguyễn Thị Đ1 khai phá. Qua lấy lời khai của bà N1, ông N2 và L1 là những người con của cụ T6 và cụ H đều xác định phần đất tranh chấp là của cụ T6 và cụ H đến năm 1976 thì giao lại cho vợ chồng bà Đ1 và ông S canh tác.
Ông S và bà Đ1 quản lý sử dụng đến năm 2007 thì giao lại cho bà N quản lý, sử dụng trồng cao su và khai thác trên diện tích đo đạc thực tế là 2.776,6m² đến khi phát sinh tranh chấp. Phần diện tích còn lại năm 2023 anh T5 phá cao su trồng tre.
Căn cứ vào hồ sơ cấp GCNQSDĐ thì suốt quá trình các bên sử dụng đất đều không tiến hành đăng ký kê khai cấp GCNQSDĐ. Năm 2016 anh T5 cùng vợ là chị T1 tiến hành kê khai và được cấp GCNQSDĐ toàn bộ thửa 176, tờ bản đồ số 21, diện tích 9.641,7m² trong đó có phần diện tích bà N đang quản lý sử dụng.
Bà N cho rằng năm 2002, sau khi cụ T6 chết thì mẹ bà là cụ H có chia đất cho các con, trong đó chia phần đất thửa 176 cho bà và bà Đ1. Việc chia đất không có văn bản gì thể hiện tuy nhiên các anh em trong gia đình đều xác thực sự việc trên, cùng thời điểm trên thì các anh em của bà N, bà Đ1 cũng được cụ H chia đất ở những nơi khác. Từ cơ sở cụ H chia đất, bà Đ1 và bà N thống nhất trồng cao su. Khi trồng xong bà Đ1 giao cho bà N một phần đất thuộc thửa 176. Quá trình giải quyết vụ án anh T5 không thừa nhận và cho rằng việc giao đất cho bà N sử dụng là do thấy bà N hoàn cảnh khó khăn. Tuy nhiên bà N là giáo viên, có thu nhập ổn định, chồng bà N làm nghề xây dựng, chỉ có một người con nên lời trình bày của đại diện anh T5 là không có căn cứ và không phù hợp thực tế.
Tại biên bản hòa giải ngày 18/5/2023 của UBND xã B, anh T5 có trình bày “...theo nguyện vọng của mẹ tôi là bà Nguyễn Thị Đ1 đồng ý chia cho bà N là 2000m²...”. Như vậy có căn cứ xác định trước khi mất bà Đ1 đã đồng ý giao phần đất có cây cao su cho bà N và thực tế bà N đã quản lý và khai thác từ năm 2007 cho đến nay. Do đó có căn cứ xác định bà N và bà Đ1 được cho chung thửa 176 nhưng phần mỗi người được cho diện tích cụ thể bao nhiêu thì không có văn bản nào thể hiện. Tuy nhiên, bà N cũng thừa nhận năm 2007 khi bà Đ1 kêu bà về để giao đất thì chỉ giao cho bà phần đất hiện đang trồng cao su, phần diện tích đất còn lại bà Đ1 vẫn quản lý, sử dụng. Sau khi ông S, bà Đ1 chết thì anh T5 tiếp tục quản lý, sử dụng cho đến nay nhưng bà N vẫn không có ý kiến gì. Do đó cấp sơ thẩm đã căn cứ vào sự thống nhất của các bên đã chia đất, diện tích thực tế bà N quản lý sử dụng để buộc anh T5, chị T1 trả lại cho bà N diện tích 2.776,6m² là có căn cứ và phù hợp quy định pháp luật nên kháng cáo của anh T5, chị T1 đề nghị không chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà N là không có căn cứ và yêu cầu kháng cáo của bà N yêu cầu anh T5, chị T1 tiếp tục trả phần diện tích còn lại 1.907,7 m² không có cơ sở chấp nhận.
[3.2] Xét yêu cầu kháng cáo của bà N yêu cầu bồi thường 17.850.000 đồng tiền cạo mủ cao su thấy rằng:
Hàng tháng bà N đều khai thác mủ cao su trên phần đất tranh chấp, đến tháng 5-2023 phát sinh tranh chấp giữa bà và anh T5; anh T5 ngăn cản không cho bà N cạo mủ cao su gây thiệt hại cho bà. Bà N yêu cầu anh T5 bồi thường thiệt hại mất thu nhập mủ cao su 10,5 tháng, mỗi tháng 1.700.0000 đồng, tổng số tiền 17.850.000 đồng là có cơ sở chấp nhận.
Theo Biên bản xác minh giá mủ cao su ngày 07-6-2024 (BL125) 01 cây cho mủ khoảng 0,1kg mủ nước/ngày. Có 273 cây nhưng chỉ thu hoạch 225 cây nên cho mủ khoảng 22,5kg mủ nước/ngày, quy ra mủ khô 7,5kg (03kg mủ nước được 01 kg mủ khô) x 25.500 đồng/kg mủ khô = 191.250 đồng/ngày, một tháng thu hoạch 15 ngày 191.250 đồng x 15 ngày = 2.868.750 đồng/tháng x 10,5 tháng = 30.121.875 đồng.
Bà N chỉ yêu cầu vợ chồng anh T5, chị T1 bồi thường mỗi tháng 1.700.000 đồng x 10,5 tháng = 17.850.000 đồng nên Hội đồng xác định số tiền bồi thường bà N được chấp nhận là 17.850.000 đồng. Anh T5, chị T1 có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền 17.850.000 đồng.
[3] Xét yêu cầu kháng cáo của anh T5 chị T1, buộc bà N trả cho anh T5, chị T1 số tiền phạt cọc là 300.000.000 đồng và tiền lãi là 10%/năm từ ngày 15/5/2024 cho đến khi trả hết nợ.
Như phân tích trên nguồn gốc phần đất tranh chấp là của là cụ Nguyễn Văn T6 và Nguyễn Thị H khai phá. Bà N là người quản lý và sử dụng từ năm 2007. Tại thời điểm vợ chồng anh T5 chị T1 ký hợp đồng đặt cọc với anh L ngày 01/3/2023 thì bà N vẫn đang quản lý, sử dụng một phần đất tranh chấp. Vợ chồng anh T5 chưa giải quyết dứt điểm với bà N và thực tế chưa quản lý toàn bộ thửa đất nhưng lại ký hợp đồng nhận cọc 300.000.000 đồng để chuyển nhượng toàn bộ thửa 176 cho ông L, cam kết đất không có tranh chấp và tự thỏa thuận thời hạn để ký hợp đồng chuyển nhượng quyền sử dụng đất là do lỗi của vợ chồng anh T5, chị T1. Do đó, anh T5 và chị T1 yêu cầu bà N bồi thường thiệt hại số tiền 300.000.000 đồng và tiền lãi là không có căn cứ chấp nhận.
[4] Từ những phân tích trên, có căn cứ chấp nhận 01 phần yêu cầu kháng cáo của bà N, không có căn cứ chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh T5, chị T1.
Kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích 2.776,6m² đất thuộc một phần thửa 176, tờ bản đồ số 1, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh ra khỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH00695 ngày 22/11/2016 do anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 đứng tên để cấp lại cho bà N theo quyết định của bản án.
Các đương sự chịu án phí dân sự sơ thẩm và phúc phẩm theo quy định của pháp luật.
Bà N là người cao tuổi được miễn án phí. Bà N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
[5] Đề nghị của Viện kiểm sát nhân dân tỉnh Tây Ninh có căn cứ chấp nhận 01 phần.
Vì các lẽ trên;
QUYẾT ĐỊNH:
Căn cứ khoản 2 Điều 308; Điều 309 Bộ luật Tố tụng dân sự;
- Chấp nhận 01 phần kháng cáo của bà Nguyễn Thị N.
- Không chấp nhận yêu cầu kháng cáo của anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1.
- Sửa Bản án dân sự sơ thẩm số 106/2024/DS-ST ngày 22 tháng 7 năm 2024, của Toà án nhân dân Huyện Dương Châu, tỉnh Tây Ninh.
Căn cứ: Các Điều 179, 180, 584, 468 của Bộ luật Dân sự; Điều 5, 166 Luật đất đai; Điều 26; điểm a, khoản 2 Điều 27 Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH ngày 30 tháng 12 năm 2016 phí Tòa án quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án. Tuyên xử:
- Chấp nhận một phần yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 về tranh chấp quyền sử dụng đất.
Buộc anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 trả cho bà Nguyễn Thị N diện tích 2.776,6m² đất (đất cây lâu năm) thuộc một phần thửa 176, tờ bản đồ số 1, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh. Bà N được quyền sử dụng diện tích 2.776,6m² và cây cao su trên đất.
Phần đất có tứ cận:
- Hướng Đông giáp một phần thửa 176, dài 31,16m; 3,09m
- Hướng Tây giáp một 76, dài 29,90m
- Hướng Nam giáp một phần thửa 176, dài 1,26m; 48,52m; 46,66m
- Hướng Bắc giáp một phần thửa 177 dài 1,09m; 2,87m; 37,64m; giáp một phần thửa 178 dài 51,27m. (có sơ đồ kèm theo)
- Không chấp nhận yêu cầu của bà Nguyễn Thị N yêu cầu anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 trả diện tích 1.907,7m² đất thuộc một phần thửa 176, tờ bản đồ số 21, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh.
Kiến nghị các cơ quan nhà nước có thẩm quyền điều chỉnh diện tích 2.776,6m² đất (CLN) thuộc một phần thửa 176, tờ bản đồ số 1, xã B, Huyện D, tỉnh Tây Ninh ra khỏi giấy chứng nhận quyền sử dụng đất số vào sổ cấp GCN: CH00695 ngày 22/11/2016 do anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 đứng tên để cấp lại cho bà N theo quyết định của bản án.
Đương sự đến cơ quan có thẩm quyền làm thủ tục cấp giấy chứng nhận quyền sử dụng đất phù hợp theo quyết định của bản án.
- Chấp nhận yêu cầu khởi kiện của bà Nguyễn Thị N đối với anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 về việc yêu cầu bồi thường tiền cao su mất thu nhập là 17.850.000 đồng.
Buộc anh T chị T1 có nghĩa vụ trả cho bà N số tiền 17.850.000 đồng tiền mủ cao su bị mất thu nhập.
Kể từ ngày người được thi hành án có đơn yêu cầu thi hành án, nếu người phải thi hành án không thi hành số tiền trên, thì hàng người phải thi hành án còn phải trả cho người được thi hành án số tiền lãi đối với số tiền chậm trả tương ứng với thời gian chậm trả theo quy định tại khoản 2 Điều 468 của Bộ luật Dân sự năm 2015.
- Không chấp nhận yêu cầu phản tố của anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 đối với bà N về việc bồi thường số tiền 335.582.000 đồng, trong đó số tiền yêu cầu bồi thường là 300.000.000 đồng, số tiền lãi là 35.582.000 đồng.
- Về án phí dân sự sơ thẩm:
- Bà N được miễn án phí dân sự sơ thẩm.
- Anh T5, chị T1 phải chịu 300.000 đồng tiền án phí đối với yêu cầu tranh chấp quyền sử dụng đất; 16.779.500 đồng đối với yêu cầu phản tố không được chấp nhận và 892.500 đồng đối vối yêu cầu bồi thường tiền mủ cao su bị mất thu nhập (tổng cộng 17.972.000 đồng). Anh T5, chị T1 đã nộp tạm ứng án phí số tiền 7.500.000 đồng theo Biên lai thu tiền tạm ứng án phí, lệ phí Toà án số 0007760 ngày 24-5-2024 của Chi cục Thi hành án Huyện Dương Minh Châu. Anh T5, chị T1 còn phải nộp thêm số tiền án phí là 10.472.000 đồng.
- Về chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản: Bà N nộp 28.956.000 00 đồng và đã chi xong.
Bà Nguyễn Thị N chịu 17.100.000 đồng (đã nộp và chi phí xong). Anh Nguyễn Minh T, chị Lê Thị T1 chịu 11.856.000 đồng, anh T chị T1 có nghĩa vụ hoàn trả lại cho bà N tiền chi phí đo đạc, xem xét thẩm định và định giá tài sản số tiền 11.856.000 đồng.
- Về án phí dân sự phúc thẩm:
Bà N không phải chịu án phí dân sự phúc thẩm.
Anh T5, chị T1 phải chịu 300.000 đồng án phí dân sự phúc thẩm, khấu trừ vào số tiền tạm ứng án phí anh T5, chị T1 đã nộp là 300.000 đồng theo biên lai thu số: 0007977 ngày 07/8/2024 của Chi cục Thi hành án dân sự Huyện Dương Minh Châu, tỉnh Tây Ninh, ghi nhận anh T5, chị T1 đã nộp xong.
Trường hợp bản án được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các điều 6, 7 và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
Bản án phúc thẩm có hiệu lực pháp luật kể từ ngày tuyên án.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ PHÚC THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA đã ký Dương Thúy Hằng |
Bản án số 563/2024/DS-PT ngày 25/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH về tranh chấp quyền sử dụng đất
- Số bản án: 563/2024/DS-PT
- Quan hệ pháp luật: Tranh chấp quyền sử dụng đất
- Cấp xét xử: Phúc thẩm
- Ngày ban hành: 25/11/2024
- Loại vụ/việc: Dân sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN TỈNH TÂY NINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: N yêu cầu T trả đất
