|
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH |
CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM Độc lập – Tự do – Hạnh phúc |
Bản án số: 563/2024/HS-ST
Ngày: 12 - 11- 2024.
NHÂN DANH
NƯỚC CỘNG HÒA XÃ HỘI CHỦ NGHĨA VIỆT NAM
TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Thành phần Hội đồng xét xử sơ thẩm gồm có:
Thẩm phán – Chủ tọa phiên tòa: Bà Lương Thị Thu.
Các Hội thẩm nhân dân:
- Ông Võ Văn Lợi
- Ông Cao Quốc Hưng
- Thư ký phiên tòa: Bà Phan Thị Trang – Thư ký Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh.
- Đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tham gia phiên tòa: Bà Lê Thị Loan – Kiểm sát viên.
Ngày 12 tháng 11 năm 2024, tại trụ sở Tòa án nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh xét xử sơ thẩm công khai vụ án hình sự thụ lý số: 529/2024/HSST ngày 15 tháng 10 năm 2024 theo Quyết định đưa vụ án ra xét xử số: 615/2024/QĐXXST-HS ngày 30 tháng 10 năm 2024, đối với bị cáo:
Nguyễn Thụy Thùy A, tên gọi khác: T, sinh năm: 2004, tại Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi đăng ký hộ khẩu thường trú: Số A Đường C, Khu phố H, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Nơi cư trú: Số A Đường C, Khu phố H, phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh; Quốc tịch: Việt Nam; Dân tộc: Kinh; Tôn giáo: Không; Trình độ học vấn: 7/12; Nghề nghiệp: Không; Con ông Nguyễn Trần Anh T1 (sinh năm 1976) và bà Hứa Thị Minh H (sinh năm 1984); Bị cáo là con thứ hai trong gia đình có 03 anh chị em; Chồng, con: Chưa có; Tiền án, tiền sự: Không; Nhân thân: Không.
Bị cáo bị tạm giam từ ngày 23/7/2024 đến nay, có mặt tại phiên tòa.
- Bị hại: Anh Phạm Duy H1, sinh năm 1993;
Địa chỉ: Tổ dân phố T, phường X, quận B, Thành phố Hà Nội.
- Người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án: Anh Nguyễn Đắc T2, sinh năm 1990
Địa chỉ: I N, Phường B, quận B, Thành phố Hồ Chí Minh.
NỘI DUNG VỤ ÁN:
Theo các tài liệu có trong hồ sơ vụ án và diễn biến tại phiên toà, nội dung vụ án được tóm tắt như sau:
Khoảng 11 giờ 30 phút ngày 22/01/2024, anh Phạm Duy H1 từ Hà Nội vào Thành phố Hồ Chí Minh và hẹn Nguyễn Thụy Thùy A quen nhau qua mạng xã hội Facebook trước đó và rủ A đi ăn uống. Khoảng 20 giờ 30 phút cùng ngày, anh H1 và Thùy A đến quán H2 có địa chỉ phường B, Thành phố T để ăn uống đến khoảng 23 giờ 00 phút sau khi ăn uống xong thì cả hai cùng đến Khách sạn “ABC” địa chỉ số C, đường D, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh thuê phòng số 21 để nghỉ ngơi. Đến khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, Thùy A thấy anh H1 đã ngủ nên nảy sinh ý định trộm cắp tài sản, A lén lút lấy 01 máy tính bảng hiệu Xiaomi pad 6 pro màu đen của anh H1 đang để trên bàn cạnh giường trong phòng rồi đi khỏi khách sạn. Khoảng 09 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, anh H1 thức dậy không thấy A và 01 máy tính bảng Xiaomi pad 6 pro màu đen nên gọi cho A nhưng A không nghe máy. Do bận công việc nên anh H1 về lại Hà Nội để đi làm và đến ngày 09/5/2024 khi vào Thành phố Hồ Chí Minh giải quyết công việc, anh H1 đã đến Công an phường B trình báo vụ, việc trên. Ngày 09/5/2024, qua xác minh Công an phường B đã mời Nguyễn Thụy Thùy A về làm việc.
Qua làm việc Nguyễn Thụy Thùy A khai nhận sau khi lấy 01 máy tính bảng Xiaomi pad 6 pro màu đen thì A đi khỏi khách sạn, do máy tính bảng không cài đặt mật khẩu nên A đã xóa hết dữ liệu trong máy và đem đi bán tại cửa hàng tên B có địa chỉ số I, N, phường B, Quận B, Thành phố Hồ Chí Minh (sau này cửa hàng đổi tên thành “DKT STORE”) với giá 2.500.000 đồng và tiêu xài cá nhân hết số tiền trên. Sau khi anh H1 phát hiện bị mất tài sản có gọi điện nhắn tin cho A nhưng A không trả lời và bỏ nhà đi làm tại nhiều khách sạn tại Quận B (khách sạn P, khách sạn L; khách sạn C) cho đến tháng 05 năm 2024 thì bị Công An phường B, thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh mời làm việc liên quan đến vụ việc trên.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thụy Thùy A khai nhận toàn bộ hành vi phạm tội như trên.
Đối với Hứa Văn Nguyên V (nhân viên của Cửa hàng điện thoại “DKT STORE” do Nguyễn Đắc T2 làm chủ) khai nhận khi mua máy tính bảng có hỏi A về nguồn gốc thì A nói là máy của A, không cài mật khẩu và khi kiểm tra máy không có thông tin gì nên tin tưởng mua lại. V không biết tài sản là do trộm cắp mà có. Anh Nguyễn Đức T3 – Chủ cửa hàng điện thoại “DKT STORE” đồng ý giao nộp lại máy tính bảng trên cho cơ quan điều tra và không có yêu cầu gì thêm.
Tại Cơ quan Cảnh sát điều tra, Nguyễn Thụy Thùy A khai nhận toàn bộ hành vi trộm cắp tài sản như trên.
Bản Kết luận định giá tài sản số 56-KV1/KLGĐ-HDĐGTS ngày 03/6/2024 của Hội đồng định giá tài sản trong Tố tụng hình sự thành phố T kết luận: 01 máy tính bảng xiaomi Pad 6 Pro, bộ xử lý 3,2 GHZ, đời máy 23046RP50C, bộ nhớ trong 256GB có trị giá 7.263.000 đồng (bảy triệu hai trăm sáu mươi ba ngàn đồng).
*Vật chứng thu giữ:
01 (một) máy tính bảng hiệu Xiaomi Pad 6 pro màu đen, Ram 8.0 GB, bộ xử lý 3.2 GHZ, đời máy 2304RP50C, bộ nhớ trong 256GB. (thu hồi tại cửa hàng “DKT store” hệ thống thu mua điện thoại cũ địa chỉ số I N, phường B, Quận B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Nguyễn Đắc T2 làm chủ của hàng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 máy tính bảng trên cho anh Phạm Duy H1 là chủ sở hữu.
Trách nhiệm dân sự:
Anh Nguyễn Đắc T2 – Chủ cửa hàng điện thoại “DKT STORE” đồng ý giao nộp lại máy tính bảng trên cho cơ quan điều tra và không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
Anh Phạm Duy H1 đã nhận 01 máy tính bảng Xiaomi Pad 6 pro màu đen, Ram 8.0 GB, bộ xử lý 3.2 GHZ, đời máy 2304RP50C, bộ nhớ trong 256GB và không có yêu cầu gì khác.
Tại Cáo trạng số: 492/CT-VKSTPTĐ ngày 10 tháng 10 năm 2024 của Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức, Thành phố Hồ Chí Minh đã truy tố Nguyễn Thụy Thùy A về tội “Trộm cắp tài sản” theo quy định tại khoản 1 Điều 173 Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017.
Tại phiên tòa, đại diện Viện kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức vẫn giữ quan điểm truy tố đối với bị cáo về tội danh, điều luật áp dụng như nội dung bản cáo trạng và đề nghị Hội đồng xét xử:
- Áp dụng khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự, xử phạt bị cáo Nguyễn Thụy T4 An 09 tháng đến 01 năm tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2024.
- Về xử lý vật chứng: Đề nghị xử lý theo quy định của pháp luật.
Tại phiên tòa, bị cáo thừa nhận toàn bộ hành vi theo cáo trạng của Viện kiểm sát và luận tội của Kiểm sát viên, đồng ý với kết luận định giá tài sản và không tranh luận.
Lời nói sau cùng: Bị cáo đã biết lỗi của mình, rất mong Hội đồng xét xử xem xét giảm nhẹ hình phạt.
NHẬN ĐỊNH CỦA TOÀ ÁN:
Trên cơ sở nội dung vụ án, căn cứ vào các tài liệu trong hồ sơ vụ án đã được tranh tụng tại phiên tòa, Hội đồng xét xử nhận định như sau:
[1] Xét tại phiên tòa, bị cáo không có ý kiến hoặc khiếu nại gì về hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng. Do đó, các hành vi, quyết định tố tụng của Cơ quan tiến hành tố tụng, người tiến hành tố tụng đã thực hiện trong vụ án này đều đúng pháp luật.
[2] Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo đã thừa nhận toàn bộ hành vi của mình, lời khai của bị cáo phù hợp với biên bản bắt bị can, kết luận giám định, vật chứng thu giữ... cùng các tài liệu, chứng cứ mà Cơ quan điều tra đã thu thập được trong quá trình điều tra về hành vi, thời gian, không gian, địa điểm xảy ra tội phạm, phù hợp với cáo trạng của Viện kiểm sát nên có cơ sở xác định: Khoảng 01 giờ 00 phút ngày 23/01/2024, tại phòng số 21 Khách sạn “ABC” địa chỉ số C, đường D, phường B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh, Nguyễn Thụy Thùy A đã thực hiện hành vi lén lút chiếm đoạt 01 (một) máy tính bảng hiệu Xiaomi Pad 6 pro màu đen, Ram 8.0 GB, bộ xử lý 3.2 GHZ, đời máy 2304RP50C, bộ nhớ trong 256GB của anh Phạm Duy H1 có trị giá 7.263.000 đồng.
Hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, xâm hại trực tiếp đến quyền sở hữu hợp pháp về tài sản của người khác được pháp luật bảo vệ, làm mất an ninh trật tự tại địa phương, gây ảnh hưởng xấu đến an toàn xã hội. Bị cáo có khả năng nhận thức và điều khiển hành vi, đủ tuổi chịu trách nhiệm hình sự, biết rõ hành vi của mình là vi phạm pháp luật nhưng vẫn vi phạm, bị cáo đã cố ý, lén lút chiếm đoạt tài sản có giá trị 7.263.000 đồng của bị hại. Hành vi của bị cáo thỏa mãn đầy đủ các yếu tố cấu thành tội “Trộm cắp tài sản”, tội phạm và hình phạt được quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự. Do đó cáo trạng của Viện kiểm sát truy tố bị cáo là có căn cứ, đúng người, đúng tội, đúng pháp luật.
[3] Về tình tiết định khung hình phạt:
Tài sản bị cáo chiếm đoạt có giá trị 7.263.000 đồng nên bị đưa ra xét xử theo quy định tại khoản 1 điều 173 Bộ luật Hình sự.
[4] Về các tình tiết tăng nặng, giảm nhẹ trách nhiệm hình sự và hình phạt đối với bị cáo:
Về tình tiết tăng nặng: Không có.
Về tình tiết giảm nhẹ: Xét trong quá trình điều tra và tại phiên tòa, bị cáo thành khẩn khai báo, ăn năn hối cải, phạm tội lần đầu và thuộc trường hợp ít nghiêm trọng, được áp dụng tình tiết giảm nhẹ quy định tại điểm i, s khoản 1 Điều 51 Bộ luật Hình sự.
Hội đồng xét xử xét thấy hành vi của bị cáo là nguy hiểm cho xã hội, nên cần xử phạt các bị cáo với mức án nghiêm khắc, tương xứng với tính chất, mức độ hành vi phạm tội, tiếp tục cách ly các bị cáo ra khỏi đời sống xã hội thêm một thời gian mới có tác dụng răn đe, giáo dục và phòng ngừa chung.
[5] Về xử lý vật chứng: Đối với 01 (một) máy tính bảng hiệu Xiaomi Pad 6 pro màu đen, Ram 8.0 GB, bộ xử lý 3.2 GHZ, đời máy 2304RP50C, bộ nhớ trong 256GB. (thu hồi tại cửa hàng “DKT store” hệ thống thu mua điện thoại cũ địa chỉ số I N, phường B, Quận B, Thành phố T, Thành phố Hồ Chí Minh do anh Nguyễn Đắc T2 làm chủ của hàng). Cơ quan Cảnh sát điều tra Công an Thành phố T đã ra Quyết định xử lý vật chứng trả 01 máy tính bảng trên cho anh Phạm Duy H1 là chủ sở hữu.
[6] Xét đề nghị của đại diện Viện Kiểm sát nhân dân thành phố Thủ Đức tại phiên tòa là phù hợp tính chất, mức độ phạm tội, nhân thân và các tình tiết giảm nhẹ trách nhiệm hình sự của bị cáo, phù hợp quy định của pháp luật và nhận định của Hội đồng xét xử nên được chấp nhận.
[7] Về trách nhiệm dân sự:
Anh Phạm Duy H1 đã nhận 01 máy tính bảng Xiaomi Pad 6 pro màu đen, Ram 8.0 GB, bộ xử lý 3.2 GHZ, đời máy 2304RP50C, bộ nhớ trong 256GB và không có yêu cầu gì khác.
Anh Nguyễn Đắc T2 – Chủ cửa hàng điện thoại “DKT STORE” không có yêu cầu gì đối với bị cáo.
[8] Về án phí: Bị cáo phải chịu án phí hình sự sơ thẩm theo quy định.
[9] Về quyền kháng cáo: Bị cáo, bị hại, người có quyền lợi, nghĩa vụ liên quan đến vụ án có quyền kháng cáo bản án theo quy định.
Vì các lẽ trên,
QUYẾT ĐỊNH:
1. Về tội danh: Tuyên bố bị cáo Nguyễn Thụy Thùy A phạm tội “Trộm cắp tài sản”.
2. Về hình phạt: Căn cứ khoản 1 Điều 173; điểm i, s khoản 1 Điều 51, Điều 38 của Bộ luật Hình sự năm 2015 sửa đổi, bổ sung năm 2017:
Xử phạt bị cáo Nguyễn Thụy Thùy A 09 (chín) tháng tù. Thời hạn tù tính từ ngày 23/7/2024.
3. Về án phí: Căn cứ khoản 2 Điều 135; khoản 2 Điều 136 của Bộ luật Tố tụng hình sự; Nghị quyết số 326/2016/UBTVQH14 ngày 30/12/2016 của Ủy ban Thường vụ Quốc hội quy định về mức thu, miễn, giảm, thu, nộp, quản lý và sử dụng án phí và lệ phí Tòa án:
Buộc bị cáo nộp 200.000 (hai trăm nghìn) đồng án phí hình sự sơ thẩm.
5. Về quyền kháng cáo: Căn cứ Điều 331; Điều 333 của Bộ luật Tố tụng hình sự,
- Bị cáo có mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo bản án trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày tuyên án.
- Bị hại vắng mặt tại phiên tòa có quyền kháng cáo trong thời hạn 15 ngày, kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật.
- Người có quyền lợi nghĩa vụ liên quan đến vụ án vắng mặt tại phiên tòa được quyền kháng cáo phần bản án có liên quan đến quyền lợi, nghĩa vụ của mình trong thời hạn 15 ngày kể từ ngày nhận được bản án hoặc ngày bản án được niêm yết theo quy định của pháp luật
Trường hợp bản án, quyết định được thi hành theo quy định tại Điều 2 Luật Thi hành án dân sự thì người được thi hành án dân sự, người phải thi hành án dân sự có quyền thỏa thuận thi hành án, quyền yêu cầu thi hành án, tự nguyện thi hành án hoặc bị cưỡng chế thi hành án theo quy định tại các Điều 6, 7, 7a và 9 Luật Thi hành án dân sự; thời hiệu thi hành án được thực hiện theo quy định tại Điều 30 Luật Thi hành án dân sự.
|
Nơi nhận:
|
TM. HỘI ĐỒNG XÉT XỬ SƠ THẨM THẨM PHÁN – CHỦ TỌA PHIÊN TÒA Lương Thị Thu |
Bản án số 563/2024/HS-ST ngày 12/11/2024 của TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH về trộm cắp tài sản (criminal case)
- Số bản án: 563/2024/HS-ST
- Quan hệ pháp luật: Trộm cắp tài sản (Criminal Case)
- Cấp xét xử: Sơ thẩm
- Ngày ban hành: 12/11/2024
- Loại vụ/việc: Hình sự
- Tòa án xét xử: TÒA ÁN NHÂN DÂN THÀNH PHỐ THỦ ĐỨC – THÀNH PHỐ HỒ CHÍ MINH
- Áp dụng án lệ: Đang cập nhật
- Đính chính: Đang cập nhật
- Thông tin về vụ/việc: NGUYỄN THỤY THÙY A-TRỘM CẮP TÀI SẢN
